Nhóm 8 – LHP 1118TLAW01111
Đề tài": “ Phân tích các trường hợp làm
giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp
lí của giao dịch dân sự vô hiệu "
1
Nhóm 8 – LHP 1118TLAW01112
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu 1
Chương I: Giao dịch dân sự vô hiệu. Các trường hợp làm
giao dịch dân sự vô hiệu 2
I. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu 2
II. Các trường hợp làm giao dịch dân sự vô hiệu 3
Chương II: Hậu quả pháp lí của giao dịch dân sự vô hiệu 6
I. Hậu quả pháp lí chung của giao dịch dân sự vô hiệu 6
II. Bảo vệ quyền lợi của người thứ 3 ngay tình khi GDDS vô hiệu
8
Chương III: một số tình huống cụ thể làm giao dịch dân sự vô
hiệu 9
Kết luận 13
Tài liệu tham khảo 14
2
Nhóm 8 – LHP 1118TLAW01113
LỜI MỞ ĐẦU
Giao dịch dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá nhân,
pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập và thực hiện các quyền nghĩa vụ
dân sự nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng, và trong sản
xuất kinh doanh. Giao dịch dân sự càng có ý nghĩa qua trọng trong điều kiện
của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta trong giai đoạn hiện
nay. Thực tế cho thấy việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiều và giải quyết
c. Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
d. Hình thức của giao dịch phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Như vậy những giao dịch dân sự nếu vi phạm 1 trong 4 điều kiện nêu trên
thì bị coi là vô hiệu.
3.Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu
a. Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ
Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ xảy ra khi toàn bộ nội dung của giao dịch
dân sự đó vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc một
trong các bên tham gia giao dịch đó không có quyền xác lập giao dịch dân
sự.Khi đó toàn bộ nội dung của giao dịch đó không có hiệu lực.
Ví dụ: A và B giao kết với nhau 1 hợp đồng mua bán ma túy tổng hợp.
Hành vi này đã vi phạm điều cấm của pháp luật nước ta =>đây là 1 hợp
đồng bị vô hiệu toàn bộ.
b. Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần
4
Nhóm 8 – LHP 1118TLAW01115
Giao dịch vô hiệu từng phần là giao dịch mà trong đó chỉ có 1 phần hoặc
một số phần của giao dịch đó vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực
của các phần còn lại. Khi đó chỉ phần vô hiệu là không có hiệu lực, các
phần còn lại vẫn có hiệu lực thi hành.
Ví dụ: công ti A và công ti B kí kết hợp đồng giao nhận hàng hóa địa điểm
giao hàng là cảng C nhưng người giao hàng lại đưa tới cảng D gần đó =>
trường hợp này hợp đồng bị vô hiệu 1 phần do vi phạm về địa diểm giao
nhận hàng hóa nhưng không ảnh hưởng tới hiệu lực của những phần khác
như chất lượng sản phẩm, thời gian giao hàng, …
II. Các trường hợp làm giao dịch dân sự vô hiệu
1.Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm xã hội, trái đạo
đức xã hội
Điều 128 BLDS quy định Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi
phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp
nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô
hiệu.
Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về
nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại điều 132 bộ
luật này.
Tuy nhiên trong thực tế khi áp dụng chế định này thì xuất hiện không
ít bất cập về khái niệm “nhầm lẫn” hay nguyên nhân gây nhầm lẫn.
Ví dụ: A bán cho B một món đồ cổ. Cả 2 đã cùng nghĩ món đồ cổ này
thuộc thế kỉ 16 nên định giá nó là 100 triệu. Một thời gian sau cả 2 lại biết
được món đồ đó ở thế kỉ 11 và giá trị của nó là 300 triệu. Rõ ràng ở đây 2
bên đều nhầm lẫn. Nhầm lẫn của A xuất phát từ chính anh ta , không hề có
tác động nào từ B, tức là không hề có lỗi của bên B.Vì vậy A không thể
yêu cầu Tòa tuyên bố giao dịch này vô hiệu do nhầm lẫn và đòi B phải trả
đúng giá trị của món đồ cổ được.
4. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa
Điều 132 BLDS quy định
Khi một bên tham gia giao dịch do bị lừa dối, đe dọa thì có quyền yêu
cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó bị vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người
thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối
tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người
thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nằm tránh thiệt hại
về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc
của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.
Lừa dối và nhầm lẫn đều là những khiếm khuyết của sự thể hiện ý chí
của các bên trong giao kết hợp đồng và đều giống nhau ở chỗ cả hai đều
liên quan đến việc trình bày một cách trực tiếp hay gián tiếp về những sự
việc không đúng sự thật hay không tiết lộ một sự thật. Song sự lừa dối
6. Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức
và làm chủ được hành vi của mình
Điều 133 BLDS quy định
Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào
đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có
quyền yêu cầu Tòa án tuyên bó giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Việc phân định trách nhiệm bồi thường thiệt hại phụ thuộc vào lỗi của
các bên tham gia.
7. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm các quy định bắt buộc về
hình thức
Điều 134 BLDS quy định
Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là
điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo
yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của
giao dịch trong một thời hạn, quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao
dịch đó vô hiệu.
7
Nhóm 8 – LHP 1118TLAW01118
Điều 124 BLDS quy định giao dịch dân sự có thể bằng lời nói, bằng
văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Hình thức phổ biến nhất trong giao dịch dân sự là giao dịch bằng lời
nói. Trong thực tế loại giao dịch này được thực hiện ngay và chấm dứt
ngay sau đó, thường áp dụng với những tài sản có giá trị không lớn. Ví dụ:
B đến cửa hàng A để mua 10 thùng sữa. Sau khi A giao sữa cho B B trả đủ
tiền cho A.Giao dịch này coi như chấm dứt. A không thể tiếp tục đòi B trả
tiền sữa và B cũng không thể yêu cầu A giao thêm sữa.
Hình thức giao dịch bằng văn bản thường áp dụng với những tài sản
có giá trị lớn. Nội dung của giao dịch được ghi rõ trong văn bản, có chữ kí
của các bên tham gia. Trong trường hợp pháp luật quy định phải có công
kết
Như vậy khi giao dịch vô hiệu thì quyền và nghĩa vụ của các bên
không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Nếu hợp đồng chỉ mới xác lập
mà chưa thực hiện thì các bên không được phép thực hiện, còn trường hợp
đang thực hiện thì không tiếp tục thực hiện nữa, nếu hợp đồng đã thực hiện
thì các bên xử lí tài sản.
2. Khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì
đã nhận
Theo pháp luật Việt Nam khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, các bên
phải khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận,
nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền.
Thực tế ở nước ta cho thấy, việc hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
chưa thực sự đảm bảo lợi ích của các chủ thể. Điển hình đối với các giao
dịch có đối tượng là nhà, quyền sử dụng đất. Ví dụ: A chuyển nhượng cho
B một diện tích đất ở, khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu, B phải trả đất cho A,
A phải trả tiền cho B. thực tế cho thấy nguyên đơn thường là bên chuyển
nhượng. Đối với bên chuyển nhượng (tức là bên A) thì việc lấy lại đất là
thỏa đáng. Nhưng đối với bên được chuyển nhượng (bên B) việc trả lại đất
cho bên bán là một tổn thất rất lớn đối với họ. Bởi vì cho dù có nhận lại
đúng số tiền họ bỏ ra trước đây thì họ cũng không bao giờ mua được một
diện tích đất như vậy nữa. Trong trường hợp bên A có lỗi trong việc xác
lập giao dịch bên B được bồi thường thiệt hại song khoản bồi thường đó
cũng không thể bù đắp được mất mát thực tế mà B phải chịu khi hợp đồng
vô hiệu.
Việc xử lí hậu quả giao dịch vô hiệu càng trở nên phức tạp hơn trong
trường hợp bên nhận tài sản đã sửa chữa, cải tạo tài sản đó hay nói cách
khác là làm tăng giá trị của tài sản đó.
Về quy định tính thành tiền để hoàn trả trong trường hợp không thể
hoàn trả được bằng hiện vật.bộ luật quy định như vậy nhưng không nêu rõ
khi nào thì “không hoàn trả được bằng hiện vật” và “hoàn trả bằng tiền” thì
lực hành vi dân sự, hoặc có người giám hộ đại diện hợp pháp.
- Họ đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và được hưởng những quyền dân sự
trong giao dịch họ xác lập.
- Nội dung mục đích của giao dịch không trái quy định pháp luật và
đạo đức xã hội.
2. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình.
Điều 138 BLDS quy định
1. Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch
là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng
một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ
ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này.
2. Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản
phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác
cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ
10
Nhóm 8 – LHP 1118TLAW011111
trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán
đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này
không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.
Trường hợp của hợp đồng vô hiệu có đền bù là động sản không đăng
kí quyền sở hữu bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu ( bị mất cắp, bị
lừa dối, đe dọa, nhầm lẫn,…) thì theo điều 257 Bộ luật này, chủ sở hữu có
quyền đòi lại tài sản khi chứng minh được đó là tài sản của mình.
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ TÌNH HUỐNG CỤ THỂ LÀM GIAO DỊCH
DÂN SỰ VÔ HIỆU
1. Tình huống 1
Anh H. có mua của người chị họ tên N. một thửa đất. Vì là anh em họ
nên họ không lập hợ đồng có công chứng mà chỉ làm giấy tờ viết tay có
làm đúng thủ tục là bên có lỗi. Khi đó anh H. phải giao trả đất cho chị N.
đồng thời chị N. phải trả lại số tiền anh H đã bỏ ra để mua mảnh đất. Bên
có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.
2. Tình huống 2
Bà O. đến một đại lí bán vé máy bay tại quận 2 đặt mua 2 vé máy bay
để đưa con sang Mỹ du học. Khi giao dịch với phòng vé bà O. đặt mua vé
máy bay đi Washington, đồng thời còn đưa ra các tài liệu xác nhận việc du
học của con bà. Phòng vé đã bán cho bà 2 vé đi Washington D.C ( tức thủ
đô Hoa kỳ). Trong khi đó ý muốn của bà cũng như các tài liệu xác nhận
việc du học của con bà đều cho thấy nơi con bà học là thành phố Seattle ở
tiểu bang Washington. Hậu quả là khi đến thủ đô nước Mỹ, bà O. phải chi
thêm gần 1.500 USD để mua thêm 1 vé cho con bà đến thành phố Seattle.
Khi trở về nước, bà O. đòi đại lý bán vé máy bay bồi thường cho bà số
tiền mua thêm một chiếc vé đó. Vậy bà O. có thể đòi bồi thường được
không?
Theo các quy định hiện hành của Bộ luật Dân sự, thì giao dịch giữa bà
O. và đại lý bán vé là hợp đồng dịch vụ. Bà O. có nghĩa vụ cung cấp thông
tin, tài liệu, giấy tờ cần thiết cho bên đại lý để đại lý thực hiện đúng yêu
cầu của bà. Khi tiếp nhận các thông tin đó, đại lý, thông qua trình độ
chuyên môn của nhân viên phòng vé, cần phải xem xét, đối chiếu giữa yêu
cầu bằng lời nói của bà O. và các tài liệu, giấy tờ liên quan để xác định
đúng nội dung giao dịch, tức ý muốn đích thực của bà O là bay đến địa
điểm nào trên đất Mỹ.
Khi "anh" bán vé máy bay cho khách hàng thì nghiệp vụ căn bản
quan trọng đầu tiên là vấn đề khách hàng đi đâu (destination), ngày giờ
khởi hành và giá vé thế nào. Nếu yêu cầu của bà O. và giấy gọi nhập học,
chẳng hạn, có điểm nào mâu thuẫn thì nhân viên của đại lý hoàn toàn có
thể phát hiện ra ngay và đề nghị bà O. xác nhận lại nơi đến là thành phố
nào ở Mỹ.
Nếu đại lý có "tuyên bố" trước hay thoả thuận với khách hàng rằng
- Điều 132, Bộ luật Dân sự hiện hành có quy định: “Khi một bên
tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu
cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu”.
Đe dọa trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc
người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh
thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của
mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.
Cũng theo quy định tại điều 136 của bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu
tòa án tuyên bố giao dịch dân sự trong trường hợp bị đe dọa hoặc lừa dối
là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập.
Theo đó, trường hợp trên anh M. có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án
tuyên bố hợp đồng tặng cho nhà giữa anh và vợ anh là vô hiệu. Để có căn
cứ yêu cầu tòa án thụ lý giải quyết, anh M. phải cung cấp các bằng chứng
cho rằng mình đã bị đe dọa dẫn đến việc lo sợ miễn cưỡng phải ký tên
tặng cho nhà. Chứng cứ ở đây có thể là người làm chứng, băng ghi âm,
thư từ, tin nhắn
13
Nhóm 8 – LHP 1118TLAW011114
Khi anh M. cung cấp đủ chứng cứ chứng minh được anh bị đe dọa
dẫn đến phải kí tên, Tòa án sẽ tuyên hợp đồng cho tặng nhà này vô hiệu
do bị đe dọa. Người vợ phải trả lại quyền đồng sở hữu căn nhà cho anh
M., đồng thời phải bồi thường thiệt hại về tinh thần cho anh M.
4. Tình huống 4
Con trai ông K. nghiện ma túy, Tòa án đã ra quyết định tuyên bố là
người hạn chế năng lực hành vi dân sự, đồng thời chỉ định ông K. là người
đại diện. Tháng 1 vừa qua anh con trai ông K. đã mang chiếc xe máy do
anh ta đứng tên ra tiệm cầm đồ gần nhà cầm chiếc xe đó lấy tiền hút
thuốc. Ông K. có thể đòi lại chiếc xe đó được không?
Khoản 2 Điều 23 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Giao dịch dân sự
liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có
4. Tạp chí Khoa học Pháp luật số 4- 2011
5. Báo Hà Nội mới
6. Báo điện tủ Chính Phủ : baodientu.chinhphu.vn
7. Trang web luattructuyen.net
www.wattap.com
17
Nhóm 8 – LHP 1118TLAW011118
18