Cơ sở lí luận và thực tiễn về Kinh tế hợp tác và hợp tác xã - Pdf 64

Cơ sở lí luận và thực tiễn về Kinh tế hợp tác và hợp tác xã
I. khái niệm, bản chất và các loại hình Kinh tế hợp tác và hợp tác
xã.
1.Kinh tế hợp tác .
1.1 Khái niệm, bản chất và vai trò của kinh tế hợp tác (KTHT).
Sự hợp tác trong lao động sản xuất của con người diễn ra từ rất sớm vì sự
hợp tác trong lao động sản xuất là bản tính xã hội của con người ( Các Mác)
thực tiễn cho thấy trong quá trình sản xuất con người buộc phải liên kết với
nhau để thực hiện những hoạt động mà từng người tách riêng ra không thể thực
hiện được hay thực hiện kém hiệu quả.
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất vật chất đầu tiên mà con người tiến
hành, sản xuất nông nghiệp diễn ra trên không gian rộng và chịu ảnh hưởng
rất lớn bởi các điều kiện khách quan, trong đó có nhiều tác động tự nhiên tiêu
cực như hạn hán, bão lụt chỉ có thể được hạn chế và khắc phục khi có sự
chung sức của nhiều người sản xuất. Sản xuất nông nghiệp còn mang tính
thời vụ nên trong nhiều trường hợp đòi hỏi sự tập trung sức lao động và công
cụ lao động để hoàn thành một số công việc trong khoảng thời gian nhất định.
Mặt khác, những người sản xuất nông nghiệp lại chủ yếu là các hộ nông dân
với nguồn lực rất có hạn. Do vậy khác với các ngành sản xuất khác, sản xuất
nông nghiệp luôn đòi hỏi sự liên kết, sự chung sức tự nguyện giữa những
người sản xuất để hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất. Tuy
nhiên trong nông nghiệp do điều kiện sản xuất cũng như nội dung, tính chất
của các hoạt động sản xuất kinh doanh rất đa dạng mà sự liên kết giữa những
người sản xuất cũng đa dạng và được thực hiện với những hình thức, quy mô
và nội dung khác nhau.
Trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau, do các hoạt động kinh tế có những
đặc điểm riêng mà kinh tế hợp tác có đặc điểm khác. Trong công nghiệp hợp tác
giữa những người lao động sản xuất có thể thực hiện trong mọi khâu của quá
trình sản xuất, từ đảm bảo các yếu tố đầu vào đến khâu trực tiếp sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm. Ngược lại trong nông nghiệp, đối tượng của sản xuất nông nghiệp
là những cơ thể sống chịu ảnh hưởng trực tiếp thường xuyên và rất mẫn cảm với

- Nguyên tắc quản lý dân chủ: Theo nguyên tắc này tổ chức và hoạt động
của các đơn vị kinh tế hợp tác phải thực sự dân chủ. Tập thể thành viên của các
tổ chức hợp tác phải là người quyết định mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động
của đơn vị hợp tác mà họ tham gia.
- Nguyên tắc giúp đỡ của Nhà nước: Để hình thành và phát triển kinh tế
hợp tác thì không thể thiếu sự giúp đỡ của Nhà nước về tài chính, kỹ thuật…
Tuy vậy do bản chất của kinh tế hợp tác mà sự giúp đỡ của Nhà nước phải tôn
trọng các nguyên tắc trên thì sự giúp đỡ của Nhà nước mới phát huy hết tác
dụng.
1.3. Các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp.
Sản xuất nông nghiệp rất đa dạng nên nhu cầu hợp tác trong sản xuất
kinh doanh cũng đa dạng, từ đó dẫn tới tính đa dạng của các hình thức hợp tác
trong nông nghiệp. Các hình thức hợp tác này phân biệt với nhau bởi tính chất,
nội dung hoạt động, quy mô hoạt động, quy mô và trình độ tổ chức. Có thể nêu
ra một số hình thức chủ yếu của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp.
- Tổ hợp tác: Tổ hợp tác thường có quy mô nhỏ, có nội dung hoạt động hẹp,
đơn mục tiêu, hình thành và hoạt động trên cơ sở hợp tác giản đơn, chưa có tổ
chức chặt chẽ, thường có vốn quỹ chung, hoạt động chưa có điều lệ, không phải
đăng ký kinh doanh nên chưa phải là pháp nhân kinh tế. Các tổ hợp tác trong
nông nghiệp thường không cố định.
- Hợp tác xã: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ, có cơ cấu tổ chức chặt
chẽ, có vốn quỹ chung, được cấp đăng ký kinh doanh và có tư cách pháp nhân.
Luật HTX nước ta quy định “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những
người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập
ra theo quy định của pháp luật”. ở nước ta HTX được xem là hình thức cơ bản
của KTHT.
- Hội (câu lạc bộ) nghề nghiệp: Hội (câu lạc bộ) nghề nghiệp là một hình
thức hợp tác có phạm vi hoạt động linh hoạt, thường gắn với một loại sản
phẩm trồng trọt, chăn nuôi hay một lĩnh vực hoạt động nào đó (nhu hội sinh
vật cảnh, hội làm vướn, hội nuôi ong), song không phải là một tổ chức sản

- HTX kiểu mới là tổ chức kinh tế tự chủ của những người lao động có nhu
cầu, lợi ích chung tự nguyện
2.2. Những đặc điểm cơ bản của HTX kiểu mới ở Việt Nam.
góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh
của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúy nhau thực hiện có hiệu quả hơn các
hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát
triển kinh tế- xã hội của đất nước. Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, có tổ chức
chặt chẽ, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình và
được đối xử bình đẳng như các thành phần kinh tế khác.
- Nguyên tắc tổ chức hoạt động của hợp tác xã: Khi xây dựng HTX kiểu
mới phải đảm bảo 5 nguyên tắc cơ bản: Tự nguyện gia nhập và ra khỏi HTX
theo quy định của điều lệ HTX; quản lý dân chủ và bình đẳng, mỗi xã viên đều
có quyền ngang nhau trong biểu quyết; tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; chia
lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của xã viên với sự phát triển của HTX.
- Quan hệ sở hữu và phân phối trong HTX: Khi ra nhập HTX mỗi xã viên
bắt buộc phải góp vốn theo quy định của điều lệ. Phần vốn góp của xã viên
thuộc sở hữu của từng thành viên, các nguồn khác thuộc sở hữu chung của
HTX. Sau khi làm xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi của HTX được phân phối như
sau: Thanh toán các khoản bù lỗ; trích lập các quỹ của HTX; chia lãi theo vốn
góp và công sức đóng góp của xã viên có tính đến mức độ sử dụng dịch vụ của
HTX.
- Xã viên HTX: Có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình, mỗi xã viên có thể
đồng thời là thành viên cuả nhiều HTX, không phân biệt ngành, nghề, địa giới
hành chính. Mỗi xã viên đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.
- Quan hệ giữa HTX và xã viên: HTX tôn trọng quyền độc lập tự chủ kinh
tế của xã viên. Sự hình thành và phát triển HTX nông nghiệp không phá vỡ tính
độc lập tự chủ của kinh tế hộ, trang trại gia đình. Nó có tác đụng tạo điều kiện
phát triển tăng thu nhập cho kinh tế của các hộ xã viên. Trên cơ sở đó mà thúc
đẩy sự phát triển của kinh tế HTX.
- Điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể HTX: Khi thành lập HTX cần

theo nguyên tắc của HTX kiểu mới; sở hữu tài sản trong HTX gồm hai phần sở
hữu tập thể và sở hữu cổ phần; HTX hoạt động sản xuất – kinh doanh vì mục
tiêu lợi nhuận nhằm phát triển kinh tế HTX và đem lại lợi ích cho xã viên; HTX
loại này thích hợp với lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, khai thác
II.khái niệm và đặc điểm Hợp tác xã nông nghiệp.
1. Khái niệm.
Từ khái niệm về hợp tác và kinh tế hợp tác xã ta có thể hiểu hợp tác xã
trong Nông nghiệp như sau: HTX nông nghiệp trước hết là một tổ chức của kinh
tế hợp tác của những người sản xuất nông nghiệp. Được thành lập trên nguyên
tắc tự nguyện, dân chủ nhằm đáp ứng những yêu cầu về dịch vụ đa dạng trong
sản xuất nông – lâm – ngư và đời sống của chính các xã viên tham gia. HTX
nông nghiệp có thể là các tổ chức kinh tế hợp tác của nông dân, ít nhất trên 3
lĩnh vực: thứ nhất đó là lĩnh vực cung ứng các yếu tố đầu vào của sản xuất như
phân bón, thuốc trừ sâu… hợp tác trong khâu làm đất, thuỷ lợi, thứ hai trong
lĩnh vực giải quyết đầu ra của sản xuất nông nghiệp bao gồm hoạt động thu mua
chế biến đóng gói và tiêu thụ nông sản ở thị trường trong và ngoài nước, thứ ba
trong lĩnh vực trực tiếp tổ chức sản xuất tập trung trong trồng trọt, chăn nuôi, kể
cả nuôi thuỷ sản.
2. Đặc điểm của hợp tác xã nông nghiệp.
2.1.Quyền hạn và nghĩa vụ của hợp HTX nông nghiệp.
- HTX nông nghiệp có quyền về lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực, quy mô
sản xuất kinh doanh, địa bàn hoạt động, quyết định cơ cấu tổ chức, thuê lao
động, xuất nhập khẩu, phân phối thu nhập, huy động vốn, được bảo hộ bí quyết
về công nghệ và quyền từ chối những can thiệp từ bên ngoài trái với quy định
của pháp luật.
Cụ thể hơn chi tiết hơn một số nội dung đặc thù của HTX nông nghiệp: thứ
nhất chủ động tổ chức các hoạt động kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp theo
khả năng, lợi thế và tập quán sản xuất. Thứ hai, chủ động tìm kiếm các khả năng
phát triển các ngành nghề khác nhau để đa dạng hoá kinh tế HTX, thoát dần
khỏi tình trạng thuần nông và độc canh, hiệu quả thấp.

nông nghiệp phản ánh sự vận động của các dòng tiền tệ diễn ra trong HTX trong
quá trình sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Cụ thể là những nguyên tắc trong việc
huy động vốn góp của xã viên các nguồn vốn khác để phát triển sản xuất kinh
doanh và phân phối lãi trong HTX nông nghiệp
2.4. Cơ sở khoa học về tổ chức quản lý HTX nông nghiệp
Các HTX nông nghiệp thực hiện quản lý dựa trên việc hình thành ba định
chế cơ bản đi từ dân chủ đến tập trung đó là: Đại hội xã viên, ban quản trị, ban
kiểm soát. Trong đó đại hội xã viên là cơ quan quyền lực cao nhất và thực hiện
quyền lực của mình dựa trên nguyên tắc dân chủ tổng hợp quyền lực của các xã
viên, thể hiện ở chỗ có quyền quyết định mọi vấn đề về tổ chức, hoạt động của
HTX, có quyền lập ra ban quản trị, ban kiểm soát, chủ nhiệm HTX cũng như
các chức danh quan trọng khác.
Ban quản trị HTX nông nghiệp có nhiệm vụ xây dựng và tổ chức thực hiện
kế hoạch sản xuất kinh doanh dịch vụ huy động vốn trong HTX nông nghiệp.
Ban quản trị có quyền lựa chọn kế toán trưởng, cơ cấu tổ chức và các bộ phận
nghiệp vụ, chuyên môn HTX
Ban kiểm soát thực hiện quyền giám sát, kiểm tra ban quản trị và xã viên
trong việc thực hiện nghị quyết của đại hội xã viên.
Chủ nhiệm HTX đại diện trước pháp luật để quan hệ đối ngoại, chủ động
điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, được quyền triệu tập
các cuộc họp ban quản trị để thảo luận và quyết định các vấn đề phát sinh.
2.5. Cơ sở khoa học của mối quan hệ giữa nhà nước với HTX nông nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status