LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn thầy - Thạc sĩ Hoàng Xuân Thành và các thầy
cô giáo tổ lịch sử Việt Nam đã tận tình chỉ bảo, đóng góp ý kiến giúp em hoàn
thành khóa luận sớm và chất lượng
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn trong lớp K53 Đại học sư
phạm Lịch Sử A, Trung tâm Thư viện Trường Đại học Tây Bắc, Thư viện Tỉnh
Sơn La đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi có thể hoàn thành khóa luận một cách
tốt nhất.
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, ngày 10 tháng 05 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Thào Thị Giế
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn khóa luận ........................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 2
3. Đóng góp của khóa luận .................................................................................... 3
4. Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu ................................................. 4
5. Cấu trúc khóa luận............................................................................................. 5
CHƯƠNG 1. MỘT VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN
THỐNG CỦA NHÂN DÂN SƠN LA ................................................................ 6
1.1. Điều kiện tự nhiên, dân cư và truyền thống văn hóa của nhân dân Sơn La
............................................................................................................................... 6
1.1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên ................................................................ 6
1.1.2. Con người và truyền thống văn hóa của nhân dân Sơn La ......................... 8
1.2. Sơn La vùng đất lịch sử và giàu truyền thống cách mạng ............................. 9
1.2.1. Phong trào chống Pháp xâm lược đến trước năm 1954 .............................. 9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn khóa luận
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), nhân dân Việt
Nam đã kế thừa và phát huy truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc.
Chúng ta đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh tan âm mưu
xâm lược của đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc thống nhất nước nhà. Chiến thắng
đó đi vào lịch sử dân tộc như một bản hùng ca chói lọi và sẽ sống mãi cùng thời
gian trong tâm trí của các thế hệ người Việt Nam và lịch sử thế giới như một chiến
công vĩ đại của thế kỷ XX.
Đến cuối những năm 1964, đế quốc Mỹ lâm vào khủng hoảng trong cuộc
chiến tranh xâm lược Việt Nam và có nguy cơ bị thất bại hoàn toàn. Để giải quyết
những khó khăn trên Mỹ một mặt đưa quân ồ ạt vào miền Nam nước ta, mặt khác
Mỹ lại tiến hành một cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc với quy mô lớn, với
mục tiêu đưa miền Bắc nước ta trở lại thời kỳ đồ đá, cuộc chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mỹ được thực hiện trong thời gian dài, hết sức ác liệt và đã tàn phá
nặng nề những thành quả mà nhân dân ta đã tốn bao công sức xây dựng trong
những năm tháng độc lập.
Trong bối cảnh đó nhân dân miền Bắc nói chung và nhân dân Sơn La nói
riêng đã dồn hết sức người, sức của để chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của
Mỹ. Với tinh thần vì miền Nam thân yêu, nhân dân miền Bắc không chịu khuất
phục và đã anh dũng chiến đấu và hai lần chiến thắng chiến tranh phá hoại của đế
quốc Mỹ bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng đã giành được từ năm 1954.
Sơn La, một tỉnh nằm ở Tây Bắc của miền Bắc Việt Nam, có địa thế, thế chiến
lược hết sức quan trọng: Nối Hà Nội, các tỉnh ở trung du và đồng bằng bắc bộ với
các tỉnh ở Tây Bắc Việt Nam. Là tỉnh có biên giới nối với nước Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào, đang cùng cả nước chống Mỹ. Những thành tích và những đóng
góp của nhân dân Sơn La từ năm 1965 - 1972 đi vào lịch sử dân tộc. Vì vậy tôi
chọn đề tài “Nhân dân Sơn La thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ 1965 - 1972” với mong muốn hiểu rõ hơn về quá trình thực hiện nhiện vụ hậu
miền Nam để cuộc chiến đấu nhanh chóng đi đến thắng lợi.
“Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La” [10] của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
cũng là một trong những tác phẩm làm nổi bật lên những chiến tích và sự đóng
2
góp của nhân dân Sơn La trong cuộc chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Đó là,
quá trình lãnh đạo chỉ đạo cách mạng của Đảng bộ tỉnh, quá trình xây dựng và
phát triển của Đảng bộ cùng phong trào cách mạng sôi nổi và hào hùng của nhân
dân các dân tộc Sơn La dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, khu ủy Tây Bắc
và Đảng bộ tỉnh Sơn La trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống
chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Sơn La còn được phản ánh một
cách đầy đủ và khá toàn diện trong cuốn “Sơn La - lịch sử kháng chiến chống
Mỹ cứu nước” [2] của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Sơn La. Cuốn sách đã nêu lên
được những thành tích và những đóng góp to lớn của nhân dân Sơn La trong
thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế xã hội, củng cố anh ninh quốc phòng
(1954 - 1964) trong thời kỳ vừa sản xuất vừa chiến đấu bảo vệ hậu phương xã
hội chủ nghĩa vừa làm nghĩa vụ quốc tế (1965 - 1968) và trong thời kỳ củng cố
tăng cường sức mạnh hậu phương làm nhiệm vụ quốc tế đóng góp sức người
sức của cùng cả nước tiến tới giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước
(1969 - 1975).
Thực chất các công trình đã nghiên cứu cụ thể và chi tiết về cuộc kháng chiến
chống Mỹ. Khóa luận này đi sâu nghiên cứu giai đoạn 1965 - 1972 cũng là giai đoạn
Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta. Vì vậy, trên tinh thần kế thừa
những thành tựu của những công trình nghiên cứu đi trước cùng với việc vận dụng
kiến thức đã học và các nguồn tài liệu khác có liên quan khóa luận đi sâu vào tìm
hiểu cụ thể và chi tiết để làm rõ những chiến công, chiến tích của nhân dân Sơn La
trong cuộc chiến chống đế quốc xâm lược.
3. Đóng góp của khóa luận
của bộ môn Lịch sử, đó là phương pháp Lịch sử. Từ đó khôi phục lại bức tranh
đầy màu sắc của nhân dân Sơn La trong cuộc đấu tranh chống lại các cuộc chiến
tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Phương pháp logic: trên cơ sở những sự kiện, số liệu cụ thể khóa luận rút
ra những nhận định đánh giá tiếp cận bản chất của các sự kiện lịch sử.
Để thực hiện được khóa luận tác giả cũng chú trọng thực hiện công tác
điền dã, để khóa luận có thể tái hiện lại cũng như phản ánh đúng nhất những thành
quả mà nhân dân Sơn La đã đạt được trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
4
5. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của khóa luận được tiến
hành qua 3 chương:
Chương 1. Một vài nét về vùng đất, con người và truyền thống của nhân
dân Sơn La.
Chương 2. Nhân dân Sơn La chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
(1965 - 19672).
Chương 3. Những đóng góp của nhân dân Sơn La trong chiến tranh chống
phá hoại của đế quốc Mỹ và rút ra bài học kinh nghiệm.
5
CHƯƠNG 1. MỘT VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN
THỐNG CỦA NHÂN DÂN SƠN LA
1.1. Điều kiện tự nhiên, dân cư và truyền thống văn hóa của nhân dân
Sơn La
1.1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Sơn La thuộc miền núi cao biên giới, nằm ở phía tây Bắc Bộ, được định vị
rất thuận lợi cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi. Cánh đồng Mường Tấc (Quang
Huy) huyện Phù Yên là một trong bốn cánh đồng lớn nhất vùng Tây Bắc, nơi sản
xuất lương thực tập trung của tỉnh.[10]
Khí hậu Sơn La thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt.
Mùa hè trùng với mùa mưa, thường từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch, mưa nhiều,
độ ẩm cao, lượng mưa trung bình năm phổ biến từ 1.400mm - 1.800mm. Mùa
đông trùng với mùa khô lạnh, ít mưa, khô hanh từ tháng 10 năm trước đến tháng
3 năm sau, tuy nhiên khí hậu Sơn La lại có sự phân hóa không gian rất phức tạp
tạo thành những vùng tiểu khí hậu có đặc điểm riêng do ảnh hưởng của độ cao địa
lý và địa hình. Ở mức độ khái quát, khí hậu Sơn La chủ yếu được chia thành 3
vùng sau: Vùng khí hậu phía bắc; Vùng khí hậu phía tây và tây nam; Vùng khí
hậu phía đông và đông nam. Khí hậu Sơn La nói chung mát mẻ, nhiệt độ trung
bình năm từ 20 - 25ºC, nhiệt độ cao nhất từ 30 - 35ºC, thậm chí có nơi đến
38ºC, nhiệt độ thấp nhất từ 10 - 15ºC, ở những nới núi cao có thể xuống dưới
5ºC. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy, Sơn La có nhiều điều kiện thuận
lợi để phát triển kinh tế. Hiện nay tỉnh Sơn La quy hoạch thành 3 vùng kinh tế
nhằm tập trung đầu tư phát triển và khai thác các tiềm năng, lợi thế của từng
vùng như: Vùng kinh tế quốc lộ 6 chiếm 22% diện tích, Vùng kinh tế lòng hồ
Sông Đà chiếm 21,1% diện tích, Vùng cao biên giới chiếm 65,8% diện tích.
Sơn La có hai con sông lớn chảy qua đó là sông Đà và sông Mã, chảy theo
hướng tây bắc - đông nam. Hai con sông này đóng vai trò là con đường huyết
mạch trong công cuộc chiến đấu và xây dựng tỉnh Sơn La. Bên cạnh đó, Sơn La
còn có hệ thống suối lớn nhỏ, phân bố khắp vùng, với hệ thống suối dày đặc của
địa hình núi cao, dốc đứng đã tạo khả năng phát triển hệ thống thủy điện và thủy
lợi nhỏ, đáp ứng một phần điện sinh hoạt cho nhân dân và phục vụ sản xuất.
7
Rừng Sơn La có nhiều lâm, thổ sản quý hiếm, hàng năm cung cấp nguyên
và sinh hoạt văn hóa văn nghệ mang đậm nét đặc trưng vốn có của dân tộc mình.
Nhưng cùng sống chung trên một vùng đất, các dân tộc Sơn La đều có đức tính
cần cù, dũng cảm trong lao động và đấu tranh, sống chất phác, thật thật, rộng
lượng, hiếu khách; có tinh thần đoàn kết và tính cộng đồng cao. Đặc biệt các dân
tộc Tây Bắc nói chung, Sơn La nói riêng luôn có các tín ngưỡng thờ cúng rất đa
dạng như thờ cúng trời đất, tổ tiên bằng những nghi thức, lễ hội phong phú mang
bản sắc riêng của từng dân tộc. Mỗi dân tộc lại có nền văn học dân gian cổ truyền
rất phong phú về các thể loại như: bộ thi Tay Pú Xấc ( Bước đường chinh chiến
của ông cha), sử truyền thuyết lịch sử, thần thọa, cổ tích, ca dao, dân ca, tục ngữ
cùng các làn điệu dân ca, các điệu múa dân gian đặc sắc ( Kể chuyện bản mường)
. Ngày nay dưới chế độ mới các phong tục, tập quán lạc hậu đang được cải tạo,
ngoài vấn văn hóa cổ truyền tốt đẹp được khuyến khích phát triển, đồng bào các
dân tộc còn được tiếp thu những tinh hoa văn hóa hiện đại của các dân tộc anh em
trong nước và quốc tế, làm đẹp thêm truyền thông văn hóa đặc sắc của các dân
tộc tỉnh Sơn La.
1.2. Sơn La vùng đất lịch sử và giàu truyền thống cách mạng
1.2.1. Phong trào chống Pháp xâm lược đến trước năm 1954
Từ thế kỷ XIX, chủ nhĩa tư bản trên thế giới phát triển nhanh chóng. Chủ
nghĩa thực dân - con đẻ của chủ nghĩa tư bản ngày càng uy hiếp mạnh các nước
có nền kinh tế chậm phát triển. Hai lục địa lớn là châu Âu và châu Á trở thành
mục tiêu xâm lược chủ yếu của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Cuộc chạy đua
tìm kiếm thị trường mới, xâm chiếm thuộc địa, phân chia thế giới giữa các nước
tư bản lớn ngày càng gay gắt, quyết liệt. Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai
đoạn cuối cùng của nó là chủ nghĩa đế quốc thì tất cả các nước chậm phát triển
đều trở thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa của chúng.[10]
Ở Việt Nam, từ thế kỷ XVI chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu khủng
hoảng và đến thế kỷ XIX đã ở thời điểm nghiêm trọng. Trong bối cảnh chế độ
phong kiến Việt Nam đang khủng hoảng, suy yếu trầm trọng thì thực dân pháp
lực lượng chênh lệch rất nhiều so với địch, song nghĩa quân đã dựa vào pháo đài
Dua Cá, chiến đấu rất anh dũng, gây cho địch nhiều thiệt hại. Ở Mộc Châu, thủ
lĩnh Sa Văn Nọi (đã từng tham gia nghĩa quân thập châu trước đây) tập hợp nghĩa
quân ở Phiêng Luông chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, gây cho chúng
nhiều thiệt hại. Do có nội phản Sa Văn Nọi bị bắt.[11]
10
Năm 1888, ở Phù Yên có phong tròa “Quan Sinh” của đòng bào Dao Ở
Mường Thải, Mường Cơi. Phong trào được nhân dân khắp nơi hưởng ứng và phát
triển mạnh. Có thời kỳ nghĩa quân lên tới 400 người, đặc biệt có nhiều phụ nữ
Dao tham gia. Ngoài người Dao còn có các dân tộc anh em khác. Nghĩa quân
Quan Sinh hoạt động mạnh ở vùng Mường, phát triển đến cả vùng núi (Phú Thọ
ngày nay), thường xuyên đột nhập, tập kích các đồn lẻ và chặn đứng nhiều cuộc
hành quân cướp phá của địch. Ngày 18 tháng 5 năm 1889 tại Xuân Tình - Phú
Thọ trong một trận đánh giằng co quyết liệt, do chênh lệch về tương quan lực
lượng Quan Sinh bị bắt và bị kẻ thù giết hại, phong trào lắng xuống.
Năm 1897, tại Mường Bú (Mường La) nổ ra cuộc bạo động chống Pháp do
ông Bô, ông Khụt lãnh đạo giết chét nhiều tên phìa Phanh và tên xổng Chom…lực
lượng nghĩa quân khá mạnh, bọn Pháp phải kéo quân từ tỉnh lỵ về đàn áp.[5]
Sau hơn 10 năm phong trào Cần Vương kết thúc, thực dân Pháp bình định
song Sơn La. Năm 1908, chúng xây dựng nhà tù Sơn La tại Tỉnh lỵ nhằm đàn áp
tinh thần đấu tranh của nhân dân. Những người phạm tội bị Pháp bắt và giam tại
nhà tù này.
Trong chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), nhân dân Sơn La bị bóc
lột nặng nề về người và của làm cho tinh thần đấu tranh của quần chúng lên cao.
Từ năm 1914 - 1917, hưởng ứng phong trào chống Pháp ở Sầm Nưa (Lào) do
Lường Sám khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân các dân tộc Sơn La đã nổi dậy theo
thủ lĩnh các châu mường kiên quyết chống thực dân Pháp. Năm 1914, ở Mu Tưi,
Nà Gia, Chờ Lồng, Mường Ái…vùng giáp gianh giữa Mộc Châu - Yên Châu và
tức trở lại Sơn La, kịp thời lãnh đạo nhân dân nổi dậy khởi nghãi giành chính
quyền. Lúc này phong trào cách mạng ở Sơn La rất sôi nổi, tin Nhật đầu hàng
Liên Xô và các nước Đồng Minh làm cho quân Nhật tại Sơn La vô cùng hoảng
loạn, giờ tận số của chúng đã đến. Phải chớp lấy thời cơ giành chính quyền. Mặc
dù chưa được lệnh khởi nghĩa của Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ nhưng các đồng
chí lãnh đạo địa phương đã quyết định phát động nhân dân Mường Chanh nổi dậy
khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, trung đội du kích
Mường Chanh cùng đông đảo quần chúng nhân dân tiến vào bao vây nhà chánh
phìa Cầm Văn Mở - chánh phìa đi vắng, trước áp lực của lực lượng cách mạng,
ông Pằn Cầm Văn Bao đã đầu hàng, trao nộp ấn tín cho cách mạng. Đại diện khởi
nghĩa là Nông Văn Mệnh và Cầm Vĩnh Tri đã tuyên bố từ nay xóa bỏ chế độ phìa
12
tạo, chính quyền thuộc về nhân dân và cử chính quyền cách mạng lâm thời ở
Mường Chanh do ông Lò Văn Đức làm chủ tịch. Cuộc khởi nghĩa ở Mường Chanh
nhanh chóng giành được thắng lợi, càng động viên, cổ vũ, khích lệ nhân dân Mai
Sơn đứng lên giành chính quyền trong toàn châu.
Đồng chí Chu Văn Thịnh và Cầm Văn Minh lên tới Mai Sơn, được tin
Mường Chanh đã khởi nghãi và giành được chính quyền, đồng chí Cầm Văn Minh
được giao trách nhiệm về Mường Chanh cùng các đồng chí lãnh đạo ở địa phương
phối hợp, tổ chức lực lượng tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền ở Châu lỵ
Mai Sơn, Yên Châu và phối hợp để giải phóng Tỉnh lỵ.
Ngày 21 tháng 8 năm 1945, về Tỉnh lỵ, ngay tối hôm đó đồng chí Chu Văn
Thịnh đã triệu tập cuộc họp Ban lãnh đạo khởi nghĩa, triển khai chỉ thị Trung ương
và Xứ ủy Bắc Kỳ về tiến trình tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, bàn định kế hoạch
tổ chức, lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh. Đêm 22 tháng 8
năm 1945, tại Mường La dưới sự chỉ huy của đồng chí Lô Xuân và Nguyễn Tử
Du với lực lượng vũ trang gồm 50 người được trang bị vũ khí đầy đủ và đông đảo
quần chúng nhân dân đã bao vây nhà tri châu Bế Văn Điềm. Trước áp lực cảu
kết một lòng, hăng say lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm hàn gắn
vết thương chiến tranh, xây dựng lại cuộc sống bản mường.
Ngày 7 tháng 5 năm 1955, đúng ngày kỉ niệm một năm chiến thắng Điện
Biên Phủ, Khu tự trị Thái - Mèo được thành lập. Khu tự trị bao gồm hai tỉnh Sơn
La, Lai Châu, 2 huyện Than Uyên và Văn Chấn của tỉnh Yên Bái và huyện Phong
Thổ của tỉnh Lào Cai. Tháng 6/1955, Ban chấp hành Đảng bộ Khu Tây Bắc họp
và ra nghị quyết về nhiệm vụ công tác trong giai đoạn này như: tăng cường đoàn
kết các dân tộc, các tầng lớp nhân dân trong khu để ra sức khôi phục kinh tế, bước
đầu phát triển văn hóa, đồng thời tích cực giáo dục, bồi dưỡng và đào tạo cán bộ
các dân tộc, củng cố tổ chức và lực lượng vũ trang
Ngày 7 tháng 5 năm 1959, nhân dịp kỉ niệm 5 năm chiến thắng Điện Biên
Phủ, chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn Đảng và chính phủ lên thăm Tây Bắc.
Đồng bào Sơn La có vinh dự đặc biệt được thay mặt đồng bào các dân tộc trong
khu tổ chức mít tinh trọng thể đón người tại thị trấn Thuận Châu. Ngày 8 tháng 5
năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn đã đến thăm và làm việc với các
địa phương Yên Châu, Mộc Châu và nông trường quân đội Mộc Châu. Người
tham dự mít tinh, gặp gỡ, nói chuyện thân mật với cán bộ, chiến sĩ và đồng bào
14
các dân tộc. Bác biểu dương thành tích bước đầu của nhân dân đặc biệt là tình
đoàn kết giữa các dân tộc, đây là tiền đề quan trọng để xây dựng địa phương vững
mạng về mọi mặt của đồng bào Tây Bắc.[4]
Đến năm 1961, trụ sở khu tự trị Tây Bắc rời từ Thuận Châu về tỉnh lỵ Sơn
La. Do yêu cầu cấp thiết của việc kiện toàn tổ chức, củng cố cơ sở ngày
26/10/1961 thị xã Sơn La được thành lập gồm khu phố Chiềng Lề (Chiềng Lề,
Quyết Thắng) và xã Chiềng Cơi. Ngay từ khi mới thành lập, Thị xã được xác định
là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế của Khu, Tỉnh, tạo điều kiện cho việc xây
dựng đô thị mới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Cũng trong năm 1961 thủ
tướng Phạm Văn Đồng lên thăm Tây Bắc và tặng cho Tây Bắc là “Hòn ngọc ngày
chức, chuyển hướng xây dựng kinh tế và tăng cường lực lượng quốc phòng, vừa
ra sức chiến đấu vừa tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm nghĩa vụ hậu
phương, nghĩa vụ quốc tế.[7]
2.1.2. Âm mưu, chủ trương của đế quốc Mỹ đối với Sơn La
Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc, Sơn La là một trong những trọng
điểm đánh phá ác liệt của đế quốc Mỹ, đặc biệt là Trường Quân Chính đóng tại
Thuận Châu. Ngay từ tháng 5-1965 quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của
Trung ương Đảng, Tỉnh ủy ra Nghị quyết chuyển mọi hoạt động từ thời bình sang
thời chiến, đã phân tích làm rõ âm mưu của đế quốc Mỹ đối với Sơn La đó là: Sơn
16
La có nhiều dân tộc trình độ phát triển không đều, đánh vào Sơn La là đánh vào
nhân dân các dân tộc toàn khu, tiêu diệt sinh lực của ta, đánh phá các vị trí quân
sự, đường giao thông, các phương tiện giao thông vận tải, các cơ sở kinh tế, cắt
đứt liên lạc giữa Tỉnh với Trung ương hòng làm đảo lộn đời sống, làm giảm sút ý
chí chiến đấu của quân và dân ta, kích động bọn phản động trỗi dậy phá hoại, gây
tình trạng mất ổn định chính trị, thu hút một phần lực lượng của Trung ương để
đối phó làm giảm sút chi viện cho miền Nam và làm giảm áp lực của ta ở chiến
trường Bắc Lào.[4]
Sơn La là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của Tỉnh, của Khu. Tập trung
các cơ quan đầu não, các vị trí quân sự quan trọng, là đầu mối giao thông quan
trọng tỏa đi các huyện, có những cơ sở sản xuất, nhà máy xí nghiệp, trường học,
là nơi Bộ chỉ huy quân sự Tây Bắc đóng quân các kho tàng chiến đấu đều tập
trung ở đây, chính vì vậy Sơn La chính là địa điểm đế quốc Mỹ tập trung hướng
vào hoạt động đánh phá phá hoại. Nhằm mục đích phá hoại sản xuất, phá hoại
đoàn kết dân tộc, cắt đứt giao thông liên lạc, lung lạc tinh thần quần chúng, không
ổn định về tư tưởng và đời sống, kích động bọn phản động địa phương hoạt động
tuyên truyền gây chiến tranh tâm lý làm nhân dân các dân tộc Sơn La giảm quyết
tâm chiến đấu và lòng tin tưởng tuyệt đối vào đường lối và chủ trương của Trung
đầu giai đoạn Mỹ dùng máy bay đánh phá địa bàn tỉnh Sơn La. Kiên quyết trừng
trị đích đáng quân xâm lược ngay từ trận đầu, sáng ngày 14 tháng 6, sau khi được
cơ quan tác chiến Bộ đội Quốc phòng thông báo máy bay địch chuẩn bị vào hoạt
động trên bầu trời Sơn La, tất cả các trận địa phòng không trong tỉnh đều báo động
triển khai vào vị trí chiến đấu. Đúng 12 giờ trưa cùng ngày, 12 máy bay F - 105
của Mỹ từ các căn cứ trên đất Thái Lan chia làm 2 tốp, hùng hổ lao đến ném bom
đánh phá xuống khu vực Phiêng Luông, ngã 3 Xồm Lồm (Mộc Châu).[2]
Chiến thắng của quân và dân các dân tộc Mộc Châu anh dũng có ý nghĩa
lớn lao, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần quân, dân trong toàn tỉnh thi đua lập công chống
Mỹ, cứu nước, bảo vệ hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Từ chiến công đầu
ngày 14 tháng 6 năm 1965, của quân và dân Mộc Châu bắn tan 3 xác máy bay
"Thần Sấm" của không lực Hoa Kỳ, bắt sống giặc lái Mỹ, trong toàn tỉnh Sơn La
dấy một khí thế thi đua quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ.
Tối 14 tháng 6 năm 1965, một cuộc mít tinh lớn mừng chiến thắng tổ chức
tại thị xã Sơn La. Tiểu đoàn 14 pháo phòng không được bộ đội Quốc phòng gửi
18
bằng khen và tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Thắng lợi ngay từ
trận đầu đã cổ vũ quân và dân trong tỉnh dấy lên phong trào thi đua bắn rơi máy
bay Mỹ. Chiến công đầu của quân dân các dân tộc Sơn La đã truyền đi khắp bản
làng xa gần, càng làm cho mọi người thêm nức lòng phấn khởi, tự hào với truyền
thống quyết chiến, quyết thắng của Điện Biên Phủ lịch sử. Trước đây, Tây Bắc là
mồ chôn giặc Pháp, nay là nơi giặc Mỹ xâm lược bắt đầu phải nếm mùi thất bại
nhục nhã.
Ngày 23 tháng 6 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện khen: "Bác rất
vui mừng trong những ngày 14, 20 và 22 tháng 6 năm 1965, quân dân Mộc Châu
và Sơn La đã bắn rơi 9 máy bay Mỹ và bắt sống một số phi công Mỹ. Thay mặt
Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác gửi lời khen ngợi bộ đội, đồng bào và cán
bộ các dân tộc Tây Bắc đã anh dũng chiến đấu, thắng lợi vẻ vang. Bác nhắc nhở
tại Yên Bái năm 1965.[3]
Để tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với lực lượng vũ trang,
ngày 14 tháng 9 năm 1965, Tỉnh ủy Sơn La ra Nghị quyết số 55 thành lập Đảng
ủy Tỉnh đội, trên cơ sở giải thể Ban cán sự Tỉnh đội. Đảng bộ quân sự gồm các cơ
sở: Đảng ủy Tiểu đoàn 428 và chi bộ Tỉnh đội, chỉ định 9 đồng chí vào Ban chấp
hành Đảng uỷ lâm thời. Đồng chí Lò Văn Sôn - Tỉnh đội trưởng được chỉ định
làm Bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh.
Đáp lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước của chủ tịch Hồ Chí Minh "Dù phải
chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết
chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn", nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh Sơn La
nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vừa sản xuất, vừa chiến đấu đánh bại từng
bước leo thang phá hoại của giặc Mỹ, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
hoàn cảnh có chiến tranh, hết lòng vì miền Nam ruột thịt và làm nhiệm vụ quốc
tế với cách mạng Lào. Có thể nói, địch đến đâu đánh phá cũng vấp phải sự chống
trả quyết liệt của quân và dân Sơn La. Điển hình cá nhân có Quàng Văn Kẹo ở xã
Chiềng Đông (Yên Châu) kê súng lên cọc hiệu đường cũng hạ được chiếc F-4H
của giặc Mỹ; dân và quân Quang Huy (Phù Yên) với một loạt súng trường và súng
kíp đã hạ gục máy bay tại chỗ, Mùa Láo Chu dân tộc Mèo xã Kiến Thiết (Mộc
Châu) lấy lưng trâu làm giá súng, với khẩu súng săn cũng đánh trả quyết liệt máy
bay Mỹ. Các cô gái trong tổ trực chiến khẩu đội 12,7 mm tại cầu Tà Vài ( Yên
Châu) do chị Quàng Thị Lĩnh, Quàng Thị Ê chỉ huy đã lập công xuất sắc bắn rơi
chiếc máy bay Mỹ. Hình ảnh chiến đấu dũng cảm của nữ dân quân Châu Yên
được lan truyền đi khắp cả nước. Trong phong trào thi đua bắn máy bay tầm thấp
bắn súng bộ binh lan rộng toàn tỉnh, nhiều đơn vị đã lập công xuất sắc: xã Chiềng
21
Ngần - Chiềng Sinh (Mường La), Nà Hày- Chiềng La (Thuận Châu), Chiềng Đông
- Chiềng Hặc (Yên Châu), Tú Nang (Mộc Châu), Chiềng Kheo (Mai Sơn), Quang
Huy - Tân Phong - Kim Bon (Phù Yên), Chiềng Khương (Sông Mã); các đơn vị