ĐỀ BÀI TẬP NHÓM SỐ 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn về hậu quả pháp lý của hủy việc kết hôn trái pháp luật
Mục lục
A. Lời nói đầu
B. Nội dung
I. KHÁI QUÁT VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT VÀ HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
1. Kết hôn trái pháp luật
2. Hủy kết hôn trái pháp luật
II. HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
2.1. Hậu quả pháp lý về quan hệ nhân thân
2.2. Hậu quả pháp lý về việc chia tài sản
2.3. Hậu quả pháp lý về quan hệ giữa cha mẹ và con
III. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ KẾTT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
1. Những vụ việc thực tế và cách giải quyết của Tòa án
2. Những vướng mắc, bất cập còn tồn tại và hướng hoàn thiện vấn đề kết hôn trái pháp luật ở nước ta
C. Kết luận
1
A. Lời nói đầu
Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội luôn được các nhà triết học, xã hội học, luật học
nghiên cứu, là một hình thái đặc biệt của quan hệ con người, nó không chỉ phản ánh các giá trị của một chế
độ xã hội nhất định mà còn là kết quả chung thể hiện sự tiến bộ, văn minh của quốc gia đó. Hôn nhân là cơ
sở của gia đình , còn gia đình là tế bào của xã hội mà trong đó kết hợp chặt chẽ hài hòa lợi ích của mỗi công
dân, Nhà nước và xã hội.
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình trong đời sống xã hội, Đảng và Nhà nước ta
luôn luôn dành sự quan tâm to lớn đối với vấn đề hôn nhân và gia đình.
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, do ảnh hưởng của
phong tục tập quán lạc hậu, ảnh hưởng xấu của chế độ hôn nhân gia đình tư sản, do ý thức pháp luật của
quần chúng còn hạn chế, trình độ dân trí thấp, việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với quan hệ
hôn nhân và gia đình ở nhiều địa phương còn nhiều hạn chế....đã khiến cho việc kết hôn trái pháp luật vẫn
không ngừng tồn tại, đặc biệt là ở những vùng có dân trí thấp.
Vấn đề này là một hiện tượng nan giải, xảy ra khá phổ biến ở nước ta, là một vấn đề thực tế yêu
những việc mà hôn nhân phải tạo ra . . . thì đều liên quan đến các điều luật”. Vì vậy, hôn nhân phải tuân
theo các điều kiện mà các đạo luật quy định về vấn đề hôn nhân đặt ra. Hôn nhân không tuân thủ các điều
kiện đó thì đương nhiên nó đã không phù hợp với mối quan tâm chung của xã hội và vì vậy hôn nhân đó
được coi là trái pháp luật (hay còn gọi là hôn nhân vô hiệu). Sự tồn tại của những quan hệ hôn nhân đó
không những không đem lại những quyền lợi và lợi ích cho các cá nhân, cho xã hội mà nó còn xâm hại
nghiêm trọng đến những quyền lợi và lợi ích đó. Vì vậy cần có những biện pháp chế tài cần thiết đối với
những cá nhân đã xác lập hôn nhân trái pháp luật. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định căn cứ của
việc kết hôn trái pháp luật và biện pháp hủy hôn nhân trái pháp luật chính là nhằm thực hiện biện pháp chế
tài đó, bảo đảm kỷ cương xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp xử lý đối với những trường hợp kết hôn vi phạm điều kiện kết
hôn nhắm bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.
II. HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
Khi Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, những hậu quả pháp lý đương nhiên se xảy ra và cần giải quyết
là:
2.1. Hậu quả pháp lý về quan hệ nhân thân:
Về nguyên tắc, khi hôn nhân bị coi là trái pháp luật thì Nhà nước không thừa nhận hai người trong
quan hệ hôn nhân là vợ, chồng. Do đó, kể từ thời điểm các bên bắt đầu chung sống cho đến khi Tòa án hủy
việc kết hôn trái pháp luật thì hai người chưa từng phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng hợp pháp, nghĩa là
giữa hai bên không phát sinh về quyền và nghĩa vụ về nhân thân như vợ, chồng hợp pháp. Vì vậy, "khi việc
kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên nam, nữ phải chấm dứt quan hệ như vợ, chồng" (Khoản 1 Điều 17)
3
Kể từ ngày quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì hai người phải
chấm dứt cuộc sống chung trái pháp luật đó.
Như vậy, nếu trước khi Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, hai bên đã thực hiện các quyền và
nghĩa vụ về nhân thân như quan hệ giữa vợchồng với nhau,thì khi có quyết định của Tòa án về hủy việc kết
hôn trái pháp luật, các bên phải chấm dứt các quyền và nghĩa vụ về nhân thân với nhau. Tuy nhiên, trong
thực tế việc các bên thực sự chấm dứt quan hệ nhân thân với nhau sau khi bị hủy hôn nhân trái pháp luật rất
khó thực hiện. Bởi lẽ, quan hệ nhân thân giữa các bên là quan hệ tình cảm, là lợi ích về tinh thần. Việc Tòa
án quyết định họ phải chấm dứt cuộc sống chung không có nghĩa là họ chấm dứt luôn mối quan hệ tình
cảm( trừ trường hợp người bị lừa dối, cưỡng ép mà tự nguyện từ bỏ hôn nhân trái pháp luật). Vì vậy, rất
Như vậy, khi hai người còn chung sống, họ cùng nhau chăm sóc, nuôi dạy con chung. Khi quan hệ
giữa họ bị buộc phải chấm dứt , họ không thể cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng mọi quyền và nghĩa vụ
của họ đối với con chung vẫn được đảm bảo.
Việc hủy kết hôn trái pháp luật, vấn đề con chung được giải quyết như khi vợ chồng ly hôn là
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con. Vì vậy vấn đề cần đặt ra là giao con chưa thành niên cho ai
trực tiếp chăm sóc? người không được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng sẽ có những quyền và nghĩa vụ gì ?
Tòa án nhân dân phải căn cứ vào điều kiện thực tế của các bên đương sự và căn cứ vào các quy định pháp
luật để giải quyết cho hợp tình hợp lý. ( Căn cứ vào Điều 92, 93,và 94 Luật Hôn nhân gia đình):
Điều 92 luật hôn nhân và gia đình quy định:. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con
sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành
niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài
sản để tự nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
2. Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với
con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền
lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác.
Điều 93. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp
nuôi con.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện trong trường hợp người trực tiếp nuôi
con không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con và phải tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chín
tuổi trở lên.
Điều 94. Quyền thăm nom con sau khi ly hôn
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó
thực hiện quyền này.
5