những vấn đề lý luận và thực tiễn về huy động
vốn đầu t xây dựng các công trình kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội
1.1. Sự cần thiết phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội
1.1.1. Khái niệm, phân loại kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
1.1.1.1. Khái niệm kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, năng lực sản xuất, hay sức sản
xuất đợc quyết định bởi lực lợng sản xuất. Đến lợt mình, toàn bộ lực lợng sản xuất
chỉ có thể hoạt động bình thờng trên cơ sở nền tảng hoàn chỉnh hoặc có đầy đủ
các điều kiện. Nó bao gồm bản thân ngời lao động, t liệu lao động, t liệu sản xuất
và công nghệ. Trong t liệu sản xuất có một bộ phận tham gia vào quá trình sản
xuất với tính cách là những cơ sở, phơng tiện chung mà thiếu nó thì quá trình sản
xuất và những dịch vụ trong sản xuất sẽ trở nên khó khăn hoặc không thể diễn ra
đợc. Toàn bộ những phơng tiện đó gộp lại trong khái niệm kết cấu hạ tầng. Vậy
kết cấu hạ tầng ở đây là khái niệm dùng để chỉ những phơng tiện làm cơ sở mà
nhờ đó các quá trình công nghệ, quá trình sản xuất và các dịch vụ đợc thực hiện.
Về khái niệm kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là một khái niệm rộng, theo
quan điểm của Phó giáo s - tiến sĩ Đỗ Hoài Nam và tiến sĩ Lê Cao Đoàn nêu tại đề
tài khoa học Xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hoá [Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội 2001, tr 16] cho rằng: Hạ
tầng kinh tế xã hội của một xã hội hiện đại là một khái niệm dùng để chỉ tổng thể
những phơng tiện và thiết chế, tổ chức làm nền tảng cho kinh tế - xã hội phát
triển. Vậy kết cấu hạ tầng ở đây là khái niệm dùng để chỉ những phơng tiện làm
cơ sở nhờ đó các quá trình công nghệ, quá trình sản xuất và các dịch vụ đợc thực
hiện. Tơng ứng với mỗi lĩnh vực hoạt động của xã hội có một loại kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội chuyên dùng: kết cấu hạ tầng trong kinh tế phục vụ cho hoạt động
kinh tế, kết cấu hạ tầng trong lĩnh vực quân sự phục cho hoạt động quân sự, kết
cấu hạ tầng trong lĩnh vực văn hoá, xã hội phục vụ cho hoạt động văn hoá xã hội.
Song cũng có những loại kết cấu hạ tầng đa năng có tầm hoạt động lớn phục vụ
cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau nh: điện năng, giao thông vận tải, thuỷ lợi
trờng, thông tin, các công trình văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, các công
trình công cộng khác
-Kết cấu hạ tầng môi trờng là toàn bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ
cho việc bảo vệ, giữ gìn và cải tạo môi trờng sinh thái của đất nớc và môi trờng
đời sống của con ngời gồm: Các công trình phòng chống thiên tai, công trình bảo
vệ đất đai, tài nguyên thiên nhiên, hệ thống cung cấp xử lý và tiêu thải nớc sinh
hoạt
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tuy không trực tiếp tham gia sáng tạo sản
phẩm nhng không thể thiếu trong toàn bộ quá trình sản xuất. Trong nền kinh tế thị
trờng, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cũng có 2 thuộc tính:
+ Có giá trị bởi các công trình không thể tự nhiên mà có, mà phải qua đầu
t xây dựng với kinh phí rất lớn trong thời gian dài.
+ Có giá trị sử dụng theo đúng mục đích, công năng khi đầu t xây dựng.
Hơn thế nữa các sản phẩm kết cấu hạ tầng trong nền kinh tế thị trờng sẵn
sàng tham gia trao đổi - thanh toán vì thế kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thoả mãn
điều kiện trở thành hàng hoá - hàng hoá công cộng. Theo Kinh tế học công cộng
của Joseph E.Stinglitz đợc coi là hàng hoá công cộng vì hàng hoá công cộng
thuần tuý có hai đặc tính quan trọng. Thứ nhất là nó không thể phân bổ theo khẩu
phần để sử dụng. Thứ hai là ngời ta không muốn sử dụng nó theo khẩu phần [24,
tr 166].
Hàng hoá công cộng cũng nh hàng hoá thông thờng, có thể tách quá trình
sản xuất với tiêu dùng. Nhng sự khác nhau là hàng hoá thông thờng sản xuất ra để
cá nhân tiêu dùng, hàng hoá công cộng sản xuất ra cho cả cộng đồng sử dụng.
Hàng hoá thông thờng đợc sản xuất sau đó đem ra thị trờng trao đổi nhằm kiếm
lợi nhuận, chính một phần lợi nhuận này để tiếp tục quay vòng tăng vốn để sản
xuất kinh doanh tiếp. Còn hàng hoá công cộng không thể bán ngay đợc, mà để
phục vụ chung cho cộng đồng, ví dụ nh an ninh, quốc phòng. Vì vậy nguồn vốn
đầu t cho hàng hoá công cộng chủ yếu từ nguồn tài chính công và từ sự đóng góp
của cả xã hội.
* Xét về sở hữu cho thấy:
) đặc biệt là nguồn vốn của cộng đồng.
* Xét về nghĩa vụ và quyền lợi của ngời dân:
Trong thời gian vừa qua, việc xây dựng và hởng thụ các công trình kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội ở hai khu vực nông thôn và thành thị có sự khác biệt rất
lớn. Công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở thành thị đợc xây dựng với qui
mô rất lớn và hiện đại, ở nông thôn công trình qui mô lớn là rất hiếm, đặc biệt là
đối với vùng sâu, vùng xa. Vốn đầu t xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội ở khu vực đô thị chủ yếu là nguồn vốn nhà nớc, ở nông thôn trên 50%
đợc huy động từ dân. Ngời dân sống trong thành thị chỉ việc hởng thụ kết cấu hạ
tầng do nhà nớc xây dựng, không phải đóng góp, trong khi đó ngời dân sống ở
thôn quê không những phải hoàn thành nghĩa vụ của ngời công dân mà còn phải
tham gia đóng góp khá nhiều tiền, của, công sức để xây dựng các công trình kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội mới đợc thụ hởng. Vì vậy, vấn đề huy động vốn và
đầu t xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cần phải đợc chú ý
để đảm bảo tính công bằng xã hội.
* Nếu xét kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là lĩnh vực đầu t thì chiến lợc đầu
t phát triển kết cấu hạ tầng có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của kinh tế - xã
hội. Đầu t phát triển kết cấu hạ tầng đúng là lựa chọn đợc những yếu tố kết cấu hạ
tầng trọng điểm làm nền tảng cho một tiến trình phát triển chung lâu bền và thúc
đẩy quá trình chuyển đổi trong phơng thức sản xuất, hình thành những lực lợng
sản xuất mới. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thể hiện tính hệ thống cao, tính hệ
thống này liên quan đến sự phát triển đồng bộ, tổng thể của kinh tế xã hội. Trong
kinh tế thị trờng việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là một lĩnh vực đầu
t kinh doanh, hơn nữa là lĩnh vực hoạt động kinh tế có vốn đầu t lớn. Tính hiệu
quả của kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phụ thuộc vào những yếu tố, trong đó yếu
tố đầu t tới hạn, là đầu t đa công trình xây dựng nhanh tới chỗ hoàn bị.
Tóm lại: kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là tổng hoà các yếu tố và điều kiện
vật chất - kỹ thuật đợc tạo lập trong một phạm vi quốc gia, một vùng, một ranh
giới địa lý, hành chính nhất định; là nền tảng cho sự phát triển sản xuất và đời
sống của cộng đồng tồn tại lâu dài và nó đánh dấu sự phát triển của mỗi dân tộc,
tầng kinh tế - xã hội, từ đó xây dựng kế hoạch huy động vốn đầu t một cách cân
đối và hợp lý.
- Phân chia theo khu vực lãnh thổ: kết cấu hạ tầng từng ngành, từng lĩnh
vực, hoặc liên ngành, liên lĩnh vực hợp thành một tổng thể hoạt động, phối hợp
hài hoà nhằm phục vụ sự phát triển của tổng thể kinh tế - xã hội - an ninh quốc
phòng trên từng vùng và cả nớc. Sự phát triển kinh tế - xã hội và kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội trên một vùng lãnh thổ có mối quan hệ gắn kết, tơng đồng. Mỗi
vùng, với những đặc điểm kinh tế - xã hội riêng biệt, đòi hỏi có kết cấu hạ tầng
phù hợp, điển hình là kết cấu hạ tầng Đô thị và kết cấu hạ tầng nông thôn có
những sắc thái khác nhau nhng cũng có những nét tơng đồng. Kết cấu hạ tầng
kinh tế xã hội theo lãnh thổ vừa là cơ sở cho việc phát triển kinh tế - xã hội của
vùng, nhng cũng là cầu nối liên kết các vùng, lãnh thổ của một cơ thể.
- Phân loại theo sự phân cấp quản lý:
Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do trung ơng quản lý là những tài
sản quan trọng, có giá trị lớn, có vị trí chiến lợc quốc gia bao gồm: hệ thống đờng
quốc lộ, đờng sắt, sân bay, bến cảng, bu chính viễn thông, năng lợng, các trung
tâm tâm giáo dục, y tế, văn hoá xã hội lớn.
Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do địa phơng quản lý (thành phố,
tỉnh, huyện) đó là những tài sản nh nêu trên nhng đợc nhà nớc phân cấp cho địa
phơng quản lý nh đờng giao thông liên tỉnh, liên huyện, liên xã, cầu, cống, các
trạm bơm tới tiêu, hệ thống cơ sở vật chất các ngành giáo dục, y tế, văn hoá xã hội
ở địa phơng.
Cách phân loại này nhằm xác định rõ trách nhiệm của từng cấp trong việc
quản lý, khai thác, sử dụng hệ thống các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội do từng cấp quản lý. Trên cơ sở đó để xây dựng kế hoạch huy động vốn để đầu
t theo qui hoạch, kế hoạch.
- Phân loại theo tiêu chuẩn chất lợng kinh tế - kỹ thuật:
Các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đạt tiêu chuẩn quốc tế là
những công trình đạt kỹ thuật cao, chất lợng tốt, đảm bảo chuẩn mực quốc tế qui
định nh: sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Nội bài, khách sạn 4, 5 sao
+ Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có ý nghĩa quan trọng ở mỗi ngành, lĩnh
vực, mỗi vùng, mỗi quốc gia, thể hiện bộ mặt, trình độ phát triển, sự quan tâm đầu
t, trình độ lãnh đạo quản lý của Chính phủ, sự đóng góp của cộng đồng đối với
mỗi ngành, mỗi vùng và cả quốc gia cả dân tộc đó. Thực tế ở đâu, nơi nào có kết
cấu hạ tầng tốt thì ở đó sản xuất và đời sống dân c đợc cải thiện rõ rệt. Phát triển
kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nớc, trờng, trạm còn thể hiện sự công bằng trong
phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng khó khăn. Do đó, chăm lo đến đầu t kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội ở các vùng kinh tế trọng điểm để tạo động lực phát triển,
nhng đầu t kết cấu hạ tầng cho các vùng kinh tế khó khăn lại là cơ sở để đảm bảo
công bằng xã hội.
+ Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội không chỉ là vấn đề kinh tế - kỹ thuật
đơn thuần. Đây còn là vấn đề xã hội quan trọng trong sự phát triển. Không chỉ là
việc tập trung các nguồn lực để tạo ra đòn bẩy nâng kinh tế vợt qua một giới hạn
nào đó, mà còn là phơng thức đạt tới những mục tiêu xã hội - nhân văn. Là một
lĩnh vực đầu t và là một yếu tố có khả năng thay đổi rất lớn và cơ bản những điều
kiện chung của cuộc sống, đầu t phát triển hạ tầng trở thành một nội dung quan
trọng trong việc phân bổ những lợi ích trong sự phát triển đến với mọi ngời, tạo ra
những phơng tiện cần thiết và không thể thiếu đợc cho mọi tầng lớp dân c đợc thụ
hởng những thành tựu của phát triển. Có thể nói phát triển hạ tầng là cách thức
chống tụt hậu và giải quyết mối quan hệ giữa tăng trởng và công bằng. Nó là cái
gạch nối giữa kinh tế và nhân văn và do đó, phát triển hạ tầng là một lĩnh vực tổng
hợp, lĩnh vực kinh tế - nhân văn.
1.1.2. Đặc điểm kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội
+ Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thể hiện tính hệ thống cao. Tính hệ thống
này liên quan đến sự phát triển đồng bộ, tổng thể kinh tế - xã hội. Bởi vậy, việc
quy hoạch tổng thể trong phát triển hạ tầng; phối, kết hợp giữa các loại hạ tầng
trong một hệ thống đồng bộ, sẽ giảm tối đa chi phí và tăng đợc tối đa công dụng,
hiệu năng của kết cấu hạ tầng, cả trong khi xây dựng lẫn trong việc vận hành khi
hệ thống kết cấu hạ tầng đã đợc hoàn thành và đa vào sử dụng. Tính chất đồng bộ,
hợp lý trong sự phối hợp giữa các loại hạ tầng không chỉ có ý nghĩa về kinh tế, mà
kiện thiếu những thể chế kinh tế tài chính, chặt chẽ, thì xây dựng kết cấu hạ tầng
là một trong những lĩnh vực chứa nhiều khả năng thất thoát và tham nhũng nhất.
Tính hiệu quả của các công trình xây dựng trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng
phụ thuộc vào hai yếu tố. Một là: yếu tố về thời gian, thời gian ngắn hay dài tuỳ
thuộc vào mục đích đầu t công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Trong nền
kinh tế thị trờng thì thời gian đầu t dài hay ngắn rất quan trọng, nó ảnh hởng trực
tiếp đến hiệu quả mang lại. Thời gian đầu t càng dài thì giá trị của đồng vốn càng
biến động. Hai là, yếu tố đầu t tới hạn, là đầu t đa công trình xây dựng kết cấu hạ
tầng nhanh tới chỗ hoàn bị. Nếu các công trình không đạt nhanh tới chỗ hoàn bị
sẽ gây ra những thiệt hại đáng kể về kinh tế. Nếu chậm đạt tới chỗ hoàn bị, các
công trình sẽ chậm đa vào vận hành, mà chậm đa vào sử dụng, có nghĩa là đọng
vốn, đây sẽ là một nguyên nhân cơ bản làm giảm hiệu quả kinh tế của các công
trình kết cấu hạ tầng. Để khắc phục điều này, tất yếu phải tập trung vốn, nhờ đó để
đầu t xây dựng trong một thời hạn ngắn nhất, nhờ đó có thể đa công trình hạ tầng
sớm nhất vào sử dụng. Mặt khác, các công trình công cộng khó thu hồi vốn, do đó
sẽ khó khăn cho việc duy trì tái sản xuất ra những công trình hạ tầng đó. Vì thế,
việc xây dựng kết cấu hạ tầng đã khó, việc duy trì và tái sản xuất ra chúng lại còn
khó hơn. Việc hiện hữu những công trình xây dựng trong lĩnh vực này là hiện hữu
một đời sống kinh tế của nó, nhng thiếu những nguồn vốn tự sản sinh của những
kết cấu hạ tầng đó sẽ có nguy cơ hoang phế dần những kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội. Bởi vậy, nếu những dự án, chơng trình phát triển kết cấu hạ tầng không tính
hết điều này, thì sau khi xây dựng xong, để duy trì những kết cấu hạ tầng này
trong trạng thái bình thờng, đòi hỏi phải có những nguồn vốn từ bên ngoài đầu t
trực tiếp. Những khoản vốn này dễ trở thành những gánh nặng nợ nần triền miên.
Chi phí cần thiết cho một công cuộc đầu t lớn và phải nằm ứ đọng vốn trong suốt
quá trình đầu t, thời gian thu hồi vốn dài, có những loại kết cấu hạ tầng không trực
tiếp thu hồi vốn. Phần lớn các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuộc
lĩnh vực hàng hoá công cộng, gắn liền với vai trò đầu t của nhà nớc, của xã hội.
Điều này có nghĩa kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ cho sản xuất và đời
sống cho nên đòi hỏi lợng vốn đầu t rất lớn. Đợc huy động trên tất cả các nguồn
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về đầu t, nhng theo nghĩa chung nhất có
thể hiểu đầu t là một hoạt động có mục đích của con ngời thông qua việc bỏ vốn
(t bản) dài hạn vào một đối tợng hay một lĩnh vực nào đó nhằm thu đợc lợi ích
trong tơng lai.
Đầu t tài sản vật chất và sức lao động xây dựng các công trình kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội: là loại đầu t, trong đó ngời có tiền bỏ tiền, tài sản đã có ra
để tiến hành các hoạt động nhằm duy trì và tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm
tăng năng lực sản xuất, kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ
yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân.
Trong đầu t tài sản vật chất, có đầu t các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật,
kiến trúc, thông tin, dịch vụ tài chính, tạo nền tảng cơ bản cho các hoạt động kinh
tế - xã hội.
Đầu t sức lao động gồm đầu t công sức và đầu t trí tuệ của ngời lao động.
Hay có thể nói đầu t phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội bỏ một lợng
tiền vào việc tạo mới hay tăng cờng cơ sở vật chất, các điều kiện kỹ thuật, phơng
tiện, thiết chế, tổ chức làm nền tảng cho kinh tế - xã hội phát triển.
Trong thời gian bao cấp, vốn đầu t cha đợc chú ý đúng mức, các quan hệ tài
chính tiền tệ bị bóp méo, bản chất đích thực của vốn bị lu mờ. Trong điều kiện
kinh tế thị trờng nh hiện nay thì đồng vốn mới đợc bộc lộ đúng bản chất, vai trò
của nó. Mác đã khái quát phạm trù vốn qua phạm trù t bản t bản là giá trị mang
lại giá trị thặng d. Vốn đầu t đợc thể hiện qua 5 đặc trng cơ bản sau:
- Vốn đợc biểu hiện bằng giá trị của những tài sản, tài sản có thực, vốn là
tiền, nhng không phải mọi đồng tiền đều là vốn, chỉ khi nào chúng đợc sử dụng
vào mục đích kinh doanh thì mới biến thành vốn. Cũng nh tiền vốn là một bộ phận
của tài sản nhng không phải là mọi tài sản đều đợc coi là vốn. Tài sản có thể là
hữu hình và có thể là vô hình những tài sản này nếu đợc giá trị hoá và đa vào đầu
t thì đợc gọi là vốn đầu t.
- Vốn bao giờ cũng có ngời chủ đích thực.
- Trong nền kinh tế thị trờng thì vốn phải đợc quan niệm là hàng hoá đặc
biệt, vốn là hàng hoá đặc biệt đợc thể hiện: giá trị của vốn đợc sử dụng để sinh lời
Tiết kiệm của Chính phủ: Bao gồm tiết kiệm của ngân sách Nhà nớc và tiết
kiệm của các doanh nghiệp Nhà nớc.
Tiết kiệm của Ngân sách Nhà nớc là số chênh lệch giữa tổng các khoản thu
mang tính không hoàn lại chủ yếu là thuế và một phần nhỏ phí, lệ phí, thu khác
với tổng chi tiêu dùng của ngân sách. Chi ngân sách nhà nớc gồm chi cho đầu t
xây dựng cơ bản, chi thờng xuyên cho sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp văn hoá xã
hội, chi cho quản lý hành chính và an ninh quốc phòng.
Xu hớng chi tiêu công cộng của Nhà nớc ngày càng tăng, vì Nhà nớc ngày
càng cung cấp nhiều hàng hoá công cộng hơn. Một quan hệ thờng thấy trong cân
đối ngân sách quốc gia là có bội thu hoặc bội chi. Bội thu cho thấy Nhà nớc đã có
tiết kiệm để hình thành nên vốn đầu t phát triển nói chung và vốn đầu t xây dựng
các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nói riêng. Tuy nhiên trong một số
trờng hợp khi ngân sách bội chi nhng Nhà nớc vẫn có tiết kiệm (sổ tiết kiệm dơn)
vì trong các khoản chi của Nhà nớc có khoản chi đầu t xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội. Nh vậy muốn tiết kiệm từ ngân sách Nhà nớc thì tốc độ tăng chi
đầu t xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phải luôn luôn lớn
hơn tốc độ tăng chi thờng xuyên và vấn đề không phải là bội chi ít hay nhiều mà
là phơng pháp xử lý, là định hớng đầu t vào công trình nào thuộc kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội.
Tiết kiệm của doanh nghiệp Nhà nớc là số lãi ròng có đợc từ kết quả kinh
doanh. Đây là nguồn tiết kiệm cơ bản để doanh nghiệp Nhà nớc tạo vốn cho đầu t
phát triển. Trên thế giới các quốc gia đều tồn tại khu vực kinh tế quốc doanh,
doanh nghiệp Nhà nớc. Doanh nghiệp Nhà nớc thờng đảm bảo cho nền kinh tế
quốc dân ở lĩnh vực then chốt, mũi nhọn, kinh doanh những lĩnh vực t nhân không
đủ sức, đủ vốn hoặc không muốn làm vì hiệu quả kinh tế thấp, nhất là lĩnh vực
đầu t xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nh: Giao thông, thuỷ lợi, năng l-
ợng, dịch vụ công, môi trờng, an ninh quốc phòng sau khi thực hiện chủ tr ơng
cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc, hiện nay những doanh nghiệp đợc tồn tại Nhà
nớc bảo tồn vốn 100%.
Tiết kiệm của khu vực t nhân bao gồm tiết kiệm của các doanh nghiệp t