Quân và dân miền bắc chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc mỹ - Pdf 14

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong cuộc KCCMCN, việc quân và dân miền Bắc đánh bại cuộc
chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (4-1972 – 1-1973) có vai
trò rất quan trọng, góp phần cùng với thắng lợi của quân và dân miền Nam
làm chuyển biến căn bản cục diện chiến tranh. Dù đã nỗ lực tối đa nhưng
Mỹ vẫn không thể đạt được một chiến thắng có ý nghĩa chính trị, quân sự
như đã tính toán.
Chiến thắng của quân và dân miền Bắc trong cuộc chiến đấu chống
chiến tranh phá hoại lần thứ hai, đặc biệt là thắng lợi của trận “ Điện Biên
Phủ trên không” đã trực tiếp dẫn đến Hiệp định Paris. Đó là thắng lợi
quyết định của công cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.
Mảng đề tài chiến tranh phá hoại miền Bắc nói chung, chiến tranh phá
hoại miền Bắc lần thứ hai nói riêng cũng như cuộc chiến đấu của quân và
dân miền Bắc chống lại cuộc chiến tranh này đã được đề cập ở nhiều công
trình nghiên cứu. Có những công trình đề cập trực tiếp cuộc chiến tranh
phá hoại lần miền Bắc lần thứ hai của đế quốc Mỹ; có công trình nghiên
cứu về hậu phương miền Bắc trong cuộc KCCMCN, trong đó có nội dung
về chống chiến tranh phá hoại, về chiến tranh nhân dân chống chiến tranh
phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ ở từng địa phương, đơn vị, ngành
trong lực lượng vũ trang. Cách tiếp cận của các công trình nghiên cứu về
mảng đề tài này cũng rất đa dạng. Có công trình tiếp cận dưới góc độ
chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, chuyên ngành lịch sử
Việt Nam; có công trình là dạng những báo cáo, những công trình tổng kết
chiến tranh nhân dân của một đơn vị hay một ngành trong lực lượng vũ
trang hoặc địa phương miền Bắc trong cuộc chiến đấu này
Mặc dù đã hơn 40 năm trôi qua, nhưng xung quanh mảng đề tài về
quân và dân miền Bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế
quốc Mỹ, đặc biệt là chiến dịch phòng không đánh bại cuộc tập kích chiến
lược đường không cuối năm 1972 vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra đối với giới
nghiên cứu. Trên ý nghĩa đó, tôi quyết định chọn: Quân và dân miền Bắc

bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Nghiên cứu, tái hiện một cách hệ thống và toàn diện cuộc chiến đấu của
quân và dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc
Mỹ (từ tháng 4-1972 - 1-1973). Qua đó làm sàng rõ bản lĩnh và trí tuệ Việt
Nam cũng như những đặc sắc về nghệ thuật quân sự Việt Nam nói chung,
2
nghệ thuật tác chiến đường không, đường biển nói riêng; rút ra những kinh
nghiệm lịch sử cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
2.2. Nhiệm vụ
- Sưu tầm và hệ thống hóa tư liệu về quá trình quân và dân miền Bắc
chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ.
- Làm rõ bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế trước khi đế quốc Mỹ
tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần hai.
- Phân tích, làm rõ âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến
tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai và chủ trương đối phó của Đảng ta.
- Phục dựng cuộc chiến đấu của quân và dân miền Bắc chống chiến
tranh phá hoại lần hai của Mỹ.
- Trên cơ sở giải quyết những nhiệm vụ trên, luận án rút ra một số nhận
xét, ý nghĩa, kinh nghiệm từ cuộc chiến đấu của quân và dân miền Bắc
chống chiến tranh phá hoại lần hai của đế quốc Mỹ.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Cuộc chiến đấu của quân và dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại
lần thứ hai của đế quốc Mỹ (4-1972 - 1-1973) gắn với bối cảnh của cuộc
chiến đấu ở miền Nam, diễn biến ở Hội đàm Paris (phân tích những tác
động của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của quân và
dân miền Bắc đối với tình hình chiến sự miền Nam, đối với cuộc đàm phán
Paris, đối với vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế).

- Các văn kiện của BCT, BCHTWĐ, QUTW, nghị quyết của đảng bộ
các địa phương miền Bắc có liên quan.
- Công trình nghiên cứu, bài viết, bài nói của các đồng chí lãnh đạo
Đảng, Nhà nước và Quân đội.
- Tài liệu lưu trữ tại các trung tâm lưu trữ Đảng, Nhà nước, Quân đội.
- Một số công trình tổng kết, lịch sử của các cơ quan nghiên cứu Trung
ương, của các địa phương, đơn vị.
- Một số công trình khoa học đã công bố trên các tạp chí, một số luận
văn, luận án có liên quan đến đề tài.
- Hồi kí của các nhà lãnh đạo, chỉ huy tác chiến thời kì này.
- Các công trình nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam của các
học giả nước ngoài. Hồi kí của các tướng lĩnh, phi công Mỹ từng tham
chiến ở Việt Nam.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án này, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử
kết hợp phương pháp lôgic. Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp
4
khác như: phân tích, thống kê, so sánh, để giải quyết các vần đề liên quan
đến nội dung của luận án.
5. Đóng góp của luận án
- Hình thành tập hợp tư liệu về cuộc chiến ngăn chặn và chống ngăn
chặn từ tháng 4-1972 đến tháng 1-1973.
- Phục dựng được một cách khách quan và chân thực cuộc chiến đấu của
quân và dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ.
- Đưa ra một số đánh giá về tác động của cuộc chiến đấu cũng như
chiến thắng của quân và dân miền Bắc đến cục diện chiến tranh, đến kết
quả Hội nghị Paris.
- Một số kinh nghiệm được luận án đúc kết có ý nghĩa thiết thực, có thể
vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần vào công tác giáo dục truyền

1.1.1.2. Những công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước, trong đó có đề cập đến cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc
lần thứ hai
Những công trình nghiên cứu thuộc nhóm này tương đối nhiều, vì hậu
phương miền Bắc là một phần không thể tách rời của cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước. Những nghiên cứu này bao gồm các công trình lịch
sử Đảng, lịch sử của lực lượng vũ trang, lịch sử kháng chiến của các địa
phương
Năm 2013, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam phối hợp với Nxb Chính trị
quốc gia cho tái bản bộ sách: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
(1954-1975), gồm 9 tập, trong đó tập VII mang tiêu đề Thắng lợi quyết định
năm 1972. Đây là công trình viết riêng về cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước trong năm 1972 nên cuộc đấu tranh của quân và dân miền Bắc
chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc
có được đề cập đến.
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (1954 - 1975), tập II của Viện Nghiên
cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1995), có một phần đề cập đến đề tài của luận án. Do cách tiếp
cận vấn đề của công trình dưới góc độ chuyên ngành lịch sử Đảng, nên nội
dung này được nghiên cứu dưới hình thức chủ trương của Đảng Lao động
Việt Nam và quá trình tổ chức, chỉ đạo quân và dân miền Bắc chống chiến
tranh phá hoại lần thứ hai.
Trong các bộ sách viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên
một số địa bàn trọng điểm của chiến tranh phá hoại miền Bắc như Thủ đô
6
Hà Nội - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) (Nxb
Quân đội nhân dân Hà Nội, 1991); Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng (1955 -
1975), tập II (Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hải Phòng, Nxb Hải
Phòng, 1996); Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, tập II, 1954 - 1975 (Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996), Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiến chống

Trung ương và Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã xuất
bản cuốn Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế
quốc Mỹ, gồm hai tập (Nxb Quân đội nhân dân, xuất bản năm 1982-1983).
Nội dung tập 1 của cuốn sách tập trung vào chiến tranh nhân dân đánh
thắng chiến tranh phá hoại miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước. Tập 2 của cuốn sách tập trung đúc kết, luận giải 9 bài học kinh
nghiệm lớn về chỉ đạo chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá
hoại của đế quốc Mỹ. Những bài học này là những định hướng, gợi mở
cách tiếp cận của luận án.
- Nghiên cứu về cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền
Bắc còn có các cuốn: Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá
hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ trên địa bàn Hà Nội (1965 - 1972)
của Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội (Nxb Quân đội nhân dân phát hành năm
2002, tái bản năm 2012); Chống Mỹ phong tỏa sông biển vùng Hải Phòng
của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội,
1999); Công tác hậu cần trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
trên miền Bắc (2.1965 – 1.1973) của Tổng Cục Hậu cần (Nxb Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 2001); Bí mật các chiến dịch không kích của Mỹ vào
miền Bắc Việt Nam do Cảnh Dương và Đông A biên soạn (Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, 2007)
- Trong chuỗi tài liệu về tổng kết chiến tranh nhân dân địa phương, Bộ
Tổng tham mưu biên soạn đề tài chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của
đế quốc Mỹ dưới dạng chuyên đề, lưu hành nội bộ. Đó là các chuyên đề:
Công tác phòng tránh, khắc phục hậu quả và bắn máy bay tầm thấp chống
chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ trên địa bàn Hà
Nội (1965 - 1972) (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001); Chỉ đạo xây
dựng và hoạt động chiến đấu của lực lượng phòng không địa phương
chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc (1954 - 1975)
(Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001); Phát huy vai trò dân quân tự vệ
biển, góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân,

Chiến thắng của lương tâm, phẩm giá con người (Nxb Quân đội nhân dân,
Hà Nội, 2012), Cuốn Đối mặt với B.52, nhiều tác giả (Nxb Trẻ, TP Hồ Chí
Minh, 2012). Cuốn Lịch sử nghệ thuật chiến dịch phòng không (12 - 1972),
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997. Cuốn sách đã đi sâu nghiên cứu âm
mưu, thủ đoạn của Mỹ trong chiến dịch phòng không cuối năm 1972, sự đối
phó của Phòng không - Không quân miền Bắc, về nghệ thuật chiến dịch
phòng không Việt Nam trong trận đánh lịch sử này. Đây là giai đoạn vô
cùng căng thẳng của chiến tranh Việt Nam năm 1972. Cuốn sách là một tài
9
liệu quan trọng về tổng kết kinh nghiệm phòng thủ bầu trời của lực lượng
Phòng không Việt Nam trong một năm cao điểm nhất của chiến tranh
đường không.
- Các cuộc hội thảo khoa học về chiến thắng “Điện Biên Phủ trên
không”: Hội thảo khoa học chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” nhân
dịp kỉ niệm 25 năm chiến thắng B.52 (1972-1997) do Thành ủy, Ủy ban
nhân dân thành phố Hà Nội và Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Bộ Quốc
phòng) tổ chức; Nhân dịp kỉ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên
Phủ trên không” (12-1972 - 12-2012), tháng 11-2012, Bộ Quốc phòng, Ban
Tuyên giáo Trung ương, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã
tổ chức Hội thảo khoa học và phát hành cuốn kỉ yếu: Hà Nội - Điện Biên
Phủ trên không - Tầm cao bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam.
- Một mảng công trình có liên quan đến đề tài này phải kể đến những
công trình nghiên cứu về Hội nghị Paris (1968 – 1973). Những công trình
thuộc mảng đề tài này không những cung cấp một bức tranh khá sinh động
về những tác động của tình hình trong nước và quốc tế đến bàn đàm phán
Paris mà còn gợi mở về cách đánh giá các sự kiện, tiếp cận các vấn đề
nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
1.1.2. Nhóm các công trình xuất bản ở nước ngoài
Trong một số sách, báo của các tác giả nước ngoài, đặc biệt là của các
tác giả Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam được đề cập khá cụ thể từ nhiều

đích, yêu cầu nghiên cứu nên có thể nói, vấn đề quân và dân miền Bắc
chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ chưa có công trình
nào trình bày một cách đầy đủ hệ thống, toàn diện.
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU
Hướng nghiên cứu là luận án đặt cuộc chiến đấu của quân và dân miền
Bắc trong cuộc tiến công chiến lược Xuân Hè 1972, những tác động của
cuộc chiến đấu cũng như chiến thắng của quân và dân miền Bắc đến cục
diện chiến tranh, đến kết quả Hội nghị Paris, đến tình hình quốc tế trong đó
tập trung làm rõ những nội dung nghiên cứu sau:
- Mục tiêu của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai này
là gì? Quân và dân miền Bắc làm thất bại mục tiêu ấy ra sao và cuối cùng, so
những mục tiêu mà Mỹ đặt ra với việc họ đạt được gì, thất bại ở những mục
tiêu nào.
- Tập trung nghiên cứu âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ trong cuộc
chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai (những mưu tính của Mỹ trong
năm 1972, kết hợp đòn quân sự với ngoại giao để ép Việt Nam Dân chủ
công hòa trên bàn đàm phán ).
11
- Góp phần làm rõ vấn đề: quân và dân miền Bắc có bị bất ngờ hay không
trước cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ ? hay như vấn đề
tại sao ta thắng Mỹ trong cuộc tập kích chiến lược cuối năm 1972 khi một
bên vũ khí hiện đại, khổng lồ (siêu pháo đài bay B.52, những máy bay chiến
thuật mới nhất thời đấy) đã được người Mỹ đem ra sử dụng, và cả một đội
ngũ tướng lĩnh, những nhà chiến lược chính trị, quân sự được đào tạo bài bản,
còn Việt Nam vũ khí kém hơn hẳn, hay như vai trò lực lượng vũ trang ba thứ
quân trong đó bộ đội địa phương và dân quân tự vệ trong cuộc chiến đấu này
như thế nào
- Ngày nay khi nghiên cứu, chúng ta rút được kinh nghiệm gì trong quá khứ.
Chương 2
ĐẾ QUỐC MỸ MỞ CUỘC CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI MIỀN

miền Nam.
2.1.2. Tình hình quốc tế
2.1.2.1. Tình hình nước Mỹ và phong trào phản đối cuộc chiến tranh
xâm lược của Mỹ ở Việt Nam
Sau hơn 4 năm đưa quân trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, chẳng những
Mỹ không đè bẹp được quyết tâm đánh Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam
mà ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn, tổn thất lớn, xung đột xã hội sâu sắc,
uy tín giảm sút… Phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền của
các tầng lớp xã hội - kể cả các nghị sĩ Quốc hội, các cựu binh Mỹ từng tham
gia chiến tranh Việt Nam tiếp tục dâng cao ngay trên đất Mỹ và nhiều nơi
trên thế giới.
2.1.2.2. Quan hệ Mỹ - Xô và Mỹ - Trung
Vận động trong quan hệ chiến lược Mỹ - Xô và Mỹ - Trung tác động lớn
đến cách mạng Việt Nam. Những thay đổi trong quan hệ quốc tế nói trên
không làm lay chuyển quyết tâm kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt
Nam. Cuộc tiến công dữ dội của Quân giải phóng miền Nam sau chuyến đi
thăm Trung Quốc và chuẩn bị đi thăm Liên Xô của Tổng thống R.Nixon đã
khẳng định nhân dân Việt Nam hoàn toàn độc lập, tự chủ trong công cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
2.2. ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN PHÁ HOẠI MIỀN BẮC LẦN THỨ
HAI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG LAO
ĐỘNG VIỆT NAM
2.2.1. Âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh
phá hoại miền Bắc lần thứ hai
13
Sau khi đắc cử Tổng thống Mỹ, vấn đề Việt Nam nhanh chóng trở thành
mối quan tâm hàng đầu của Nixon. Giải pháp được cả Nixon và
H.Kissinger lựa chọn là hủy bỏ mọi hạn chế thời Johnson đã áp đặt đối với
lực lượng quân sự tham chiến ở Việt Nam, cho phép họ có quyền được tiến
hành các hoạt động quân sự với cường độ cao, buộc VNDCCH phải chấp

thái thời chiến, tăng cường sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc. Ngày 1-5-
1972, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi quân và dân cả nước
nêu cao quyết tâm chiến đấu và chiến thắng địch trong mọi tình huống.
Thực hiện lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quân và
dân miền Bắc bước vào cuộc thử thách mới đầy khó khăn ác liệt với niềm
tin vững chắc vào thắng lợi.
Tiểu kết chương 2
Ngay sau khi đế quốc Mỹ tạm ngừng ném bom đánh phá lần thứ nhất,
quân và dân miền Bắc bước vào một thời kỳ mới, thời kì khôi phục kinh tế
sau chiến tranh, tăng cường lực lượng cho cách mạng miền Nam. Trước tình
hình, cách mạng miền Nam có những chuyển biến mới, BCT đã quyết định
mở cuộc tiến công chiến lược Xuân – Hè 1972 và giành được những thắng
lợi nhất định.
Trong thời gian này, Chính quyền Mỹ xúc tiến các hoạt động ngoại giao,
tìm cách thỏa hiệp với cả Liên Xô và Trung Quốc, tiến công vào hậu
phương quốc tế của Việt Nam.
Để trả đũa cuộc tiến công của Quân giải phóng miền Nam, Mỹ dùng
không quân và hải quân đánh phá trở lại miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên,
những cố gắng của Mỹ không làm giảm quyết tâm kháng chiến của toàn
Đảng và toàn dân Việt Nam. Đảng Lao động Việt Nam chủ động đề ra chủ
trương và biện pháp đối phó với những hành động quân sự mới của Mỹ.
Chương 3
QUÂN VÀ DÂN MIỀN BẮC ĐÁNH THẮNG CUỘC CHIẾN TRANH
PHÁ HOẠI LẦN THỨ HAI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
3.1. QUÂN VÀ DÂN MIỀN BẮC ĐÁNH TRẢ KHÔNG
QUÂN VÀ HẢI QUÂN MỸ
3.1.1. Miền Bắc chuyển sang thời chiến, duy trì sản xuất, tăng sức
chi viện cho tiền tuyến miền Nam
Thực hiện chủ trương của Đảng, miền Bắc chuyển hướng nền kinh tế
trong hoàn cảnh thời chiến, bảo vệ và đẩy mạnh sản xuất, đáp ứng yêu cầu

đối với miền Bắc đã bị thất bại một bước nghiêm trọng.
3.2. ĐÁNH BẠI CUỘC TẬP KÍCH ĐƯỜNG KHÔNG CHIẾN
LƯỢC CUỐI THÁNG 12-1972 CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
3.2.1. Ý đồ chiến lược của đế quốc Mỹ và sự chuẩn
bị của quân dân miền Bắc
16
Sau khi thắng cử Tổng thống Mỹ, R.Nixon đã cho tập trung lực lượng
không quân ở mức cao đánh phá, ngăn chặn quyết liệt các tuyến giao thông
từ Nam Vĩ tuyến 20 trở vào. Ở miền Nam, ngay trong tháng 11, Mỹ gấp rút
ồ ạt tăng viện trợ và trang bị cho quân đội Sài Gòn.
Phán đoán âm mưu của Mỹ sau những hành động dây dưa kéo dài ở Hội
nghị Paris, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu đều chỉ thị cho các
lực lượng vũ trang tăng cường sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị đối phó với
chiến tranh phá hoại mở rộng trở lại trên toàn miền Bắc với mức độ ác liệt
hơn, kể cả việc dùng B.52 đánh ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng. Công tác
chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân miền Bắc
triển khai với tinh thần tích cực, chủ động và khẩn trương.
3.2.2. Cuộc chiến đấu 12 ngày đêm đánh bại cuộc tập kích chiến
lược đường không của Mỹ
Ngày 14-12, R.Nixon chính thức thông qua kế hoạch mở tập kích lớn
bằng không quân chiến lược vào Hà Nội và Hải Phòng. Ngày 18-12-1972,
chiến dịch Linebacker II chính thức bắt đầu. Liên tục trong 12 ngày đêm,
đế quốc Mỹ đã huy động đến mức cao sức mạnh của không quân chiến lược
và không quân chiến thuật tập kích vào Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải
Phòng và một số trung tâm công nghiệp của miền Bắc Việt Nam. Không
quân Mỹ ném bom rải thảm xuống các mục tiêu quân sự, kinh tế, trường
học, bệnh viện, khu phố, bến xe, nhà ga.
Do được chuẩn bị từ trước, quân và dân Hà Nội, Hải Phòng và các địa
phương miền Bắc bước vào cuộc chiến đấu với tinh thần bình tĩnh, chủ
động và tự tin. Bộ đội radar đã thực hiện xuất sắc khẩu hiệu “không để Tổ

cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất. Khối lượng bom đạn được sử dụng
trong thời gian này bằng khối lượng bom đạn ném xuống trong cả năm cao
điểm trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất.
Tuy nhiên, sức mạnh của không quân, hải quân địch là có hạn và cũng
dễ bộc lộ những điểm yếu không thể khắc phục được. Mỹ đã vấp phải một
lực lượng vũ trang nằm ngoài khả năng tính toán của những bộ óc điện tử
Lầu Năm Góc. Mặc dù không có một sức mạnh đối kháng hay gây khó
khăn nào cho tác chiến cả trên không cũng như trên biển trên biển của địch
nhưng với thế trận phòng không dày đặc, đa tầm của miền Bắc Việt Nam,
của lực lượng vũ trang ba thứ quân, ý chí kiên cường của quân và dân Miền
Bắc đã vô hiệu hóa mọi đòn tiến công của đối phương.
18
4.1.2. Quân và dân miền Bắc vừa đánh bại các mục
tiêu chiến lược của đế quốc Mỹ trong chiến tranh phá
hoại lần thứ hai, vừa làm nhiệm vụ động viên sức
người, sức của chi viện cho tiền tuyến miền Nam
- Đánh bại âm mưu của Mỹ nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc
cho tiền tuyến lớn miền Nam
Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai, đế quốc Mỹ tiến
hành 2 chiến dịch Linebaker I và Linebaker II. So sánh với mục tiêu của
chiến tranh phá hoại lần thứ hai (cả Linebacker I và Linebacker II) cho
thấy, Mỹ không đạt mục tiêu nào cả về chính trị lẫn quân sự.
- Đánh bại âm mưu của đế quốc Mỹ là dùng bom đạn uy hiếp và làm
giảm quyết tâm chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.
Tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, đế quốc Mỹ tin rằng có
thể dùng sức mạnh của bom đạn để uy hiếp tinh thần, làm lung lay ý chí
chiến đấu của nhân dân buộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa phải
kí kết Hiệp định theo điều kiện chúng. Nhưng đế quốc Mỹ đã phải đương
đầu với một dân tộc anh hùng. Với quyết tâm “Không có gì quý hơn độc
lập, tự do”, quân và dân miền Bắc đã đoàn kết chiến đấu dũng cảm, kiên

4.3. MỘT SỐ KINH NGHIỆM
4.3.1. Nắm vững bản chất, âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ, sớm
tìm ra phương hướng tác chiến phù hợp
Nắm rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, quy luật leo thang chiến tranh,
phán đoán đúng ý đồ chiến lược của địch, Đảng khẳng định Mỹ sẽ ném
bom trở lại miền Bắc với mức độ ác liệt hơn trước, nhất là dùng B.52 đánh
phá các trọng điểm như Hà Nội, Hải Phòng.
Bài học kinh nghiệm được đúc rút từ cuộc chiến đấu của quân và dân
miền Bắc chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ cho thấy,
theo dõi và nắm chắc tình hình trong nước, khu vực, trên thế giới để có kế
hoạch phương án sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ vùng trời, biển đảo của Tổ
quốc. Mọi biểu hiện chủ quan, lơ là cảnh giác, hoặc đánh giá không đúng về
khả năng của đối phương, thoát ly tình hình thực tiễn sẽ dẫn đến bị động
trong đối phó.
4.3.2. Xây dựng quyết tâm cao, chuẩn bị chu đáo
mọi mặt, kiên quyết giành chiến thắng
Để đánh bại bước leo thang đánh phá của kẻ địch, Đảng ta cho rằng đây
là một sự thử thách toàn diện về sức mạnh chính trị, quân sự, về tinh thần
và vật chất của quân và dân Việt Nam.
Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ trên, công việc tổ chức lực lượng
toàn dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn có ý nghĩa quyết định. Vấn đề
20
mấu chốt là mỗi người dân đã nhận thức được đầy đủ tình hình và nhiệm vụ
cách mạng; nâng cao quyết tâm quyết đánh và quyết thắng cuộc chiến tranh
phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc.
4.3.3. Nâng cao hiệu lực chiến đấu của lực lượng vũ trang ba thứ
quân trên cơ sở lấy chủ lực làm nòng cốt trong cuộc chiến đấu chống
chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai
Trong điều kiện địch có sức mạnh và ưu thế về hải quân và không quân,
Đảng Lao động Việt Nam chủ trương phát huy sức mạnh to lớn của chiến

Nam, cố giữ cho cục diện chiến trường miền Nam không lâm vào tình trạng
xấu hơn; đồng thời phá hoại tiềm lực kinh tế và quân sự của miền Bắc, gây
thương vong lớn cho nhân dân, chặn đường viện trợ vật chất của các nước
xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam. Tất cả thủ đoạn đó hòng đánh bẹp ý chí và
quyết tâm đánh Mỹ của nhân dân Việt Nam, tạo sức ép về chính trị, ép
VNDCCH chấp nhận một giải pháp có lợi cho Mỹ trên bàn đàm phán ở
Paris.
Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc
diễn ra trong thời gian ngắn (từ tháng 4-1972 đến tháng 1-1973), nhưng tính
chất ác liệt và quy mô lớn hơn gấp nhiều lần cuộc chiến tranh phá hoại lần
thứ nhất. Trong bối cảnh chiến tranh mở rộng ra cả nước, dưới sự lãnh đạo
của Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ, QUTW, quân và dân miền
Bắc bình tĩnh, tự tin kiên định, nhanh chóng chuyển mọi hoạt động từ thời
bình vào thời chiến. Chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại miền
Bắc của đế quốc Mỹ với quan điểm toàn dân, toàn diện đã được tiến hành
triệt để, sâu rộng với tinh thần làm chủ cao của mọi người, mọi nhà, mọi
cấp, mọi ngành, mọi lực lượng kinh tế đều đảm đương cả nhiệm vụ quân
sự. Các lực lượng vũ trang không những là lực lượng nòng cốt, xung kích
trong chiến đấu, mà còn là lực lượng nòng cốt, xung kích trong cả sản
xuất, xây dựng và bảo vệ kinh tế; mỗi đơn vị sản xuất đều là mỗi đơn vị
chiến đấu, phục vụ chiến đấu; và ngược lại, các đơn vị chiến đấu đều là
những lực lượng tham gia sản xuất, bảo vệ sản xuất. Công tác phòng
không, sơ tán được tiến hành khẩn trương; lực lượng vũ trang nhất là lực
lượng Phòng không, Không quân, Hải quân, Công binh, Pháo binh
nhanh chóng triển khai trận địa, kịp thời đánh trả các bước leo thang ồ ạt
của địch…
Bằng một thế trận phòng không nhân dân được triển khai rộng khắp và
nhiều tầng, nhiều lớp, quân và dân miền Bắc đánh thắng cuộc chiến tranh
22
phá hoại quy mô lớn và tàn bạo của đế quốc Mỹ. Thắng lợi này có ý nghĩa

Trong giai đoạn hiện nay, các thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ
đã được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự, nhiều loại vũ khí
kỹ thuật quân sự hiện đại – công nghệ cao được sản xuất và đưa vào sử
23
dụng trong quân đội nhiều nước trên thế giới. Điều đó làm thay tận gốc tư
duy quân sự, học thuyết quân sự, trong đó có tác chiến trên không, chống
tiến công đường không, đường biển. Trong tình hình đó, vai trò, vị trí tác
chiến trên không, chống tập kích, tiến công bằng đường không, đường biển
ngày càng được đánh giá cao. Bởi lẽ nó đã, đang và sẽ giữ vai trò quyết
định đến tiến trình và kết cục cuộc chiến tranh. Chính vì vậy, trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại đất nước nói chung, hiện đại hóa quân đội
nói riêng, cần nghiên cứu những phát triển mới về vũ khí, trang bị, biết kế
thừa và phát triển tinh hoa của nghệ thuật quân sự trong chiến tranh giải
phóng nói chung, nghệ thuật tác chiến đường không, đường biển nói riêng,
vận dụng phù hợp với thực tiễn của tình hình đất nước.
5. Để thực hiện tốt Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, thời gian tới, Nhà nước
cần tăng cường nguồn lực đầu tư cho quốc phòng, an ninh; quan tâm phát
triển khoa học - công nghệ, đặc biệt là kĩ thuật quân sự, nghệ thuật quân sự,
ứng dụng các thành tựu khoa học vào huấn luyện sẵn sàng chiến đấu.
Chuẩn bị chu đáo các phương án, kế hoạch động viên nhân tài, vật lực cho
nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Bên cạnh đó, tiếp tục điều chỉnh thế bố trí
chiến lược lực lượng quân đội đáp ứng yêu cầu phòng thủ đất nước; nâng
cao chất lượng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng
toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, mà trực tiếp là xây dựng các
khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc. Đồng thời, các lực lượng
quốc phòng, an ninh phải chủ động nắm chắc tình hình, dự báo đúng các
tình huống phức tạp có thể xảy ra, phát hiện kịp thời các âm mưu, hành
động chống phá của các thế lực thù địch để có phương án, biện pháp ứng
phó, ngăn chặn hiệu quả. Thường xuyên điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các
phương án tác chiến, kế hoạch phòng thủ trên phạm vi cả nước, từng hướng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status