Hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả
pháp lý của nó
Tháng Bảy 11, 2009 in Pháp Luật Dân Sự, Pháp Luật Thương Mại
Xem bài liên quan: Thực hiện hợp đồng khi các bên thỏa thuận không đầy đủ
Điều 410 BLDS năm 2005 viện dẫn việc áp dụng các quy định từ Điều 127 đến Điều
138 vì hợp đồng là một loại giao dịch dân sự, do đó, cần áp dụng những quy định về
giao dịch dân sự vô hiệu đối với hợp đồng vô hiệu.
Minh họa
Theo quy định tại Điều 127 BLDS, giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện
được quy định tại Điều 122 BLDS thì vô hiệu. Về lý thuyết, có thể phân chia thành hai
loại vô hiệu của giao dịch: đó là giao dịch đương nhiên vô hiệu (hay còn gọi là giao dịch
vô hiệu tuyệt đối) và giao dịch dân sự vô hiệu theo đề nghị của người có quyền, lợi ích
liên quan ( hay còn gọi là giao dịch vô hiệu tương đối). Nếu không có đề nghị hoặc có đề
nghị nhưng không được Toà án chấp nhận thì giao dịch vẫn có hiệu lực pháp luật. BLDS
quy định 7 trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu. Đây chỉ là những trường hợp vô hiệu nói
chung. Ngoài ra, Điều 411 quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không
thể thực hiện được, cụ thể :
Trong trường hợp ngay từ thời điểm ký kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện
được vì lý do khách quan thì hợp đồng này bị vô hiệu.
Trong trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng
có đối tượng không thể thực hiện được, nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên
kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia
biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.Quy định này
cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng
không thể thực hiện được, nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý.
Đồng thời, BLDS năm 2005 giải quyết mối quan hệ giữa vô hiệu của hợp đồng chính và
vô hiệu của hợp đồng phụ, trong đó sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp
đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thoả thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng
chính. Quy định này không áp dụng đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự. Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường
hợp các bên thoả thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.
bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ hoặc bên có tài sản bị cầm giữ hoàn thành nghĩa vụ.
1.1.14. Về phạt vi phạm đối với vi phạm hợp đồng
BLDS năm 2005 không quy định phạt vi phạm là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự như quy định của BLDS năm 1995, mà quy định đó là một trong các nội dung của
hợp đồng, nếu các bên có thoả thuận và tùy từng loại hợp đồng (khoản 7 Điều 402).
Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng về việc bên vi phạm nghĩa vụ
phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận.
Về quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, BLDS quy định: các bên có thể
thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải
bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại; nếu
không có thoả thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt
hại. Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi
phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm.
1.1.15. Sửa đổi hợp đồng
Xuất phát từ nguyên tắc tự do ý chí trong việc giao kết hợp đồng, các bên có thể thoả
thuận sửa đổi hợp đồng và giải quyết hậu quả của việc sửa đổi, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.
Trong trường hợp hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng, chứng thực, đăng
ký hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân theo hình thức đó.
1.1.16. Chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
Hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
- Hợp đồng đã được hoàn thành:
Các bên đã thực hiện xong các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, ví dụ, bên bán đã giao tài
sản cho bên mua, bên mua đã trả đủ tiền cho bên bán.
- Theo thoả thuận của các bên.
Ví dụ, A cho B vay tiền. Nếu A thoả thuận với B xoá khoản nợ đó cho B thì hợp đồng
vay tiền giữa A và B chấm dứt.
- Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc chủ thể khác chấm dứt mà hợp đồng
phải do chính cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể đó thực hiện.
Đây là những loại hợp đồng bắt buộc người có nghĩa vụ phải tự họ thực hiện, không được
thời điểm bên có quyền bị vi phạm biết hoặc phải biết quyền của mình bị vi phạm; nếu
tính thời điểm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể
khác bị xâm phạm, thì quyền lợi của bên có quyền trong nhiều trường hợp không được
bảo vệ tốt, vì họ có thể không biết quyền của họ đã bị vi phạm. BLDS năm 2005 không
thể hiện ý kiến này, mà giải quyết mục tiêu tương tự bằng cách tính thời hạn của thời hiệu
khởi kiện, cụ thể: nếu người có quyền khởi kiện gặp trở ngại khách quan, trong đó có
trường hợp không biết hoặc không thể biết quyền của mình bị xâm phạm, thì thời gian
này cũng không tính vào thời hạn của thời hiệu (đoạn 3 khoản 1 Điều 161 BLDS năm
2005).