TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Trinh
GIÁO TRÌNH
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC GIÁO DỤC MẦM NON
(Dùng cho hệ đào tạo từ xa – ngành GD Mầm non)
Vinh 2011
1
2
Lời nói đầu
Cuốn "Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non" viết về vấn đề
phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục cho trẻ
từ 0-6 tuổi.
Trong cuốn sách này tác giả trình bày những vấn đề mang tính hệ thống về
nghiên cứu khoa học, các vấn đề phương pháp luận và các phương pháp nghiên
cứu, các bước tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo
dục mầm non. Ngoài ra, trong cuốn sách còn có phần phụ lục nhằm hướng dẫn cho
sinh viên các lựa chọn đề tài nghiên cứu và thực thi đề tài nghiên cứu khoa học
trong lĩnh vực giáo dục mầm non.
Cuốn sách bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về nghiên cứu khoa học
- Chương 2: Các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non
- Chương 3: Các bước tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học giáo
dục mầm non.
trọng số một của lao động khoa học.
- Tính tin cậy:
Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có khả
năng kiểm chứng nhiều lần trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn
toàn giống nhau, và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau. Một kết quả
thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã đặt ra trước đó cũng chưa thể
xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng.
4
Điều này dẫn đến một nguyên tắc mang tính phương pháp luận của nghiên
cứu khoa học, là khi trình bày một kết quả nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện,
các nhân tố và phương tiện thực hiện (nếu có).
- Tính thông tin:
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều dạng, có thể đó
là một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học ... tuy nhiên trong tất cả các trường
hợp khác nhau, sản phẩm khoa học luôn luôn mang đặc trưng thông tin. Đó là
những thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về quy trình công nghệ
và các tham số đi kèm quy trình đó.
- Tính khách quan:
Tính khách quan vừa là một đặc điểm của nghiên cứu khoa học vừa là một
tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiên khoa học. Trong xã hội học khoa học,
người ta xem đó là một chuẩn mực giá trị. Một nhận định vội vã theo tình cảm, một
kết luận chưa được kiểm chứng chưa thể xem là một phản ánh khách quan về bản
chất của sự vật.
- Tính rủi ro:
Quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới hoàn toàn có thể
gặp thất bại. Đó là tính rủi ro của nghiên cứu. Sự thất bại trong nghiên cứu khoa
học có thể do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn thiếu những thông tin cần thiết và đủ
nâng cao chất lượng công tác chăm sóc- giáo dục trẻ em từ 0-6 tuổi.
Bản chất của nghiên cứu khoa học GDMN là sáng tạo ra cái mới
b) Đối tượng của nghiên cứu khoa học GDMN
Những sự vật, hiện tượng trong lĩnh vực GDMN cần được khám phá, nhận
thức và cải tạo chính là đối tượng của nghiên cứu khoa học GDMN.
Có thể kể đến các đối tượng nghiên cứu sau đây trong lĩnh vực này:
- Các vấn đề về sự phát triển tâm, sinh lý của trẻ em từ 0-6 tuổi
- Các vấn đề về giáo dục trẻ em từ 0-6 tuổi như mục đích, nội dung, chương
trình, phương pháp, hình thức, phương tiện, kết quả giáo dục, các lực lượng giáo
dục, mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong GDMN...
- Các vấn đề về quản lý GDMN: quản lý nhà nước về GDMN, quản lý
trường mầm non (mục đích, quá trình, nội dung, phương pháp, các điều kiện đảm
bảo chất lượng GDMN; quản lý đội ngũ GVMN, quản lý trẻ và nhóm lớp trong
trường mầm non...).
6
1.3. Trẻ em từ 0-6 tuổi là đối tượng cơ bản của nghiên cứu khoa học về
GDMN.
3.1.1. Các quan niệm về trẻ em
a) Trẻ em là động vật:
Đây là quan niệm của trường phái hành vi mà đại diện là J.Watson. Khi
nghiên cứu hành vi của con người như là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trả lời các
kích thích từ bên ngoài (theo công thức S - R; S là kích thích của môi trường bên
ngoài; R là phản ứng trả lời tương ứng của cơ tthể), J.Watson và những người theo
trường phái hành vi đã đồng nhất con người với con vật và đồng nhất trẻ em với
động vật. Ông viết : “… Con người là động vật có hai chân, hai tay với những ngón
tay cực kỳ tinh vi uyển chuyển. Con người phát triển 9 tháng trong thời kỳ bào thai,
8 năm trong thời kỳ thơ ấu và 70 năm trong suốt cuộc đời”.
Pascan cũng quan niệm “... Con người là động vật có phản ứng với từ ngữ và
năng học tập, sẵn sàng tiếp nhận những kinh nghiệm lịch sử -xã hội từ thế hệ trước
để phát triển tâm lý và nhân cách của mình.
+ Tuy vậy, cấu trúc hình thái của cơ thể trẻ phát triển và hoàn thiện từ khi lọt
lòng đến tuổi trưởng thành (cân nặng, chiều cao, sự thuần thục dần của các cơ quan
nội tạng, đặc biệt hệ thần kinh và bộ não).
Có thể nói, khái niệm trẻ em có thể hiểu là một cấu trúc hình thái cơ thể
người còn non nớt đang được tăng trưởng.
- Khái niệm trẻ em xét trên bình diện văn hoá:
+ ở người thế hệ sau tiếp nhận kinh nghiệm hoạt động, tri thức, kỹ năng và
các phẩm chất tâm lý không phải bằng con đường di truyền sinh vật (như động vật)
mà bằng con đường di truyền xã hội hay còn gọi là kế thừa văn hoá.
+ Thông qua hoạt động và giao tiếp trẻ em linh hội các kinh nghiệm ls-xh
của loài người được kết tinh trong nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần
(nền văn hoá xã hội)
+ Trẻ em lĩnh hội các kinh nghiệm nói trên dưới sự hướng dẫn, dạy dỗ
thường xuyên của người lớn- giáo dục.
+ Quá trình phát triển của lịch sử, văn hoá làm thay đổi vốn kinh nghiệm lsxh, làm thay đổi yếu tố môi trường và giáo dục, đặc biệt là thay đổi hành vi, hoạt
động, các chức năng tâm lý cấp cao của con người (trẻ em).
8
Như vậy, khái niệm trẻ em là một khái niệm lịch sử-văn hoá, luôn thay đổi
cùng với sự thay đổi của nền văn hoá.
- Khái niệm trẻ em xét trên bình diện tâm lý cá nhân:
+ Đối với trẻ em từ lọt lòng đến tuổi trưởng thành đều phải trải qua một quá
trình phát triển bao gồm nhiều thời kỳ, giai đoạn, nhiều pha, còn động vật thì chỉ có
khả năng sinh trưởng - tuần tự theo thời gian mà bộc lộ những gì tổ tiên đã trang bị
sẵn.
+ Mỗi giai đoạn phát triển đều mang những đặc điểm riêng đặc trưng cho
phát triển của trẻ em diễn ra như thế nào vì thế không nên can thiệp vào sự pháp
triển đó, và tất nhiên cũng chả cần nhọc công nghiên cứu chúng.
d) Quan niệm Tâm lý học duy vật biện chứng về trẻ em đã dẫn đến các
nguyên tắc sau đây khi nghiên cứu về trẻ em:
- Trẻ em là sản phẩm của thời đại lịch sử, nên muốn nghiên cứu trẻ em phải
nghiên cứu các yếu tố lịch sử- xã hội bao quanh đứa trẻ.
- Trẻ em tự sinh thành ra mình bằng hành động cho nên cần tìm hiểu hành
động, hoạt động của trẻ em và sản phẩm hoạt động khi nghiên cứu trẻ em .
- Trẻ em là trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại, nó vừa mang nét
chung ở cùng giai đoạn lứa tuổi với những trẻ em khác, vừa mang đặc thù riêng của
chính nó. Do vậy các nghiên cứu trẻ em phải vừa nắm được quy luật tâm- sinh lý
chung để lý giải: em bé này đang ở giai đoạn tâm lý nào về tính tình, về trí khôn, lại
vừa phải nắm được chân dung tâm lý riêng của nó.
- Các nhà tâm lý học duy vật biện chứng không phủ nhận vai trò của các yếu
tố sinh vật trong sự phát triển tâm lý trẻ em, do vậy, khi nghiên cứu trẻ em chúng ta
cần nghiên cứu mặt sinh lý, tức cơ chế hoạt động điều hoà (hay là xem em bé có
bệnh tật gì không? khoẻ hay yếu?).
2. Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học GDMN
Trong nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu khoa học GDMN nói
riêng chúng ta thường gặp các thuật ngữ: phương pháp, phương pháp hệ, phương
pháp luận. Vậy phương pháp, phương pháp hệ, phương pháp luận là gì?
2.1. Phương pháp nghiên cứu khoa học
a) Khái niệm:
10
Theo nghĩa chung thì phương pháp là con đường đạt mục đích, là cách thức
giải quyết một công việc cụ thể. ở mỗi ngành khoa học lại có một hệ thống các
phương pháp nghiên cứu riêng. Nhà khoa học phải nắm vững bản chất và biết cách
- Mỗi phương pháp nghiên cứu khoa học có điểm mạnh và điểm yếu, do đó
không nên chỉ sử dụng duy nhất 1 phương pháp để nghiên cứu đối tượng.
c) Phân loại các phương pháp nghiên cứu khoa học:
Khi nghiên cứu khoa học cần sử dụng rất nhiều phương pháp, phối hợp các
phương pháp, dùng các phương pháp để hộ trợ nhau, kiểm tra lẫn nhau và để khẳng
định kết quả nghiên cứu. Vì sự đa dạng của các phương pháp mà người ta tìm ra
cách phân loại nó để tiện sử dụng. Có những cách phân loại phương pháp sau đây:
- Dựa trên quy trình nghiên cứu, người ta chia phương pháp thành 3 nhóm:
mô tả, giải thích và chuẩn đoán.
- Dựa vào các bước của công việc, có các nhóm phương pháp: thu thập thông
tin, gia công và xử lý thông tin.
- Dựa vào trình độ tiếp cận của đối tượng, có các nhóm phương pháp:
phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phương pháp nghiên cứu thực tiễn và phương
pháp xử lý số liệu.
Việc sử dụng hệ thống phương pháp phải nhất quán theo một cách phân loại.
Trong thực tế cách phân loại thứ 2 và thứ 3 được chấp nhận rộng rãi.
2.2. Phương pháp hệ
Là nhóm các phương pháp được sử dụng trong một lĩnh vực khoa học hay
một đề tài cụ thể. Các phương pháp này hỗ trợ, bổ sung và kiểm tra lẫn nhau trong
quá trình nghiên cứu và để khẳng định tính chân thực của các luận điểm khoa học.
2.3. Phương pháp luận
Theo nghĩa hẹp là lý luận tổng quát, là những quan điểm chung, là cách tiếp
cận đối tượng khoa học. Đây là những luận điểm mang màu sắc triết học, tuy nhiên
nó không đồng nhất với triết học, mà nó vận dụng triết học như thế giới quan để
giải thích và khám phá mà thôi. Những quan điểm phưong pháp luận là kim chỉ
nam hướng dẫn các nhà khoa học trên con đường tìm tòi nghiên cứu. Có những
quan điểm phương pháp luận cho nhiều ngành khoa học, cũng có những quan điểm
riêng, đặc thù của một lĩnh vực khoa học mà gọi là phương pháp luận chuyên
ngành.
* Tính hệ thống: là thuộc tính quan trọng của thế giới, là hình thức diễn đạt
tính chất phức tạp của đối tượng và nó chính là một thông số quan trọng để đánh
giá đối tượng. Một công trình nghiên cứu khoa học phải tìm cho được tính hệ thống
13
của đối tượng và trình bày nó một cách rành mạch, hàm xúc, chi tiết với lập luận
chặt chẽ nhất.
* Quan điểm hệ thống: là một luận điểm quan trọng chỉ dẫn quá trình nghiên
cứu đối tượng phức tạp, là cách tiếp cận đặc trưng bằng phương pháp hệ thống để
tìm ra các cấu trúc của đối tượng, phát hiện ra tính hệ thống: một thuộc tính quan
trọng của đối tượng. Quan điểm hệ thống yêu cầu nghiên cứu đối tượng theo quy
luật của cái toàn thể có tính hệ thống với các thành phần có mối tương tác biện
chứng hữu cơ.
Trong mọi lĩnh vực của cuộc sống và cả trong hoạt động tâm lý, ở các mức
độ khác nhau ta đều phát hiện ra tính hệ thống trong các đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng đơn giản nhất là các hiện tượng tâm lý riêng lẻ (cử động, thao
tác, hành động, hoặc cá thể) tồn tại độc lập một cách tương đối, ta có thể cô lập để
nghiên cứu.
- Đối tượng phức tạp hơn, có kết cấu trọn vẹn như một chỉnh thể, như một hệ
thống (hoạt động, các đặc điểm nhân cách). Ví dụ: Đời sống tâm lý, nhu cầu của
đứa trẻ hay hệ thống tâm lý- sinh lý- xã hội.
- Đối tượng phức tạp nhất là hiện thực xã hội, bao gồm những khách thể có
mối liên hệ với nhau, tạo thành siêu hệ thống. Ví dụ: Vấn đề tâm lý và văn hoá.
Khi nghiên cứu khoa học GDMN theo quan điểm hệ thống cần:
+ Nghiên cứu đối tượng một cách toàn diện, nhiều mặt, dựa vào việc phân
tích đối tượng thành các bộ phận mà xem xét cụ thể.
+ Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật
phát triển từng mặt và của toàn bộ đối tượng tâm lý.
+ Nghiên cứu đối tượng trong mối tương tác với các hiện tượng xã hội khác,
qua hoạt động của cá nhân. Vì thế, muốn nghiên cứu tâm lý, nhu cầu của con người
ta phải nghiên cứu hoạt động, hành động và sản phẩm hoạt động, nơi kết tinh năng
lực con người vào đấy.
c) Phương pháp luận tích hợp
Quan điểm tích hợp coi tự nhiên- xã hội- con người như là một thể thống
nhất tác động qua lại với nhau.
Quan điểm tích hợp trong nghiên cứu khoa học đòi hỏi một sự kết hợp, đan
xen, lồng ghép các mảng đề tài, các góc độ nghiên cứu chung.
Quan điểm tích hợp được sử dụng trong nghiên cứu khoa học GDMN, vì:
15
- Trẻ em là một đối tượng nghiên cứu mang tính tích hợp (đối tượng nghiên
cứu của nhiều khoa học).
- Sự phát triển của trẻ em trong 6 năm đầu đời rất nhanh, mạnh, tuy nhiên,
các chức năng tâm-sinh lý chưa hình thành thật rõ nét và tách bạch rạch ròi như ở
người lớn. Vì thế, để hiểu rõ về trẻ em, người ta cần sử dụng tổng hợp nhiều
phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau.
Để vận dụng quan điểm tích hợp trong nghiên cứu trẻ em, cần phải:
- Cần kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khi nghiên cứu trẻ
em, trong đó có một phương pháp đóng vai trò chủ đạo.
- Để nghiên cứu các vấn đề chung của giáo dục mầm non, cần vận dụng các
hướng nghiên cứu mang tính tích hợp, được thực hiện bởi các chuyên gia từ nhiều
lĩnh vực khoa học khác nhau.
- Các dữ kiện thu được từ quá trình nghiên cứu vừa được phân tích, nhìn
nhận từ nhiều góc độ khác nhau: xã hội học, tâm lý học, sinh lý học...và chúng
cũng vừa được tổng hợp, lồng ghép với nhau để giải quyết các vấn đề nuôi và dạy
trẻ.
- Đối với việc giáo dục trẻ em trước 6 tuổi cần kết hợp giữa chăm sóc và dạy
dỗ trẻ em. Muốn đạt hiệu quả thì 2 nhiệm vụ này cần lồng ghép, đan xen, hoà
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính chất lịch sử xã hội của
con người làm biến đổi tự nhiên và xã hội.
Thực tiễn vừa là nguồn gốc, vừa là động lực, vừa là mục đích, vừa là tiêu
chuẩn để đánh giá đối với mọi lý thuyết khoa học:
- Nghiên cứu khoa học GDMN phải bắt nguồn từ thực tiễn. Động lực nghiên
cứu khoa học đó chính là nhu cầu giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn.
- Kết quả nghiên cứu khoa học GDMN quay trở lại phục vụ thực tiễn (nâng
cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ mầm non).
- Những sự kiện thực tiễn là những cứ liệu quan trọng giúp nhà nghiên cứu
tìm hiểu đối tượng và khám phá ra quy luật vận động của nó.
- Thực tiễn là tiêu chuẩn để đánh giá các sản phẩm khoa học một cách chính
xác nhất.
Nghiên cứu khoa học GDMN cần đứng vững trên quan điểm thực tiễn mới hi
vọng đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học về trẻ em, mang lại lợi ích thiết thực
cho sự nghiệp chăm sóc- giáo dục trẻ em trước 6 tuổi.
17
Chương 2:
CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC MẦM NON
Nghiên cứu khoa học GDMN, dựa trên những hiện tượng thực của thế giới
khách quan nhà nghiên cứu thu thập một cách kỹ lưỡng những sự kiện cần thiết và
xem xét chúng một cách sâu sắc theo những khía cạnh khác nhau. Trong khi đối
chiếu những hiện tượng thu thập được với nhau, nhà nghiên cứu khám phá ra
những nguyên nhân và quy luật hoạt động của chúng, từ đó làm giàu cho khoa học,
giúp ích cho thực tiễn.
Trong quá trình nghiên cứu khoa học, nhà nghiên cứu phải:
- Xác định những sự kiện nào họ cần phải thu thập.
- Nắm vững những thủ thuật nghiên cứu cần thiết và đôi khi xây dựng những
phương pháp nghiên cứu riêng và những hệ phương pháp để thu thập những sự
tượng tâm lý phải thấy được quá khứ, hiện tại và tương lai của nó. Đồng thời cũng
phải thấy được tính ổn định của nó trong một thời điểm nhất định, trong những
điều kiện nhất định.
2. Các phương pháp nghiên cứu khoa học GDMN
3.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
3.1.1. Chức năng:
Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết có chức năng cơ bản là định hướng
cho việc nghiên cứu đề tài, vạch con đường tiếp cận đối tượng, chỉ đạo việc lựa
chọn các phương pháp nghiên cứu cụ thể để khám phá đối tượng. Chức năng thứ
hai của các phương pháp nghiên cứu lý thuyết là xây dựng hệ thống khái niệm
khoa học là công cụ nghiên cứu đề tài. Chức năng thứ ba là khái quát những cứ
liệu khoa học thành những kết luận khoa học, lý thuyết khoa học (ở mức độ cao
hơn).
3.1.2. Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết cụ thể
a) Phương pháp phân tích- tổng hợp lý thuyết
- Phân tích là thao tác tác đối tượng ra thành nhiều bộ phận, nhiều chi tiết để
có thể xem xét kỹ lưỡng đối tượng từ nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau.
- Tổng hợp là thao tác gộp các bộ phận, các chi tiết đã phân tích theo hướng
nhất định để tạo thành một chỉnh thể, nhờ đó đối tượng được nhìn nhận một cách
toàn diện và sâu sắc hơn.
19
Phân tích- tổng hợp lý thuyết là phương pháp nghiên cứu cơ bản không thể
thiếu được đối với việc xây dựng những luận cứ khoa học về trẻ em. Phương pháp
này thường được sử dụng ở bước khởi đầu của việc nghiên cứu lý luận hoặc xây
dựng cơ sở lý luận cho các nghiên cứu thực tiễn.
Khi thực hiện phương pháp phân tích- tổng hợp lý thuyết, cần phải:
- Phân tích mỗi lý thuyết hay trường phái khoa học thành nhiều khía cạnh,
- Phương pháp mô hình hoá là phương pháp nghiên cứu lý thuyết bằng cách
xây dựng những mô hình giả định để thể hiện được ý đồ chứa đựng trong lý thuyết,
rồi dựa trên mô hình đó mà tiến hành nghiên cứu lý thuyết.
Mô hình là sự tái hiện đối tượng nghiên cứu dưới dạng trực quan tương ứng
với nguyên bản của lý thuyết. Vì vậy, hệ thống mô hình cần được xây dựng sao cho
phản ánh trung thực những mối liên hệ cơ cấu- chức năng hay mối liên hệ nhân quả
giữa các thành tố trong đối tượng nghiên cứu. Mô hình là cái thay thế cho đối
tượng nghiên cứu nhưng đến lượt nó lại biến thành một phương tiện cụ thể để nhà
nghiên cứu đào sâu, mở rộng lý thuyết của mình. Mô hình lý thuyết có thể chứa
đựng cả những yếu tố mới, những ý tưởng chưa được thể nghiệm trong cuộc sống
(mô hình giả định).
Nhờ phương pháp cụ thể hoá lý thuyết mà những lý thuyết khoa học trừu
tượng trở nên dễ hiểu, dễ sử dụng vào thực tiễn, giúp người nghiên cứu có chỗ dựa
để đi xa hơn trong quá trình nghiên cứu lý thuyết của mình.
d) Phương pháp giả thuyết
Đây là phương pháp nghiên cứu bằng cách dự đoán những thuộc tính và quy
luật phát triển của đối tượng, trên cơ sở đó mà tìm kiếm, khám phá bản chất của đối
tượng nghiên cứu thông qua quá trình chứng minh những điều dự đoán đó là đúng.
Chức năng của phương pháp giả thuyết: dự báo (dự đoán) và định hướng.
Phương pháp giả thuyết về thực chất là khâu đầu tiên của quá trình nhận thức
về một đối tượng nào đó khi mà các thông tin về nó còn thiếu hụt hoặc chưa rõ
ràng. Vì vậy, để nghiên cứu đối tượng, nhà nghiên cứu cần hình dung về một số
thuộc tính và quy luật phát triển của đối tượng. Như vậy, giả thuyết chưa phải là
chân lý, cần phải được chứng minh để khẳng định hoặc bác bỏ.
21
Trong nghiên cứu khoa học GDMN, phương pháp giả thuyết không chỉ cần
thiết cho việc nghiên cứu lý luận mà còn rất cần thiết cho việc chăm sóc và giáo
3.2.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
a) Quan sát
*Khái niệm: Quan sát là phương pháp nghiên cứu đối tượng bằng cách ghi
lại những biểu hiện bề ngoài của đối tượng trong đời sống hàng ngày, từ đó dự
đoán bản chất và quy luật vận động của chúng. Ví dụ: nghiên cứu những đặc điểm
quan hệ qua lại của trẻ 3-4 tuổi, chúng ta quan sát trẻ trong trò chơi, trong hành vi
của chúng khi ăn, khi ngủ, khi rửa mặt, khi dạo chơi...
*Phân loại:
Quan sát có thể là toàn diện hay bộ phận. Quan sát bộ phận khi nhà nghiên
cứu chỉ theo dõi một mặt nào đó của đối tượng trong một thời gian dài, hay hành vi
trong một hoạt động nào đó. Quan sát toàn diện là theo dõi cùng một lúc toàn bộ
hành vi của đối tượng trong một thời gian dài. Tuy vậy nó vẫn manh tính chọn lọc
nhiều hay ít. Sản phẩm của quá trình quan sát là những cuốn nhật ký.
* Đặc điểm của phương pháp quan sát: (ưu, nhược điểm của phương pháp
quan sát)
- Ưu điểm:
+ Dễ thực hiện, không cầu kỳ về thiết bị và phương tiện quan sát
+ Nhà nghiên cứu thu thập được đông đảo những sự kiện về hành vi tự nhiên
của đối tượng mang tính chân thật, sống động.
+ Nắm bắt được "chân dung tâm lý" của mỗi đứa trẻ
+ Cho phép hiểu được mối quan hệ của đối tượng (đứa trẻ cụ thể) với những
thành viên khác trong tập thể trẻ em.
+ Cho phép hiểu mối quan hệ giữa hành vi của trẻ với những hành động của
giáo viên, của nhà giáo dục một cách rõ ràng nhất.
Bên cạnh nhiều ưu điểm, phương pháp quan sát còn có một số thiếu sót, hạn chế
phạm vi sử dụng của nó:
- Nhược điểm:
+ Mối quan hệ tác động qua lại nhiều mặt giữa sinh lý, quan hệ xã hội và các
hiện tượng tâm lý làm cho nhà nghiên cứu gặp nhiều khó khăn khi tìm hiểubản chất
hiện tượng, chuẩn bị các phương tiện cần thiết để lưu giữ lại các sự kiện quan sát,
kỹ năng vạch sơ bộ kế hoạch và cách thức quan sát); kỹ năng sử dụng ngôn ngữ
(dùng để mô tả cái được quan sát); kỹ năng lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch
24
quan sát theo hệ thống, kỹ năng ghi lại nhanh chóng, chính xác, rõ ràng, khách
quan cái phải nghiên cứu.
- Thái độ của con người đối với việc quan sát đóng vai trò quan trọng. Việc
hiểu được ý nghĩa quan sát, ý thức được trách nhiệm của người nghiên cứu về tính
khách quan của kết quả thu được, cân nhắc sự cần thiết trong việc tổng kết những
kết quả quan sát được là rất quan trọng. Tất cả điều đó ảnh hưởng một cách tích cực
đến chất lượng của quá trình quan sát, nhắc nhở người nghiên cứu phải xem xét cẩn
thận, lắng nghe thận trọng, thúc đẩy họ quan sát ổn định, lâu dài.
Tóm lại: Phương pháp quan sát là phương pháp nghiên cứu tâm lý trẻ em
quan trọng, không thể thay thế được.
b) Phương pháp thực nghiệm
b.1) Khái niệm: Đó là phương pháp nghiên cứu thực tiễn được tổ chức một
cách đặc biệt, tức là người nghiên cứu chủ động tạo ra những điều kiện đặc biệt để
làm bộc lộ những phẩm chất hay năng lực theo hướng giả thuyết đặt ra.
b.2) Thực nghiệm có những ưu điểm sau đây:
+ Nhà nghiên cứu ở thế chủ động khi tự mình thiết kế những điều kiện cần
thiết để tạo ra các hiện tượng cần nghiên cứu theo hướng giả thuyết đặt ra. Ví dụ:
muốn nghiên cứu ảnh hưởng của lời khen tới sự nỗ lực ý chí của trẻ, nhà nghiên
cứu tổ chức thực nghiệm sao cho trong đó lời khen, khi cần thiết, như là sự củng cố
hành vi của trẻ.
+ Nhà nghiên cứu có thể lặp đi, lặp lại nhiều lần thí nghiệm của mình, kiểm
tra lại những kết quả thu được trước đây. Đặc biệt quan trọng là ở những lần thí
nghiệm sau chúng ta có thể thay đổi một số điều kiện, và do đó xác định được ảnh