KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC:QUÂN DÂN MIỀN BẮC CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT CỦA GIẶC MỸ (1965 - 1968) - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

TRẦN THỊ THU HUYỀN

QUÂN DÂN MIỀN BẮC CHỐNG CHIẾN TRANH
PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT CỦA GIẶC MỸ
(1965 - 1968)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Để khóa luận thêm hoàn thiện em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý
của quý thầy cô và các bạn sinh viên.

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 05 năm 2013

Người thực hiện:

Trần Thị Thu Huyền

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, mục đích, ý nghĩa của đề tài 3
3.1. Đối tượng, nhiệm vụ 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
3.3. Mục đích, ý nghĩa của đề tài 3
4. Cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4
4.1. Cơ sở tài liệu 4
4.2. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH NHIỆM VỤ CÁCH MẠNG VIỆT
NAM TRONG THỜI KỲ MỚI 5
1.1. Đặc điểm tình hình cách mạng Việt Nam (1965 - 1975) 5
1.2. Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới 9
CHƯƠNG 2. MIỀN BẮC TIẾP TỤC NHIỆM VỤ XÂY DỰNG CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI TRONG HOÀN CẢNH MỚI (1965 - 1968) 14

Về khoa học
+ Khôi phục lại một cách hoàn chỉnh, hệ thống chính xác công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội và chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ trong thời
kỳ từ 1965 đến 1968.
+ Làm rõ thêm vai trò của miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với cách mạng Việt
Nam và cách mạng Đông Dương thời kỳ này.
+ Làm phong phú thêm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về chiến tranh và
cách mạng…
Về thực tiễn
+ Bổ sung thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội và chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ thời kỳ này.
+ Làm tài liệu tham khảo cho sinh viên trong quá trình học tập phần lịch sử
Việt Nam thời kỳ này.
+ Thiết thực góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc
cho thế hệ trẻ, nhất là trong thời kỳ cách mạng hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề “quân dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của
giặc Mỹ xâm lược (1965 - 1968)” đã được sự quan tâm của giới nghiên cứu dưới

2
nhiều góc độ và nhiều khía cạnh khác nhau. Trong đó có thể kể đến một số công
trình như sau:
+ Cuốn “Hậu phương miền Bắc cung cấp người, vật chất cho chiến tranh
miền Nam 1959 - 1975” của viện lịch sử quân sự Việt Nam, xuất bản 1997, có
đề cập tới tình hình kinh tế miền Bắc trong chiến tranh phá hoại, nhưng lại chủ
yếu nói tới vấn đề xây dựng hậu phương miền Bắc chi viện cho miền Nam và
làm nghĩa vụ quốc tế; còn cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc
Mỹ đối với miền Bắc hầu như vẫn chưa được đề cập đến.
+ Cuốn “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)” - tập 4 của
Bộ Quốc phòng - Viện lịch sử quân sự Việt Nam, xuất bản năm 1999, Nhà xuất

+ Cuốn “Chiến tranh nhân dân quốc phòng toàn dân” tập 1, Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân Hà Nội có đề cập tới quyết tâm đánh bại chiến tranh phá hoại
của giặc Mỹ; kiên quyết đánh bại chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ; kinh
nghiệm lớn của chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc
Mỹ. Nhưng không đề cập được toàn bộ cuộc chiến đấu của quân dân miền Bắc
chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965 - 1968).
Có thể nói, tất cả các công trình nghiên cứu trên đều đã đề cập tới vấn đề
này dưới nhiều góc độ khía cạnh khác nhau. Bên cạnh đó còn có nhiều công
trình khác đề cập tới vấn đề này. Tuy nhiên, các công trình đó chỉ nghiên cứu ở
một hoặc một vài khía cạnh góc độ hoặc còn chung chung chưa làm nổi bật
được vấn đề quân dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất. Mặc
dù vậy, các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo quý để tôi đi
vào nghiên cứu đề tài này.
3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, mục đích, ý nghĩa của đề tài
3.1. Đối tượng, nhiệm vụ
+ Đề tài nghiên cứu vấn đề quân dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại
lần thứ nhất của giặc Mỹ (1965 - 1968)
+ Đặc điểm tình hình nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới
+ Tái hiện lại cuộc chiến đấu của quân dân miền Bắc đánh bại cuộc chiến
tranh phá hoại của giặc Mỹ.
+ Làm rõ quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội của quân dân
miền Bắc trong hoàn cảnh mới.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Quân dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất trong giai đoạn
(1965 - 1968)
3.3. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
+ Góp phần khôi phục lại một cách cụ thể, chi tiết, chính xác cuộc chiến đấu
chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của giặc Mỹ ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

4

TRONG THỜI KỲ MỚI
1.1. Đặc điểm tình hình cách mạng Việt Nam (1965 - 1975)
Sau năm 1954, miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng tiến lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Thế nhưng từ năm 1965 trở đi cách mạng Việt Nam đặt trong điều kiện hoàn
cảnh mới, tình hình cách mạng Việt Nam lúc này hết sức cam go, ác liệt.
Ở miền Bắc, do những thất bại của đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam, từ
đầu năm 1964 đế quốc Mỹ thông qua kế hoạch OPLAN dùng không quân, hải
quân đánh phá miền Bắc.
Ngày 5/8/1964, đế quốc Mỹ dựng lên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” để lấy cớ cho
máy bay ném bom bắn phá một số nơi ở miền Bắc như: Đảo Cồn Cỏ, Đồng Hới,
cửa sông Gianh, Vinh - Bến Thủy, Lạch Trường (Thanh Hóa), thị xã Hồng Gai.
Ngày 7/2/1965, với lí do trả đũa cuộc tiến quân của quân giải phóng miền Nam
vào một trại lính Mỹ ở Plâycu. Mỹ đã ồ ạt ném bom miền Bắc trên quy mô ngày
càng tăng, chính thức tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất bằng
không quân và hải quân đối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Đến ngày 1/4/1965, Giôn xơn quyết định đưa thêm một bộ phận quân chiến
đấu Mỹ sang Việt Nam và tăng cường không quân hải quân đánh phá miền Bắc
mạnh mẽ, liên tục hơn với mục đích làm cho “cột xương sống của Hà Nội mềm
đi” [3, 17]. Để phải chịu điều kiện thương lượng do Mỹ áp đặt và từ bỏ chi viện
cho cách mạng miền Nam.
Chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa diễn ra trên quy
mô lớn toàn miền Bắc, từ tỉnh Khu IV cũ đến các tỉnh đồng bằng duyên hải Bắc
Bộ, lên các tỉnh thuộc trung du và miền núi phía Bắc đặc biệt một số tỉnh thành
phố: Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Thái Nguyên, cùng nhiều trung tâm công
nghiệp, bệnh viện trường học, trung tâm văn hóa đã trở thành mục tiêu đánh phá
hết sức ác liệt của giặc Mỹ.
Ở miền Nam, đầu năm 1965, cuộc chiến tranh đặc biệt mà Mỹ tiến hành
chống lại nhân dân ta đã phát triển đến đỉnh cao và đứng trước nguy cơ thất bại
hoàn toàn để cứu vãn tình thế, Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh cùng vũ khí, phương

Đồng thời Mỹ muốn mở rộng củng cố hậu phương lập đội quân “bình
định” kết hợp hoạt động càn quét với hoạt động chính trị và xã hội lừa bịp: tung
tiền đổ của nhiều hơn nữa cố thực hiện cho kì được “mặt trận thứ hai” nhằm
tranh thủ trái tim của nhân dân thực chất là giành dân (trước hết là nhân dân ở
vùng giải phóng) bắt họ trở lại ách kìm kẹp của Mỹ - ngụy.
Ỷ vào thế quân sự mạnh với thế quân đông vũ khí hiện đại hỏa lực mạnh cơ
động nhanh, Mỹ vừa mới vào miền Nam đã cho quân viễn chinh mở ngay hàng
loạt các cuộc hành quân “tìm diệt” tấn công đơn vị quân giải phóng ở Vạn
Tường - Quảng Ngãi (8/1965). Tiếp đó dựa vào khí hậu miền Nam Việt Nam có
hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4

7
năm sau (theo lịch dương) đế quốc Mỹ đã mở hai cuộc phản công chiến lược
trong hai mùa khô 1965 - 1966; 1966 - 1967 bằng hàng loạt các cuộc hành quân
vào “đất thánh Việt Cộng” tức là vùng đất do cách mạng nắm giữ.
Bước vào mùa khô 1965 - 1966 với lực lượng 720.000 quân, trong đó quân
viễn chinh và chư hầu gần 220.000, Mỹ mở cuộc phản công chiến lược lần thứ
nhất. Cuộc phản công chiến lược bắt đầu vào 1/1966 và kéo dài trong 4 tháng,
với tất cả 450 cuộc hành quân lớn nhỏ. Trong đó có 5 cuộc hành quân “tìm diệt”
then chốt nhằm vào hai hướng chiến lược chính là đồng bằng Khu IV và miền
Đông Nam Bộ. Mục tiêu của Mỹ là đánh bại chủ lực quân giải phóng giành lại
thế chủ động trên chiến trường củng cố ngụy quyền tay sai.
Bước vào mùa khô 1966 - 1967, với lực lượng được tăng lên hơn 980.000
quân trong đó Mỹ và chư hầu hơn 440.000. Mỹ mở cuộc phản công chiến lược
lần thứ hai, với tất cả 895 cuộc hành quân lớn nhỏ, trong đó 3 cuộc hành quân
then chốt vào hướng chiến lược chính là miền Đông Nam Bộ nhằm tiêu diệt
quân chủ lực và cơ quan đầu não của ta, tạo bước ngoặt trong chiến tranh.
Đó là cuộc hành quân đánh vào chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh)
tháng 11/1966, với lực lượng là 3 lữ đoàn tương đương với 3 vạn quân mang tên
attơnborơ; cuộc hành quân đánh vào “tam giác sắt” (Trảng Bàng - Bến Súc - Củ

của nhân dân Việt Nam trở nên gay go, quyết liệt hơn lúc nào bằng.
Trước bối cảnh như vậy, hội nghị Trung ương lần thứ 11 tháng 3/1965 và
12 tháng 12/1965 của Đảng đã có sự chuyển hướng chỉ đạo quan trọng. Tại kỳ
họp thứ hai của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa 3 tháng
4/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Lúc này chống Mỹ cứu nước là nhiệm
vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”
Tiếp đó, ngày 17/7/1966 Chủ tịch Hồ Chí Minh lại ra lời kêu gọi chống Mỹ
cứu nước. Trong lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước, Người khẳng định : “Giônxơn
và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa 50 vạn, một triệu quân hoặc nhiều hơn
nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể
dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng, chúng không
thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ cứu nước của nhân dân
Việt Nam anh hùng… Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc
lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng, một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá,
song nhân dân Việt Nam quyết không sợ, không có gì quý hơn độc lập tự do.
Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to
đẹp hơn”[9, 108].
Như vậy, đây là thời kỳ mà nhân dân Việt Nam, cả miền Nam cũng như
Miền Bắc phải trực tiếp đương đầu với đế quốc Mỹ xâm lược. Cuộc chiến tranh
chống đế quốc Mỹ xâm lược không phải chỉ riêng miền Nam trực tiếp chiến đấu
nữa, lúc này cả nhân dân miền Bắc cũng phải trực tiếp cầm lại vũ khí chiến đấu.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta trở nên gay go, quyết
liệt hơn lúc nào bằng, trong điều kiện hoàn cảnh đó nhiệm vụ của cách mạng
mỗi miền và nhiệm vụ của cách mạng cả nước to lớn nặng nề hơn lúc nào hết.
9
1.2. Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới
Trong điều kiện cả nước có chiến tranh “chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ

(18/8/1965). Với chiến thắng Vạn Tường đã đẩy lùi cuộc hành quân của địch mở
đầu “cao trào diệt ngụy” trên toàn miền Nam, một làn sóng “tìm Mỹ mà đánh,
lùng ngụy mà diệt” dâng cao, các vành đai diệt Mỹ xuất hiện. Phong trào thi đua
trở thành “dũng sĩ diệt Mỹ” và “đơn vị anh hùng diệt Mỹ” được dấy lên sôi nổi

10
khắp nơi. Khả năng thắng Mỹ của quân dân ta trong chiến đấu chống “chiến
tranh cục bộ” đã được chứng minh trong trận Vạn Tường và nó tiếp tục được
chứng minh trong chiến đấu chống lại hai cuộc phản công mùa khô của Mỹ.
Trên toàn miền Nam, từ vùng nông thôn đến thành thị nhân dân vùng lên
đấu tranh chống lại ách kìm kẹp của địch trừng trị bọn ác ôn,… làm thất bại âm
mưu bình định giành dân của giặc. Kết quả là vùng giải phóng được mở rộng, uy
tín của mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được nâng cao trên
trường quốc tế. Miền Nam đã thực hiện được nhiệm vụ hết sức xuất sắc.
Miền Bắc
Đứng trước cuộc chiến tranh bắn phá bằng không quân, hải quân miền Bắc
chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, tiếp tục xây dựng chủ
nghĩa xã hội, làm nghĩa vụ hậu phương.
Trong điều kiện chiến tranh lan rộng, tháng 3/1965, Hội nghị lần thứ 11 của
Trung ương Đảng đã đề ra nhiệm vụ cách mạng mới của quân và dân miền Bắc
là: chuyển hướng kinh tế xây dựng phù hợp với tình hình có chiến tranh phá
hoại, đảm bảo yêu cầu chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, tích cực chi viện cho
miền Nam, đồng thời vẫn bảo đảm phù hợp với phương hướng lâu dài về công
nghiệp hóa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội và chú ý
đúng mức đến nhu cầu thiết yếu về đời sống của nhân dân.
Tăng cường nhanh chóng lực lượng quốc phòng cho kịp với sự phát triển tình
hình có chiến tranh trong cả nước, ra sức tăng cường công tác phòng thủ để bảo vệ
miền Bắc. Cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất sự thiệt hại do địch gây ra và gây
thiệt hại cho địch đến mức cao nhất. Nắm vững phương châm dựa vào sức mình là
chính, đồng thời chú trọng sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa.

ở cả hai miền Nam - Bắc, vững bước vượt qua gian lao thử thách tiến đến thắng
lợi cuối cùng trong cuộc đọ sức cam go này.
Để thực hiện được nhiệm vụ trên đây, điều quan trọng là hậu phương lớn
miền Bắc bằng mọi cách tăng cường chi viện về người và vật chất, kỹ thuật, làm
tăng nhanh thế và lực cho cách mạng miền Nam, cũng như từng chiến trường.
Quân ủy Trung ương chỉ đạo cho đoàn 559: “Phải khẩn cấp mở thêm các trục
đường vận chuyển cho chiến trường miền Nam và hạ Lào. Bảo đảm lương thực
cho các lực lượng hành quân, các đơn vị bảo đảm hành lang vận chuyển các loại
văn thư, bưu kiện”. Phương châm hoạt động là triệt để tận dụng phương tiện cơ
giới kết hợp phương tiện thô sơ.
Như vậy, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, tiếp tục
xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm nghĩa vụ hậu phương là nhiệm vụ hết sức thiêng
liêng nhưng cũng không ít khó khăn, gian khổ đòi hỏi quân dân miền Bắc phải
có ý chí, nghị lực và quyết tâm cao.
Nhiệm vụ chung của cả nước
Trên cơ sở thực tiễn tình hình quân sự, chính trị trên cả hai miền Nam - Bắc
Đảng ta hoạch định và bổ sung hoàn thiện từng bước đường lối kháng chiến
chống Mỹ cứu nước. Hội nghị Trung ương lần thứ 11 tháng 3/1965 khẳng định
quyết tâm đánh Mỹ, chuyển hướng nền kinh tế miền Bắc vào thời chiến, tăng

12
cường quốc phòng, chuẩn bị trước một bước về tư tưởng, tổ chức để sẵn sàng
bước vào cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ. Ngày 27/12/1965, Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 (khóa 3) khai mạc dưới sự chủ trì
của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hội nghị thảo luận, đánh giá tình hình địch, ta và
tình hình quốc tế có liên quan, đề ra nhiệm vụ cụ thể cho quân và dân hai miền
Nam - Bắc. Hội nghị Trung ương nhận định: đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam
hàng chục vạn quân viễn chinh; lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không
thay đổi lớn. Quân Mỹ vào miền Nam làm cho “cuộc chiến tranh ngày càng trở
nên gay go ác liệt nhưng nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp

bất kỳ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành
cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hoà
bình thống nhất nước nhà” [3, 62]. Do đó, nhiệm vụ chung cả nước là đấu tranh
cho sự nghiệp thống nhất nước nhà, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân, đưa cả nước cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội đúng như cương
lĩnh của Đảng năm 1930.
Như vậy, trước âm mưu phá hoại miền Bắc cho thấy chiến tranh phá hoại
miền Bắc là một bộ phận trong âm mưu xâm lược của giặc Mỹ. Đây là thời kỳ
nhân dân Việt Nam trên cả hai miền Nam - Bắc phải trực tiếp đương đầu với đế
quốc Mỹ xâm lược. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta ngày
càng quyết liệt hơn. Trước tình hình mới của cách mạng Việt Nam Đảng ta kịp
thời đề ra nhiệm vụ cho cách mạng mỗi miền một cách cụ thể:
Miền Nam vẫn tiếp tục cuộc chiến tranh dân tộc dân chủ nhân dân, nhiệm
vụ lúc này là liên tục tấn công đánh địch trên ba vùng chiến lược, chặn đánh các
cuộc tấn công càn quét “tìm diệt” của địch từ mọi hướng làm thất bại chiến lược
“chiến tranh cục bộ” của địch.
Miền Bắc, là hậu phương lớn là thành trì của cuộc cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân ở miền Nam. Do đó, miền Bắc vẫn tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã
hội, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của giặc
Mỹ, đồng thời ra sức làm nghĩa vụ quốc tế.
Hai nhiệm vụ cách mạng này gắn bó mật thiết với nhau không tách rời
nhau. Thấm nhuần sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng quân dân cả hai miền Nam -
Bắc tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với lòng nhiệt huyết cao
trên tất cả các lĩnh vực. Đặc biệt quân dân miền Bắc quyết tâm xây dựng chủ
nghĩa xã hội đạt được nhiều thành tựu to lớn trong chiến đấu cũng như trong sản
xuất, hoàn thành nghĩa vụ hậu phương lớn, đánh thắng chiến tranh phá hoại của
giặc Mỹ. Chiến đấu và sản xuất là nhiệm vụ của toàn dân, toàn quân, để đánh
bại chiến tranh phá hoại, xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi, vừa làm tròn
nhiệm vụ hết lòng hết sức ủng hộ sự nghiệp giải phóng miền Nam. Chiến đấu và
sản xuất là hai nhiệm vụ chính. Có đánh bại chiến tranh phá hoại mới sản xuất

cảm thiêng liêng của mọi người dân yêu nước, làm nảy nở nhiều sáng kiến hay
trong lao động sản xuất, đảm bảo giao thông chi viện cho tiền tuyến sẵn sàng
chiến đấu và chiến đấu. Hội nghị lần thứ 12 Ban chấp hành Trung ương Đảng
nêu nhiệm vụ: “vừa sản xuất, vừa chiến đấu để bảo vệ miền Bắc, đánh bại chiến
tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, động viên sức người, sức của tăng cường chi
viện cho miền Nam, ra sức trợ giúp cách mạng Lào đồng thời chuẩn bị đánh
địch nếu chúng mở rộng chiến tranh cục bộ ra cả nước” [9, 12].
Có thể nói đây là nhân tố cơ bản để phát huy sức mạnh của toàn dân tộc
giành thắng lợi cho cuộc kháng chiến. Từ khi giặc Mỹ gây ra cuộc chiến tranh
phá hoại bằng không quân, hải quân, miền Bắc tình hình một nửa nước có chiến
tranh, một nửa nước hòa bình đã biến thành tình hình cả nước có chiến tranh với
hình thức và mức độ khác nhau ở mỗi miền. Để đánh thắng chiến tranh phá hoại
Đảng ta có nhiều chủ trương và biện pháp phát huy sức mạnh của toàn dân, sức

15
mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân để đem lại hiệu quả cao nhất trong
chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
Trong thời kỳ này, quân dân miền Bắc đã dấy lên các phong trào thi đua
chống Mỹ cứu nước: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Các lực lượng vũ
trang nêu khẩu hiệu “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”, “Quyết tâm đánh thắng
giặc Mỹ xâm lược”. Giai cấp công nhân nêu quyết tâm “Chắc tay súng, vững tay
búa”, phấn đấu đạt “Ba điểm cao”. Nông dân tập thể nêu quyết tâm “Chắc tay
súng, vững tay cày”, phụ nữ có phong trào “Ba đảm đang”, giáo viên và học
sinh có phong trào thi đua “Hai tốt”. Trong thiếu niên nhi đồng có phong trào
“Làm nghìn việc tốt”. Đảng ta chủ trương lãnh đạo toàn dân chiến đấu, theo
đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng tham gia chiến đấu chống lại cuộc
chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ bằng không quân, hải quân là nhiệm vụ của
các lực lượng phòng không, không quân, của lực lượng hải quân với vũ khí
phương tiện hiện đại của lực lượng tự vệ, dân quân, của toàn dân, bất cứ già trẻ,
trai gái với vũ khí thông thường, hễ địch đến là đánh, ai không trực tiếp chiến đấu

mạnh: “Các hợp tác xã nông nghiệp là đội quân hậu cần của quân đội chiến đấu
ngoài mặt trận. Các xã viên hợp tác xã là chiến sĩ sản xuất, cần phải cố gắng như
chiến sĩ ngoài mặt trận” [9, 193].
Cùng với nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng
được chuyển hướng nhanh và cấp thiết phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới.
Các cơ sở sản xuất công nghiệp then chốt, nhà máy xí nghiệp khẩn trương sơ
tán ra khỏi vùng địch bắn phá tăng cường lực lượng phòng không bảo vệ. Bên
cạnh việc giữ vững sản xuất có trọng điểm, duy trì phát triển năng lực sản xuất
của công nghiệp trung ương, miền Bắc đặc biệt chú trọng xây dựng và phát
triển công nghiệp địa phương, xây dựng các xí nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ,
tăng cường ưu tiên công nghiệp địa phương. Xây dựng kinh tế thời chiến theo
hướng tăng cường và phát triển kinh tế địa phương nó phù hợp với tình huống
chống chiến tranh phá hoại, tình hình sơ tán, phân tán. Vì, với chủ trương này
trong hoàn cảnh nền kinh tế của ta vẫn còn dựa vào sản xuất nhỏ, chủ yếu là
nông nghiệp, lại chưa có một nền đại công nghiệp cơ khí, thì sự tàn phá của
chiến tranh sẽ không lớn, sự thiệt hại do chiến tranh gây ra sẽ không nhiều. Các
mục tiêu và các chỉ tiêu kinh tế, tốc độ, bước đi, quy mô xây dựng được đề ra
trong thời kỳ này cũng phải phù hợp với điều kiện có chiến tranh để mà tránh
thiệt hại lớn cho nền kinh tế do chiến tranh, vừa đảm bảo cho nhu cầu của cuộc
chiến đấu tại chỗ cũng như đời sống nhân dân từng địa phương và chi viện ngày
càng lớn cho cuộc kháng chiến ở miền Nam.
Bên cạnh đó các ngành tài chính - ngân hàng, nội thương, ngoại thương
thời kỳ này đều hướng vào trọng tâm phục vụ nhu cầu bức thiết của sản xuất,
đời sống của cuộc kháng chiến.
Bên cạnh kinh tế Đảng ta cũng hết sức quan tâm đến mặt trận văn hóa, tư
tưởng, tổ chức. Vấn đề này được Đảng nhất quán sự lãnh đạo tuyệt đối và duy
nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên định chủ nghĩa Mác Lênin. Đảng có
những quyết định kịp thời, cấp thiết về công tác giáo dục lòng tin, sự can đảm
trong chiến đấu. Giáo dục sự tin tưởng của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo


cô giáo, học sinh các cấp học cũng như các trường học chuyên nghiệp, dạy nghề,
đại học được sơ tán ra khỏi thành phố, thị xã, thị trấn tới nông thôn, đồng bằng,
miền núi để giảm thiểu sự đánh phá, thiệt hại do cuộc chiến tranh mang lại.
Trường, lớp học phân tán trong nhân dân. Giờ học được bố trí vào lúc máy bay
địch ít hoạt động hơn. Các lớp học đào sâu dưới lòng đất, học vào ban đêm. Tất
cả những điều này chứng tỏ một sự cố gắng cao trong ngành giáo dục trong đội
ngũ giáo viên học sinh trước hoàn cảnh mới. Trong tình hình nhiệm vụ mới lúc
này công tác văn hóa - văn nghệ cũng có một vai trò to lớn trong việc giáo dục

18
lòng yêu nước căm thù bọn xâm lược Mỹ và tay sai. Cổ vũ tinh thần yêu chủ
nghĩa xã hội, giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bồi dưỡng khả năng sản
xuất, chiến đấu của nhân dân, xây dựng một nền văn hóa xứng đáng với nhân
dân phục vụ sự nghiệp chống Mỹ vĩ đại.
Công tác y tế miền Bắc cũng nhanh chóng chuyển từ thời bình sang thời
chiến và được tăng cường về số lượng, chất lượng. Tiếp tục đẩy mạnh phòng
bệnh, khám chữa bệnh cho nhân dân, cán bộ.
Về mặt quân sự: Chống lại những hành động phá hoại bằng không quân và
hải quân của Mỹ là nhiệm vụ của các lực lượng phòng không, không quân, hải
quân của ta với vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại và của lực lượng dân
quân du kích, tự vệ chiến đấu của toàn dân. Đảng ta khẳng định, phải có lực
lượng phòng không mới có thể đánh thắng giặc Mỹ. Phòng không đóng vai trò
quyết định nhất đến kết quả cuối cùng. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 11,12
năm 1965 đã xác định cần tiếp tục duy trì đấu tranh quân sự, triệt để vận dụng ba
mũi giáp công và nhất là tăng cường phòng không, tránh những tổn hại ở mức
thấp nhất. Bên cạnh đó Đảng ta còn tích cực huy động các lực lượng tham gia
quân sự và bố phòng lại các lực lượng cao xạ, các địa điểm tên lửa. Mặt khác,
Đảng và Nhà nước còn tranh thủ về mặt lực lượng về mặt vũ khí chiến đấu máy
bay chiến đấu từ phía Liên Xô, Trung Quốc nhằm tạo thuận lợi cho nước ta đánh
thắng giặc Mỹ bắn phá xâm lược. Ngay từ đầu Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Việt Nam đã đưa đến sự tàn phá nặng nề chưa từng thấy. Cuộc chiến tranh này
diễn ra chủ yếu từ trên không và từ trên biển, nhằm chống lại nước ta, một cuộc
chiến tranh không phân biệt đâu là tiền tuyến, đâu là hậu phương. Một vấn đề
đặt ra là miền Bắc có thể vừa chiến đấu vừa tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội
được không? Nhưng với chân lý độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách
rời nhau. Cách mạng giải phóng ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc có mối quan hệ gắn bó với nhau. Đó là quan hệ giữa hậu phương và
tiền tuyến. Đồng thời xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn 10 năm (1954 - 1965)
là không có hậu phương lớn miền Bắc được tạo ra trong kết quả lao động xây
dựng chủ nghĩa xã hội thì không có thắng lợi trong cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân ở miền Nam. Hơn nữa bản thân cuộc chiến đấu của nhân dân miền Bắc
cũng cần có hậu phương tại chỗ được tạo ra bằng lao động của chính mình.
Đảng ta trước sau giữ quyết tâm thực hiện quyết định lịch sử đã đề ra 10 năm
trước (8/1955) là: bất cứ tình hình nào miền Bắc cũng phải củng cố, phải tiến lên
chủ nghĩa xã hội. Thấm nhuần sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, thực hiện
nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, miền Bắc kết hợp chặt
chẽ hai nhiệm vụ vừa sản xuất vừa chiến đấu tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội
và đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh mới đồng thời đạt
được nhiều thành tựu to lớn về tất cả các mặt.
Trên mặt trận kinh tế: khí thế lao động, chiến đấu, phục vụ chiến đấu của
quân dân miền Bắc hết sức sôi nổi. Ở khắp nơi trên miền Bắc, các tầng lớp nhân
dân không hề nao núng, quyết tâm kiên trì bám ruộng đồng, nhà máy tiếp tục
sản xuất.

20
Trong nông nghiệp: do nhu cầu cấp bách của cuộc chiến tranh và nhu cầu
cơ bản của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nền nông nghiệp ngày càng có
vai trò nổi bật. Quy mô đánh phá của địch trong cuộc chiến tranh phá hoại càng
lớn thì nhu cầu về lương thực, thực phẩm càng nhiều và có ý nghĩa quan trọng.
Cuộc đánh phá của giặc Mỹ trong chiến tranh phá hoại miền Bắc xã hội chủ

địch bắn phá “công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp phát triển với gần 2600 hợp
tác xã tiểu thủ công nghiệp và thủ công nghiệp, giải quyết được 80% hàng tiêu

21
dùng” [15, 97]. Nhờ có công tác chỉ đạo đúng đắn ngay từ đầu các cơ sở công
nghiệp được sơ tán bảo vệ an toàn sớm đi vào sản xuất đảm bảo nhu cầu thiết
yếu của chiến đấu sản xuất và đời sống. Đầu tư vào công nghiệp địa phương và
công nghiệp quốc phòng tăng lên so với thời kỳ trước chiến tranh. Mức đầu tư
vào công nghiệp địa phương trong hai năm 1966 - 1967 tăng 1,5 lần so với kế
hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965). Mỗi tỉnh trở thành một đơn vị kinh tế
tương đối hoàn chỉnh, tự sản xuất các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu của nhân dân
địa phương. Tiểu thủ công nghiệp, một bộ phận quan trọng của công nghiệp địa
phương cũng được chú trọng phát triển. Công nghiệp các tỉnh trung du, miền núi
thời kỳ này cũng bước đầu phát triển, bao gồm cả công nghiệp hàng tiêu dùng.
Nhìn chung trong chiến tranh toàn ngành công nghiệp đã khắc phục muôn vàn
khó khăn, gian khổ, duy trì và đẩy mạnh sản xuất. Cuối năm 1968, miền Bắc đã
có 1.352 xí nghiệp công nghiệp, bao gồm 277 xí nghiệp trung ương, 1.075 xí
nghiệp địa phương. Có được những điều đó là sự nỗ lực to lớn của những người
thợ ngày đêm bám máy, duy trì và giữ vững sản xuất, luôn luôn nêu cao khẩu
hiệu “tay búa, tay súng” địch đến là đánh địch đi lại tiếp tục sản xuất…
Trong chiến tranh dưới bom đạn ác liệt của địch, điều kiện sản xuất vận
chuyển khó khăn, mạng lưới thương nghiệp xã hội chủ nghĩa được xây dựng 10
năm trước (1955 - 1965) tiếp tục được củng cố, phát triển hàng chục nghìn cửa
hàng bán buôn, bán lẻ, thu mua, ăn uống và dịch vụ phân bố ở khắp các thành
phố, huyện, thị trấn và vùng nông thôn. Sự phát triển này góp phần to lớn vào sự
ổn định đời sống nhân dân nó đã trở thành lực lượng hậu cần tại chỗ của quân
đội trong chiến tranh phá hoại. Các thương nghiệp quốc doanh luôn giành sự ưu
tiên cung ứng hàng hóa cho các đơn vị bộ đội thuộc địa bàn phục vụ của mình.
Hàng hóa được cung ứng tới các mặt trận kịp thời trước, trong và sau mọi trận
đánh. Đây là nguồn động viên tinh thần lớn đối với cán bộ, chiến sĩ trong cuộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status