MIỀN BẮC VỚI CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ I & SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CNXH_2 pot - Pdf 19

MIỀN BẮC VỚI CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN
THỨ I & SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CNXH

Trong quá trình thực hiện chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh", đế
quốc Mĩ áp dụng 4 biện pháp cơ bản:

1- Tăng cường viện trợ quân sự, tăng cường phát triển lực lượng ngụy
quân. Chỉ trong vòng 4 năm (1969 - 1972), số quân thường trực (chủ lực
và bảo an) từ 70 vạn tăng lên 110 vạn tên; lực lượng nửa vũ trang
(phòng vệ dân sự) từ 150 vạn tăng lên 200 vạn quân.

2- Tăng cường viện trợ kinh tế, giúp ngụy quyền thực hiện cho được
bình định, giành đất, giành dân. Bình định là một chính sách cơ bản của
chủ nghĩa thực dân mới Mĩ. Trong tất cả các thời kì của cuộc chiến
tranh xâm lược miền Nam, bình định được Mĩ ngụy nâng lên thành
quốc sách.

Để thực hiện "quốc sách bình định", đế quốc Mĩ giúp ngụy quyền miền
Nam thiết lập một hệ thống chính trị và vũ trang hoàn chỉnh ở cơ sở,
được huấn luyện kiểu thống trị của chủ nghĩa thực dân mới. Thủ đoạn
của chúng là mua ruộng đất của địa chủ rồi bán cho một bộ phận trong
giai cấp nông dân, đồng
thời đưa kĩ thuật mới, giống mới, máy cày tay, máy bơm, phân hoá
học tạo nên một tầng lớp nông dân mới lệ thuộc vào Mĩ .

Mặt khác, lợi dụng sai lầm của ta chậm chuyển hướng tiến công sau Tết
Mậu Thân, bỏ lỏng vùng nông thôn, trong suốt 2 năm (giữa năm 1968
đến đầu năm 1970), Mĩ - ngụy tiến hành liên tiếp các kế hoạch "bình
định cấp tốc", "bình định đặc biệt", "bình định bổ sung" rất quyết liệt.
Đồng thời, chúng kết hợp mở các cuộc hành quân càn quét, đóng hàng
ngàn đồn bốt (từ 4.954 lên 9.224 đồn), chiếm lại hầu hết vùng nông

Cùng với hành động mở rộng chiến tranh sang Lào, đế quốc Mĩ mở rộng
chiến tranh xâm lược Campuchia. Không bao lâu sau cuộc đảo chính lật
đổ Chính phủ trung lập tích cực do Xihanúc đứng đầu (18-3-1970), từ
ngày 30-4-1970, đế quốc Mĩ huy động 10 vạn quân Mĩ - ngụy Sài Gòn
mở cuộc hành quân đánh sang Campuchia. Với hành động này, chúng
nhằm cứu vãn sự sụp đổ của ngụy quyền Phnom Pênh, triệt phá "đất
thánh Việt Cộng" trên đất Campuchia, chuẩn bị cho việc thực hiện chiến
lược "Khơme hoá chiến tranh".

4- Đẩy mạnh hoạt động ngoại giao xảo quyệt; ra sức lợi dụng mâu
thuẫn Trung - Xô, tìm cách thoả hiệp với Trung Quốc, hoà hoãn với Liên
Xô hòng hạn chế sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa đối với cuộc
kháng chiến của ta để thực hiện "chiến tranh bóp nghẹt". Mặt khác,
đóng vai trò "sứ giả hoà bình", Níchxơn đi thương lượng với nhiều
nước, trước hết là với các
nước lớn, nhằm lôi kéo các nước, nhất là các nước đồng minh "cùng
chia sẻ trách nhiệm" với Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông
Dương

Như vậy "Việt Nam hoá chiến tranh" là một chính sách tổng hợp tất cả
những yếu tố được coi như là bản chất phản động nhất của đế quốc Mĩ.
Đó là bạo lực phản cách mạng, hệ tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản
triệt để, là chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.

Tuy được tiến hành bằng những thủ đoạn rất xảo quyệt và thâm độc,
nhưng nó ra đời trong thế thua, thế bị động và chứa đầy mâu thuẫn,
bộc lộ nhiều điểm yếu:

- Trước đây, trong chiến lược "chiến tranh cục bộ", hơn 1,2 triệu quân
cả Mĩ và ngụy (trong đó có hơn 50 vạn quân Mĩ ) đã không thể tiêu diệt

nổ ra phong trào sinh viên đòi quyền dân chủ và chống chiến tranh xâm
lược Việt Nam. Phong trào lan rộng khắp các trường đại học ở Mĩ và lan
sang các trường trung học, trở thành hạt nhân của phong trào thanh
niên Mĩ đấu tranh ngày càng quyết liệt với những hành động đốt thẻ
quân dịch. Phong trào đấu tranh của nhân dân Mĩ tác động mạnh đến
hàng ngũ binh lính trong nước Mĩ và cả chiến trường miền Nam Việt
Nam. Hành động chống chiến tranh trong binh lính Mĩ phát triển mạnh
chưa từng thấy trong lịch sử nước Mĩ. Hàng chục tổ chức binh lính
chống chiến tranh ra đời ở các đơn vị lính Mĩ ở miền Nam Việt Nam.
Trong lúc cựu binh sĩ Mĩ từ Việt Nam về nước vứt bỏ huân chương, huy
chương trước Nhà Trắng, thì ở Việt Nam, vào ngày 15-10-1969, binh
lính Mĩ tổ chức đeo băng tang.

Đặc biệt ở Mĩ, từ giữa tháng 10-1969, đã bùng nổ "cuộc tiến công mùa
thu" diễn ra với quy mô rộng lớn và có cơ sở rộng rãi chưa từng thấy
trên 1.200 thành phố, thị xã của 53 bang nước Mĩ.

Mặc dù vậy, trước mắt Mĩ - ngụy vẫn còn có những chỗ mạnh về quân
số, hoả lực, khả năng cơ động và địa bàn chiếm giữ. Mĩ là một nước có
tiềm lực rất lớn về kinh tế và quân sự. Bởi thế, trong những năm 1969 -
1971, đế quốc Mĩ đã gây cho ta nhiều khó khăn: Cơ sở của ta ở nông
thôn bị tổn thất, căn cứ cách mạng bị phá hoại, phong trào quần chúng
bị giảm sút.

Trong khi đó, chúng ta chưa đánh giá hết âm mưu và hoạt động của
địch và chưa kịp thời chuyển hướng -hoạt động ở cả ba vùng chiến
lược.

Đứng trước âm mưu và hành động mới của đế quốc Mĩ và ngụy quyền
tay sai, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận:

toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì Chính phủ ta sẽ
cùng phía Mĩ bàn về các vấn đề khác có liên quan đến hai bên. Sau đó,
ta tuyên bố sẵn sàng họp một hội nghị gồm đại diện của: Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Hoa Kì
và chính quyền Sài Gòn. Ngày 13-11-1968, Mĩ tán thành hội nghị hai
phe bốn bên. Ngày 25-1-1969, phiên họp toàn thể lần thứ nhất của Hội
nghị bốn bên (l) về Việt Nam chính thức được khai mạc tại Pari. Trong
quá trình Hội nghị, lập trường bốn bên (thực chất là hai bên) rất khác xa
(l) Đoàn đại biểu VNDCCH do Bộ trưởng Xuân Thuỷ làm Trưởng đoàn;
tham dự Hội nghị còn có cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và các thành viên
Mai Văn Bộ, Phan Hiền, Hà Văn Lâu, Nguyễn Thành Lê, Trần Công
Tường. Nguyễn Minh Vĩ . Đoàn MTDTGPMNVN do ông Trần Bửu Kiếm
làm Trưởng đoàn, bà Nguyễn Thị Bình làm Phó trưởng đoàn và các
thành viên. Đoàn Hoa Kì do H. Cabốt Lốt làm Trướng đoàn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status