Thực trạng huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ 1997-2005 - Pdf 11

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết luận nêu trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận án
Nguyễn Lương Thành
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận án tiến sỹ kinh tế tôi được sự giúp đỡ
của PGS.TS Phạm Thị Quý; PGS.TS Trần Văn Tá giáo viên hướng dẫn,
2
tập thể ban Giám hiệu, các thày giáo, các cô giáo Trường Đại học Kinh tế
quốc dân, Bộ Tài chính, tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Hải Dương,
tỉnh Hưng Yên, tỉnh Hà Tây, tỉnh Bắc Giang và bạn bè đồng nghiệp đã tạo
điều kiện để tôi hoàn thành được luận án. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Tác giả luận án
Nguyễn Lương Thành
MỤC LỤC
Nội dung Trang
TRANG PHỤ BÌA
1
LỜI CAM ĐOAN
2
MỤC LỤC
4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
5
DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ
6
MỞ ĐẦU
8
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG VỐN

KẾT LUẬN
179
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
187
DANH MỤC PHỤ BIỂU THAM KHẢO
189
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN
194
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu á
ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam á
BOO Xây dựng - sở hữu - vận hành
BOT Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
BT Xây dựng - chuyển giao
CĐSP Trường Cao đẳng sư phạm
CEPT Hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
CNH-HĐH Công nghiệp hoá -hiện đại hoá
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
EPR Hệ số bảo hộ hiệu dụng
EU Liên minh Châu Âu
EUR Đồng tiền chung Châu Âu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GD-ĐT Giáo dục - Đào tạo
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GDTX Giáo dục thường xuyên
4
GNP Tổng sản phẩm quốc dân
GTNT Giao thông nông thôn
HĐND Hội đồng nhân dân

Bảng 2.4 Tổng hợp tiền sử dụng đất của các dự án xây nhà ở để bán 72
Bảng 2.5 Tình hình thực hiện các dự án quỹ đất tạo vốn 76
Bảng 2.6 Tổng hợp chi ngân sách địa phương 77
Bảng 2.7 Vốn huy động ngoài nhà nước đầu tư Xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh 80
Bảng 2.8 Tình hình thực hiện các dự án sử dụng vốn ODA tỉnh Bắc Ninh
Giai đoạn 1997-2005 83
Bảng 2.9 Kết quả đầu tư làm đường giao thông nông thôn và hỗ trợ của
tỉnh cho chương trình xây dựng đường giao thông nông thôn
2000-2005 87
Bảng 2.10 Kết quả huy động vốn đầu tư giao thông trên địa bàn tỉnh Bắc 89
5
Ninh 1998-2005
Bảng 2.11 Tổng mức đầu tư xây dựng mạng lưới cấp điện 1997 -2005 91
Bảng 2.12 Kết quả đầu tư xây dựng kiên cố hoá kênh mương loại III từ năm
1999 - 2005 94
Bảng 2.13 Tổng hợp đầu từ xây dựng và sửa chữa các trạm bơm trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến nay 95
Bảng 2.14 Tổng hợp vốn ngân sách đầu tư cho công tác tu bổ đê kè cống và
xây dựng trụ sở ngành nông nghiệp từ năm 1997 đến nay 96
Bảng 2.15 Kết quả thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp tập trung đến
2005 99
Bảng 2.16 Thống kê các nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giáo
dục Bắc Ninh qua các năm 1997-2005 104
Bảng 2.17 Tổng hợp kết quả huy động vốn xây dựng công trình y tế
1997-2005 106
Bảng 2.18 Kết quả huy động vốn đầu tư kết cấu hạ tầng văn hoá thông tin 108
Bảng 3.1 Báo cáo nhu cầu đầu tư Bắc Ninh từ 2006-2020 131
Bảng 3.2 Dự kiến huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng
kinh tế - xã hội bắc ninh thời kỳ 2006-2020 132

phương thức đạt tới những mục tiêu xã hội - nhân văn. Chống mọi nguy cơ tụt
hậu và giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng và công bằng xã hội.
Nước ta trong giai đoạn hiện nay, việc phát triển kết cấu hạ tầng một
cách đồng bộ, đạt trình độ tiên tiến, tiêu chuẩn hiện đại đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội vừa là điều kiện vừa là nội dung cơ bản của sự nghiệp
CNH-HĐH đất nước và tạo cơ sở quan trọng cho sự nghiệp đổi mới và phát
triển bền vững nền kinh tế đất nước, là động lực để phát triển kinh tế, hội
nhập kinh tế quốc tế và rút ngắn khoảng cách với bên ngoài. Hệ thống kết cấu
hạ tầng tiên tiến và đồng bộ tạo điều kiện phát triển đồng đều giữa các địa
phương, các vùng lãnh thổ, làm giảm sự chênh lệch về mức sống và dân trí
giữa các khu vực dân cư.
Thực tế, điều kiện để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lại phụ
thuộc nhiều vào nguồn vốn đầu tư, khi đất nước chuyển sang kinh tế thị
trường và mở cửa, khả năng huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, cho
phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cũng đa dạng hơn. Tuy nhiên, điều
đó cũng không đơn giản vì khả năng và mức độ huy động vốn còn tuỳ thuộc
vào nhiều nhân tố chủ quan, khách quan. Những năm qua (1997-2005) Bắc
Ninh đã đạt được một số kết quả trong huy động vốn đầu tư xây dựng các
7
công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nhưng mức độ huy động vốn vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu nhằm nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội.
Nhu cầu vốn đầu tư để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội Bắc Ninh trong thời kỳ tới rất lớn trong khi nguồn lực ngân sách lại
có hạn. Bài toán cấp bách đặt ra phải tiếp tục huy động mọi nguồn lực, mọi
thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh.
Vì vậy, NCS chọn hướng nghiên cứu là “Tăng cường huy động vốn đầu
tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh
trong thời kỳ đổi mới: thực trạng - kinh nghiệm và giải pháp” làm đề tài

hữu hiệu tăng cường huy động, sử dụng vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội: Nguyễn Văn Hùng (2004), Một số biện pháp nhằm tăng
cường thu hút vốn đầu tư trên địa bản tỉnh KONTUM, luận văn thạc sỹ chuyên
ngành quản trị kinh doanh, Trường Đại học Đà Nẵng. Đỗ Hoài Nam, Lê Cao
Đoàn (2001), Xây dựng hạ tầng cơ cở nông thôn trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội. Bùi Nguyên
Khánh (2001), Thu hút và sử dụng vốn nước ngoài trong xây dựng kết cấu hạ
tầng của ngành giao thông vận tải Việt Nam, luận án tiến sỹ kinh tế, Trường
Đại học Ngoại thương. Phan Mạnh Chính (1994), Xây dựng kết cấu hạ tầng
của Thủ đô Hà Nội định hướng và các giải pháp thu hút vốn đầu tư nước
ngoài, luận án phó tiến sỹ khoa học kinh tế - Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân. Nguyễn Thanh Nuôi (1996), Giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng kinh tế địa phương bằng tín dụng nhà nước, luận án phó tiến sỹ
khoa học kinh tế - Trường Đại học Tài chính Kế toán Hà Nội. Phan Lan Tú
(2002), Khai tác và quản lý vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị
ở Việt Nam, luận án tiến sỹ kinh tế Học viện Tài chính...
Bắc Ninh là một tỉnh mới được tái lập với nền tảng vật chất - kỹ thuật
9
còn thiếu thốn, lạc hậu và nguồn vốn ngân sách nhà nước còn hạn hẹp thì việc
tăng cường huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội càng trở nên cấp thiết. Hơn nữa, trong khoa học kinh tế lẫn thực
tiễn đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nước ta đang còn nhiều bất cập và
vấn đề mới đặt ra cần được tổng kết, nhận thức đầy đủ, kịp thời và xử lý có
hiệu quả. Nhiều vấn đề trong đó, nếu không muốn nói là tất cả đều được phản
ánh và có thể tìm được phần nào lời giải qua thực tế của tỉnh Bắc Ninh, một
địa phương mang tính đại diện cao vì không chỉ gần như đi từ đầu mà còn chủ
động và có nhiều thành công trong phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,
vì vậy NCS chọn đề tài “Tăng cường huy động vốn đầu tư xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ đổi mới:
Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp” nhằm góp phần cùng các nhà khoa học

6. Đóng góp của luận án
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về huy động vốn đầu tư
xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
- Làm rõ thực trạng huy động vốn cho đầu tư xây dựng các công trình
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ tỉnh tái lập
(1997 - 2005). Từ đó tìm ra nguyên nhân của thành công và hạn chế, những
bài học kinh nghiệm trong công tác huy động vốn đầu tư xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương.
- Đề xuất một số giải pháp huy động vốn đầu tư xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội những năm tới.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án được trình bày trong 3 chương
Chương1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về huy động vốn đầu tư
xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội .
Chương 2: Thực trạng huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ
1997-2005.
11
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn đầu tư xây dựng các
công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh
trong thời gian tới.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH
KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1. SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1.1. Khái niệm, phân loại kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
1.1.1.1. Khái niệm kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, năng lực sản xuất, hay sức
sản xuất được quyết định bởi lực lượng sản xuất. Đến lượt mình, toàn bộ lực

kinh tế quốc dân, cũng như trong mỗi khu vực, mỗi vùng lãnh thổ của đất
nước” [45, tr 5]. Xét ở góc độ nào thì kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cũng là
một yếu tố, một chỉ số của sự phát triển. Trong tiến trình phát triển, vai trò và
tầm quan trọng của kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày một tăng lên. Nếu sự
phát triển hiện đại được giải quyết ở cuộc cách mạng khoa học công nghệ, ở
nền kinh tế thị trường mở, ở quá trình quốc tế hoá hoạt động kinh tế, thì kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là nền tảng trong đó diễn ra các quá trình của phát
triển hiện đại, thiếu hệ thống thông tin viễn thông hiện đại, thiếu hệ thống
giao thông vận tải hiện đại, thiếu những công trình kiến trúc phục vụ các hoạt
động dịch vụ, xã hội, văn hoá thì sự phát triển giờ đây khó có thể diễn ra
được. Vì vậy xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trở thành
một nội dung quyết định của sự phát triển, một mặt kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội là những lực lượng sản xuất và thiết chế đem lại sự thay đổi về chất
13
trong phương thức sản xuất nhưng mặt khác kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là
những lực lượng sản xuất và thiết chế có tính chất xã hội hoá cao, có tầm ảnh
hưởng rộng lớn, vì thế sự phát triển của kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đem
lại sự thay đổi về điều kiện vật chất của toàn bộ sinh hoạt trong kinh tế xã hội.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được thể hiện bằng các công trình xây
dựng, kiến trúc, thiết bị trong không gian bao gồm:
- Kết cấu hạ tầng kinh tế là hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho sự
phát triển của các ngành, các lĩnh vực: hệ thống điện, các công trình cấp, thoát
nước, công trình cầu, đường …
- Kết cấu hạ tầng xã hội là hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt
động văn hoá, xã hội nhằm thoả mãn và nâng cao trình độ dân trí và tinh thần
của nhân dân đồng thời cũng là điều kiện chung cho quá trình tái sản xuất sức
lao động và nâng cao trình độ lao động của xã hội gồm: các cơ sở liên quan
đến môi trường, thông tin, các công trình văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể
thao, các công trình công cộng khác …
-Kết cấu hạ tầng môi trường là toàn bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục

được mặc nhiên thừa hưởng, khối lượng tài sản khổng lồ, không được đề cập
đến cả trong tính toán hệ thống tài khoản quốc gia. Khối lượng tài sản này
không được xác định hao mòn, không được khấu hao để tái đầu tư. Trong nền
kinh tế thị trường, nhà nước chủ trương xã hội hoá mọi nguồn lực, đã xuất
hiện nhiều tổ chức, cá nhân và nhân dân tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội, đương nhiên vấn đề sở hữu đa dạng, nảy sinh xuất phát từ
nguồn vốn được chảy ra từ thành phần kinh tế nào. Từ đó việc chuyển giao,
mua bán, chuyển nhượng, xuất hiện dẫn đến kết cấu hạ tầng đầy đủ tư cách là
loại hàng hoá đắt giá.
* Xét về quyền sử dụng:
Mọi kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có đặc điểm là được sử dụng
chung, phục vụ cho cả kinh tế - quân sự - sinh hoạt của cả cộng đồng. Chúng
15
ta không thể cực đoan nêu vấn đề bao nhiêu phần trăm sử dụng cho mục đích
riêng rẽ nào. Đến đây lại nảy sinh mẫu thuẫn mới: đã là tài sản chung thì ai
khởi phát việc đầu tư, bỏ vốn, sửa chữa, thì quản lý. Sẽ luẩn quẩn trong vòng
xoáy nếu không giải thoát bằng một biện pháp có tính nguyên tắc: cả xã hội
tham gia đầu tư và cộng đồng sử dụng.
* Xét về khả năng huy động vốn:
Trong báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội kỳ họp tháng 5/2006 xác
định: “Kết cấu hạ tầng đã sử dụng tới 40% kinh phí đầu tư của ngân sách và
xấp xỉ 40% trong số đó là nguồn vốn ODA và nguồn vốn to lớn được huy
động từ dân”, như vậy trên thực tế xây dựng kết cấu hạ tầng đã cuốn hút toàn
xã hội tham gia, trong lĩnh vực đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không
thể không có sự đầu tư của cả xã hội. Cho dù tiếp cận bằng cách nào cũng dễ
dẫn đến sự khẳng định muốn mau chóng xây dựng kết cấu hạ tầng, mau
chóng hoàn chỉnh, sử dụng và khai thác có hiệu quả, phải có sự góp sức của
cả xã hội. Tuy nhiên các công trình kết cấu hạ tầng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã
hội phải được đầu tư đúng qui hoạch, kế hoạch cấp quốc gia; phải có nguồn
lực khổng lồ được phân khai và phân kỳ từng giai đoạn; phải có sự góp công

Tóm lại: kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là tổng hoà các yếu tố và điều
kiện vật chất - kỹ thuật được tạo lập trong một phạm vi quốc gia, một vùng,
một ranh giới địa lý, hành chính nhất định; là nền tảng cho sự phát triển sản
xuất và đời sống của cộng đồng tồn tại lâu dài và nó đánh dấu sự phát triển
của mỗi dân tộc, mỗi vùng và mỗi địa phương. Với vai trò là hàng hoá công
cộng, muốn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tốt phải huy động vốn đầu tư
của toàn xã hội và phải đầu tư, quản lý, sử dụng hiệu quả mọi nguồn vốn đầu
tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
1.1.1.2. Phân loại kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Kết cấu hạ tầng được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau:
- Phân chia theo tiêu thức ngành kinh tế quốc dân: Kết cấu hạ tầng của
các ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, Bưu chính Viễn
thông (kết cấu hạ tầng kinh tế), giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá thể dục thể
17
thao ... (kết cấu hạ tầng xã hội).
Kết cấu hạ tầng phục vụ lĩnh vực kinh tế: là hệ thống vật chất kỹ thuật
phục vụ cho sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế như hệ thống
giao thông vận tải; mạng lưới chuyên tải và phân phối năng lượng điện; hệ
thống thiết bị công trình và phương tiện thông tin liên lạc, bưu điện, viễn
thông và hệ thống thuỷ lợi, thuỷ nông phục vụ cấp, tưới tiêu nước.
Kết cấu hạ tầng phục vụ lĩnh vực văn hoá xã hội là toàn bộ hệ thống
vật chất kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động văn hoá xã hội đảm bảo cho
việc thoả mãn và nâng cao trình độ dân trí văn hoá tinh thần cho dân cư,
cho quá trình tái sản xuất sức lao động của xã hội như các cơ sở, thiết bị và
công trình phục vụ giáo dục đào tạo nghiên cứu khoa học các cơ sở y tế
phục vụ chăm sóc sức khoẻ ...
Cần chú ý rằng, sự phân tách trên đây chỉ là tương đối vì những kết cấu
hạ tầng vừa phục vụ kinh tế, vừa phục vụ cho các hoạt động của đời sống văn
hoá xã hội. Chẳng hạn như hệ thống mạng lưới điện mở rộng đến nông thôn,
đến vùng sâu, vùng xa giúp cho việc phát triển các cơ sở sản xuất sử dụng

việc quản lý, khai thác, sử dụng hệ thống các công trình kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội do từng cấp quản lý. Trên cơ sở đó để xây dựng kế hoạch huy động
vốn để đầu tư theo qui hoạch, kế hoạch.
- Phân loại theo tiêu chuẩn chất lượng kinh tế - kỹ thuật:
Các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đạt tiêu chuẩn quốc tế là
những công trình đạt kỹ thuật cao, chất lượng tốt, đảm bảo chuẩn mực quốc tế
qui định như: sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Nội bài, khách sạn 4, 5 sao …
Các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đạt tiêu chuẩn quốc
gia hay địa phương là những công trình chưa đạt chất lượng quốc tế mà còn
một vài hoặc nhiều điểm, yếu tố về kỹ thuật, mỹ thuật, chất lượng chưa đạt
19
so với yếu cầu như: hệ thống tải điện, hệ thống đường xá, cầu cống ở nước
ta hiện nay.
Cách phân loại này giúp cho nhà nước có những định hướng đầu tư
trọng tâm, trọng điểm, để nhanh chóng tạo điều kiện hoà nhập quốc tế và mở
rộng giao lưu quốc tế với việc phát triển kinh tế - xã hội trong nước.
1.1.1.3. Vai trò của kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có vai trò quan trọng, nó là tổng thể các
điều kiện, là cơ sở vật chất, kỹ thuật đóng vai trò nền tảng cơ bản cho các hoạt
động kinh tế - xã hội, là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư
trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
+ Đặc biệt đối với các nước đang phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội có vai trò mở đường, bà đỡ cho những hoạt động sản xuất, tiêu dùng, đời
sống sinh hoạt của toàn xã hội mới phát sinh phát triển.
+ Thông qua việc cung cấp điều kiện vật chất kỹ thuật cho công cuộc
phát triển kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế. Một quốc gia đang phát triển cần phải có đủ các dịch vụ
như giao thông vận tải, điện lực, viễn thông, nước, vệ sinh và môi trường
cùng với cơ sở vật chất ngành giáo dục, y tế, thể dục thể thao ... Nếu kết cấu
hạ tầng đó không tốt sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động lao động và đời sống

tựu của phát triển. Có thể nói phát triển hạ tầng là cách thức chống tụt hậu và
giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng và công bằng. Nó là cái gạch nối
giữa kinh tế và nhân văn và do đó, phát triển hạ tầng là một lĩnh vực tổng
hợp, lĩnh vực kinh tế - nhân văn.
1.1.2. Đặc điểm kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội
+ Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thể hiện tính hệ thống cao. Tính hệ
21
thống này liên quan đến sự phát triển đồng bộ, tổng thể kinh tế - xã hội. Bởi
vậy, việc quy hoạch tổng thể trong phát triển hạ tầng; phối, kết hợp giữa các
loại hạ tầng trong một hệ thống đồng bộ, sẽ giảm tối đa chi phí và tăng được
tối đa công dụng, hiệu năng của kết cấu hạ tầng, cả trong khi xây dựng lẫn
trong việc vận hành khi hệ thống kết cấu hạ tầng đã được hoàn thành và đưa
vào sử dụng. Tính chất đồng bộ, hợp lý trong sự phối hợp giữa các loại hạ
tầng không chỉ có ý nghĩa về kinh tế, mà còn có ý nghĩa lớn về bố trí dân cư,
tiết kiệm không gian, đất đai xây dựng và sẽ hình thành được một cảnh quan
văn hoá. Tính hợp lý là sự kết hợp của các kết cấu hạ tầng trong một hệ thống
đồng bộ mang tính kinh tế, xã hội nhân văn.
+ Các công trình kết cấu hạ tầng là những công trình xây dựng lớn,
chiếm chỗ trong không gian. Sự hữu hiệu của chúng đem lại một sự thay đổi
lớn cho cảnh quan và tham gia vào quá trình sinh hoạt của các địa bàn cư trú.
Trong khi xây dựng những công trình đó, người ta mới chú ý đến những công
năng chính của nó, mà quên đi, hay ít quan tâm đến khía cạnh xã hội, văn hoá
của những kết cấu hạ tầng đó, cho nên, đôi khi, nhờ những công trình đó,
người ta được hưởng một số dịch vụ cần thiết, thì đồng thời lại làm suy yếu
khía cạnh cảnh quan, văn hoá, gây trở ngại cho sinh hoạt của dân cư nếu như
công tác quy hoạch không được coi trọng.
+ Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là một lĩnh vực đòi hỏi có vốn đầu tư
lớn, thời gian đầu tư kéo dài.
Khi nói đến đầu tư kết cấu hạ tầng thì thường được biểu hiện bằng tổng
số tiền cần chi hoặc đã chi, quy mô vốn đầu tư lớn, bất kỳ nền kinh tế nào khi

nhân cơ bản làm giảm hiệu quả kinh tế của các công trình kết cấu hạ tầng. Để
khắc phục điều này, tất yếu phải tập trung vốn, nhờ đó để đầu tư xây dựng
23
trong một thời hạn ngắn nhất, nhờ đó có thể đưa công trình hạ tầng sớm nhất
vào sử dụng. Mặt khác, các công trình công cộng khó thu hồi vốn, do đó sẽ
khó khăn cho việc duy trì tái sản xuất ra những công trình hạ tầng đó. Vì thế,
việc xây dựng kết cấu hạ tầng đã khó, việc duy trì và tái sản xuất ra chúng lại
còn khó hơn. Việc hiện hữu những công trình xây dựng trong lĩnh vực này là
hiện hữu một đời sống kinh tế của nó, nhưng thiếu những nguồn vốn tự sản
sinh của những kết cấu hạ tầng đó sẽ có nguy cơ hoang phế dần những kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội. Bởi vậy, nếu những dự án, chương trình phát triển kết
cấu hạ tầng không tính hết điều này, thì sau khi xây dựng xong, để duy trì
những kết cấu hạ tầng này trong trạng thái bình thường, đòi hỏi phải có những
nguồn vốn từ bên ngoài đầu tư trực tiếp. Những khoản vốn này dễ trở thành
những gánh nặng nợ nần triền miên. Chi phí cần thiết cho một công cuộc đầu
tư lớn và phải nằm ứ đọng vốn trong suốt quá trình đầu tư, thời gian thu hồi
vốn dài, có những loại kết cấu hạ tầng không trực tiếp thu hồi vốn. Phần lớn
các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuộc lĩnh vực hàng hoá công
cộng, gắn liền với vai trò đầu tư của nhà nước, của xã hội. Điều này có nghĩa
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ cho sản xuất và đời sống cho nên đòi
hỏi lượng vốn đầu tư rất lớn. Được huy động trên tất cả các nguồn như: nguồn
tài chính, nguồn vốn tiềm năng, nguồn vốn vô hình…
+ Kết cấu hạ tầng chiếm chỗ trong không gian và khả năng kém chuyển
nhượng của chúng có thể là vật cản ngáng trở, ách tắc cho quá trình phát triển
kinh tế - xã hội. Không phải bản thân kết cấu hạ tầng quyết định hết thảy, mà
chỉ là một khâu, một yếu tố trong quá trình kinh tế - xã hội. Nó đơn thuần là
không gian trong đó diễn ra quá trình sản xuất, quá trình công nghệ và dịch
vụ, hoặc là các phương tiện chuyển tải các dịch vụ mà thôi. Do đặc điểm này
của kết cấu hạ tầng, nếu quá nhấn mạnh làm cho chúng phình to, vượt khỏi
những giới hạn của nó, cố nhiên sẽ dẫn tới chỗ rơi vào chủ nghĩa hình thức,

đã có ra để tiến hành các hoạt động nhằm duy trì và tạo ra tài sản mới cho nền
kinh tế, làm tăng năng lực sản xuất, kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác,
là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân.
Trong đầu tư tài sản vật chất, có đầu tư các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ
thuật, kiến trúc, thông tin, dịch vụ tài chính, tạo nền tảng cơ bản cho các hoạt
động kinh tế - xã hội.
Đầu tư sức lao động gồm đầu tư công sức và đầu tư trí tuệ của người lao động.
Hay có thể nói đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội bỏ một
lượng tiền vào việc tạo mới hay tăng cường cơ sở vật chất, các điều kiện kỹ thuật,
phương tiện, thiết chế, tổ chức làm nền tảng cho kinh tế - xã hội phát triển.
Trong thời gian bao cấp, vốn đầu tư chưa được chú ý đúng mức, các
quan hệ tài chính tiền tệ bị bóp méo, bản chất đích thực của vốn bị lu mờ.
Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay thì đồng vốn mới được bộc lộ
đúng bản chất, vai trò của nó. Mác đã khái quát phạm trù vốn qua phạm trù tư
bản “tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư”. Vốn đầu tư được thể hiện qua
5 đặc trưng cơ bản sau:
- Vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản, tài sản có thực,
vốn là tiền, nhưng không phải mọi đồng tiền đều là vốn, chỉ khi nào chúng
được sử dụng vào mục đích kinh doanh thì mới biến thành vốn. Cũng như tiền
vốn là một bộ phận của tài sản nhưng không phải là mọi tài sản đều được coi
là vốn. Tài sản có thể là hữu hình và có thể là vô hình những tài sản này nếu
được giá trị hoá và đưa vào đầu tư thì được gọi là vốn đầu tư.
- Vốn bao giờ cũng có người chủ đích thực.
- Trong nền kinh tế thị trường thì vốn phải được quan niệm là hàng hoá
đặc biệt, vốn là hàng hoá đặc biệt được thể hiện: giá trị của vốn được sử dụng
để sinh lời và quyền sở hữu vốn với quyền sử dụng vốn có thể được gắn với
nhau, song có thể tách rời nhau.
- Đồng vốn có giá trị về mặt thời gian, ở từng thời điểm khác nhau.
26


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status