NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm, bản chất của vốn trong doanh nghiệp
Trong phạm vi của doanh nghiệp, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
đều phải có một lượng nhất định các yếu tố sản xuất như máy móc thiết bị, nguyên
vật liệu, công cụ dụng cụ, sức lao động,…. Trong nền kinh tế thị trường, mọi vận
hành kinh tế đều được tiền tệ hoá, do đó để có được các yếu tố nói trên đòi hỏi
doanh nghiệp phải có một lượng tiền ứng trước nhất định, được gọi là vốn sản xuất
kinh doanh [38]. Vậy có thể hiểu, vốn là lượng tiền ứng trước để thoả mãn nhu cầu
về tài sản dùng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời.
Gọi là số tiền ứng trước vì nếu doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả sẽ
thu hồi lại được số vốn bỏ ra ban đầu và làm sinh lời vốn. Tài sản được hiểu là
nguồn lực do DN kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Tài
sản trong DN được biểu hiện dưới hình thái hữu hình như nhà xưởng, máy móc,
thiết bị, vật tư, hàng hoá,… hoặc thể hiện dưới hình thái vô hình như quyền sử dụng
đất, bản quyền, bằng sáng chế… Tài sản trong doanh nghiệp cũng có thể phân thành
tài sản hiện vật (vật chất) như máy móc thiết bị, nhà xưởng … và các tài sản tài
chính như chứng khoán và các giấy tờ có giá khác.
Vốn là một yếu tố cơ bản, là tiền đề không thể thiếu được của mọi quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời sử dụng vốn có hiệu quả là yếu tố quan
trọng nhất quyết định đến sự tăng trưởng của các DN và của nền kinh tế ở các
nước đang phát triển như ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Đối với toàn bộ nền kinh tế, vốn được ví như “máu” trong một cơ thể sống.
Theo Mác: vốn là giá trị đem lại lợi nhuận [14]. Biểu hiện cụ thể của vốn trong các
DN là tài sản mà DN sở hữu hoặc kiểm soát.
Ở nước ta hiện nay, khái niệm về vốn cũng được hiểu khác nhau. Một số cho
rằng vốn là số tiền đầu tư ứng trước vào tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn của
DN. Cụ thể hơn vốn là biểu hiện bằng tiền giá trị của tài sản dài hạn và tài sản
ngắn hạn của DN. Một số khác có quan điểm cho rằng vốn gồm hai bộ phận là vốn
chủ sở hữu và nợ phải trả. Quan điểm này có sự đồng nhất giữa vốn và nguồn vốn.
trên thị trường tài chính, giá mua bán vốn cũng tuân theo quan hệ cung - cầu trên
thị trường.
Các đặc trưng của vốn cho thấy, vốn là nguồn lực có hạn cần phải sử dụng
tiết kiệm và có hiệu quả. Đây là vấn đề có tính chất nguyên lý, là cơ sở cho việc
hoạch định chính sách quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn DN.
1.1.2. Sự vận động của vốn trong doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn thường xuyên chuyển hoá từ
hình thái tiền tệ ban đầu sang các hình thái hiện vật, như: tư liệu sản xuất, sức
lao động... hàng hoá và cuối cùng lại chuyển hoá về hình thái ban đầu. Nếu coi
xuất phát điểm ban đầu của vốn là tiền tệ người ta có thể khái quát quá trình
hoạt động của vốn trong DN bằng công thức [14]:
T - H ...... H' - T'
Quá trình luân chuyển của vốn biểu hiện như một quá trình vận động của
giá trị, phản ánh về mặt giá trị của quá trình sản xuất kinh doanh. Ứng với ba
giai đoạn luân chuyển vốn trong công thức này là ba giai đoạn của quá trình sản
xuất kinh doanh bao gồm:
Giai đoạn I ( T - H): DN mua các yếu tố đầu vào cho quá trình SXKD
như tư liệu sản xuất, thuê mướn, đào tạo nhân công,... Trong giai đoạn này vốn
ứng ra ban đầu dưới hình thái tiền tệ (T) được chuyển sang hình thái hiện vật là
tư liệu sản xuất và sức lao động (H) khi DN mua tư liệu sản xuất và thuê lao
động.
Giai đoạn II (H...H'): đây là giai đoạn DN sử dụng các yếu tố đầu vào kết
hợp với công nghệ và kỹ năng của công nhân để sản xuất sản phẩm phục vụ cho
tiêu thụ ở giai đoạn sau. Trong giai đoạn này, vốn từ hình thái tư liệu sản xuất
(H) chuyển sang hình thái thành phẩm (H') thông qua quá trình sản xuất.
Giai đoạn III (H' - T'): DN tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra thu được tiền,
vốn kết thúc quá trình vận động trở về trạng thái ban đầu là tiền. Để DN có thể
phát triển và tiếp tục SXKD tức là vốn tiếp tục vận động ở các chu kì sau, thì
lượng tiền thu được ở giai đoạn này phải lớn hơn lượng tiền mà DN bỏ ra ban
đầu ở giai đoạn mua hàng, có nghĩa là DN kinh doanh có lãi.
1.1.3.2. Phân loại vốn theo công dụng kinh tế
Theo công dụng kinh tế, vốn của DN được chia thành vốn cố định, vốn
lưu động và vốn đầu tư tài chính.
- Vốn cố định là lượng tiền ứng trước để mua sắm, xây dựng tài sản cố
định và các khoản đầu tư dài hạn dùng vào hoạt động kinh doanh của DN. Tài
sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh như máy móc, thiết bị, phương
tiện vận tải, các công trình kiến trúc... đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn sau: về
thời gian: có thời gian sử dụng từ một năm trở lên; về giá trị: ở nước ta hiện nay
tài sản cố định phải có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên.
- Vốn lưu động là lượng tiền ứng trước để thoả mãn nhu cầu về tài
sản ngắn hạn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của DN. Tài sản ngắn hạn là
những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh như: nguyên
vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm, hàng hoá, các khoản phải thu...
- Vốn đầu tư tài chính của DN là một bộ phận vốn kinh doanh của DN
được đầu tư ra bên ngoài nhằm mục đích sinh lời.
Có nhiều hình thức đầu tư tài chính ra bên ngoài như: DN bỏ vốn mua cổ
phiếu, trái phiếu của các công ty khác, hoặc góp vốn liên doanh với các DN
khác,... Mục đích của đầu tư tài chính ra bên ngoài là nhằm thu lợi nhuận và
đảm bảo an toàn về vốn nhờ đa dạng hoá đầu tư.
Phân loại vốn theo cách này có ý nghĩa quan trọng đối với DN trong việc
lựa chọn loại nguồn vốn thích hợp với từng loại tài sản cần tài trợ, trong việc đề
ra các biện pháp quản lý vốn thích hợp, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và
bảo toàn số vốn đã bỏ ra.
1.1.3.3. Phân loại vốn theo nguồn huy động
Căn cứ vào phạm vi huy động các nguồn vốn, vốn của DN có thể chia
thành nguồn vốn bên trong DN và nguồn vốn bên ngoài DN.
- Nguồn vốn bên trong DN là nguồn vốn có thể huy động được từ hoạt
động của bản thân DN. Đó là tiền khấu hao tài sản cố định, lợi nhuận chưa phân
phối, các khoản dự phòng... Nguồn vốn bên trong DN có ý nghĩa hết sức quan
kiện để thực hiện mở rộng thị trường trong và ngoài mước, tạo lợi thế trong
cạnh tranh, là điều kiện tồn tại và phát triển của DN.
Vốn còn tạo điều kiện cho DN tham gia tốt các chính sách xã hội, các
đóng góp với chính phủ, góp phần vào phát triển kinh tế đất nước. Vì vậy, công
tác quản lý và sử dụng vốn sao cho hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng trong
hoạt động quản lý của DN.
1.1.5. Quá trình huy động, tạo vốn trong doanh nghiệp
Quá trình huy động, tạo vốn trong DN đòi hỏi xác định được nhu cầu vốn
cần huy động trong từng thời kỳ nhất định, từ đó phân tích lựa chọn các hình
thức huy động vốn phù hợp.
1.1.5.1 Xác định cơ cấu vốn
Cơ cấu vốn là sự kết hợp của nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu được sử dụng
để tài trợ cho tài sản của DN. Các nhân tố chính cần phải xem xét khi xác định
cơ cấu vốn là:
-Rủi ro kinh doanh: rủi ro kinh doanh là rủi ro cố hữu trong tài sản của
DN trong trường hợp DN không sử dụng nợ.
Rủi ro kinh doanh phụ thuộc vào các nhân tố chủ yếu như: chi phí cố định
của DN, khả năng thay đổi của cầu, khả năng biến thiên của giá bán, khả năng
biến thiên của giá đầu vào, khả năng điều chỉnh giá đầu ra khi giá đầu vào thay
đổi.
- Thuế thu nhập DN: chi phí sử dụng nợ vay là chi phí sau thuế. Giả sử
gọi K
d
là chi phí nợ vay sau thuế, I là lãi suất nợ vay, T là thuế suất thuế thu
nhập DN, lúc đó K
d
= I(1- T). Nếu thuế suất thuế thu nhập DN càng cao thì càng
hạ thấp chi phí thực tế của nợ (K
d
càng thấp). Khi sử dụng nợ, DN tiết kiệm
nghề kinh doanh hay lĩnh vực huy động của DN; quy mô, loại hình của DN;
chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của DN; uy tín của DN và khả năng
thích ứng trong các tình huống cụ thể của người quản lý.v.v..
Phân tích và lựa chọn hình thức huy động vốn thích hợp trong từng kỳ kế
hoạch, cần phải xem xét các vấn đề sau: cơ cấu tài chính mà DN đã chọn; chi
phí sử dụng vốn của từng nguồn vốn huy động cụ thể; tình hình thị trường tài
chính và các điều kiện để DN có thể huy động được vốn theo từng hình thức
huy động; khả năng đáp ứng của mỗi nguồn vốn huy động cụ thể.
Tuỳ theo từng loại hình DN và đặc điểm cụ thể mà có thể có các hình
thức huy động vốn khác nhau. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các hình thức
huy động vốn của DN cần được đa dạng hóa nhằm khai thác tốt nhất các nguồn
vốn trong nền kinh tế. DN có thể lựa chọn các hình thức huy động vốn chủ yếu
sau đây:
1.1.5.2.1. Hình thức tự tài trợ (tự cung ứng vốn)
Hình thức tự tài trợ là hình thức DN tự đáp ứng nhu cầu vốn của mình bằng
nguồn vốn do DN tạo ra trong quá trình hoạt động kinh doanh, bao gồm quỹ khấu
hao tài sản cố định và lợi nhuận giữ lại.
Quỹ khấu hao của DN được hình thành trên cơ sở trích khấu hao tài sản cố
định sử dụng trong quá trình kinh doanh, dùng để tái đầu tư thay thế, đổi mới tài
sản cố định. Tuy nhiên, khi chưa có nhu cầu tái tạo lại tài sản cố định, DN có thể
sử dụng linh hoạt quỹ khấu hao phục vụ cho yêu cầu kinh doanh của mình.
Tự tài trợ bằng lợi nhuận giữ lại là một hình thức tạo vốn quan trọng và
hấp dẫn của DN. Rất nhiều DN coi trọng chính sách tái đầu tư từ lợi nhuận giữ
lại. Thực chất tái đầu tư từ lợi nhuận giữ lại là hình thức tăng vốn đầu tư các chủ
sở hữu DN. Hình thức này hấp dẫn và được coi trọng vì nó giảm được chi phí
sử dụng vốn, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài và tăng tiềm lực tài chính
cho DN. Tuy nhiên, DN chỉ có thể tự tài trợ bằng lợi nhuận giữ lại khi DN hoạt
động có hiệu quả.
1.1.5.2.2. Phát hành cổ phiếu
Phát hành cổ phiếu để huy động vốn là một hình thức huy động vốn chỉ
Theo hình thức này, DN liên doanh, liên kết với một (hoặc một số) DN
khác nhằm tạo vốn cho một (một số) hoạt động hay dự án liên doanh nào đó.
Các bên liên doanh ký kết hợp đồng liên doanh thoả thuận về các vấn đề như
phương thức hoạt động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, thời hạn hợp đồng. Có
ba hình thức liên doanh chủ yếu: Hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới hình thức
hoạt động kinh doanh được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn kinh doanh;
Hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới hình thức liên doanh tài sản được đồng kiểm
soát bởi các bên góp vốn liên doanh; Hợp đồng liên doanh dưới hình thức thành
lập cơ sở kinh doanh mới được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn kinh doanh.
1.1.5.2.8. Điều chỉnh cơ cấu tài sản
Do môi trường kinh doanh biến động, nhiệm vụ kinh doanh thay đổi nên
trong kinh doanh luôn diễn ra hiện tượng thừa loại tài sản này nhưng lại thiếu
tài sản khác. Điều chỉnh cơ cấu tài sản chính là việc kịp thời có giải pháp bán
các tài sản cố định dư thừa, không sử dụng đến; mặt khác, trên cơ sở thường
xuyên kiểm tra, tính toán và xác định lại mức dự trữ tài sản lưu động, ứng
dụng mô hình dự trữ tối ưu nhằm giảm lượng tài sản lưu động lưu kho không
cần thiết. Phương thức này tuy không làm tăng tổng số vốn sản xuất kinh doanh,
nhưng lại có tác dụng rất lớn trong việc tăng vốn cho các hoạt động cần thiết
trên cơ sở giảm vốn ở những nơi không cần thiết.
1.1.5.3. Điều hoà vốn
Điều hoà vốn là việc lưu chuyển vốn từ nơi thừa vốn tạm thời, sử dụng
kém hiệu quả sang nơi thiếu vốn và có khả năng sử dụng vốn có hiệu quả cao
trong phạm vi nội bộ DN, nhằm đảm bảo vốn được phân bố hợp lý, mang lại
hiệu quả cao.
Đây là một vấn đề quan trọng trong quản lý vốn nói chung, đặc biệt ở
những DN lớn có nhiều đơn vị kinh doanh. Bởi vì trong một DN vẫn có thể xảy
ra hiện tượng ở đơn vị, bộ phận này thừa vốn tạm thời; trong khi ở đơn vị, bộ