Loại hình truyện kể lãng mạn (qua một số tiểu thuyết tiêu biểu của việt nam trước năm 1945) - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ LIỄU

LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ LÃNG MẠN
(QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU
CỦA VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ LIỄU

LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ LÃNG MẠN
(QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU
CỦA VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945)
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ TRÀ MY



Nguyễn Thị Liễu


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 7
4.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 7
4.2. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................... 7
5. Đóng góp của luận văn ........................................................................... 8
6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 8
7. Cấu trúc luận văn.................................................................................... 8
CHƯƠNG 1. VẤN ĐỀ TRUYỆN KỂ VÀ LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ
TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945 ............................... 10
1.1. Khái quát về truyện kể ....................................................................... 10
1.1.1. Khái niệm truyện kể.................................................................... 10
1.1.2. Một số mô hình truyện kể .......................................................... 14
1.2. Một số loại hình truyện kể trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn trước
năm 1945.................................................................................................. 17
1.3. Khái niệm lãng mạn và loại hình truyện kể lãng mạn ........................ 20
1.3.1. Khái niệm lãng mạn .................................................................... 20
1.3.2. Loại hình truyện kể lãng mạn...................................................... 22
CHƯƠNG 2 BỨC TRANH THẾ GIỚI TRONG LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ
LÃNG MẠN TRƯỚC NĂM 1945 ................................................................. 26
2.1. Cuộc chiến ý thức hệ ......................................................................... 26
2.2. Khung truyện kể và vấn đề mở kết truyện kể ..................................... 38
2.2.1. Tuyên chiến - Chiến thắng .......................................................... 40


trên lĩnh vực tiểu thuyết. Nhiều tác phẩm tiểu thuyết đã đạt đến “giá trị cổ
điển” với một lớp nhà văn tiêu biểu như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,
Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Khái Hưng, Nhất
Linh, Thạch Lam, Lan Khai, Thế Lữ,... Tiểu thuyết - thể loại được xem là “sử
thi của thời đại mới” đã phản ánh được nhiều vấn đề lớn của dân tộc và thời
đại. Qua tiểu thuyết của giai đoạn này, người đọc đương thời có thể nhận thức
sâu sắc hơn về con người và thời đại mà họ đang sống để mỗi người tự xác
quyết cho mình một cách sống, một hướng đi.
Đã có một số nhà nghiên cứu tiến hành loại hình hoá các tiểu thuyết
giai đoạn này. Dựa trên các lý thuyết và thực tiễn sáng tác, các nhà nghiên
cứu đã đưa ra những mô hình tiểu thuyết Việt Nam theo những quan điểm
riêng của mình.
Khi tiếp cận các lý thuyết truyện kể, chúng tôi nhận thấy có thể kết hợp
các lý thuyết để nghiên cứu và loại hình hoá một số mô hình truyện kể phổ
biến trong tiểu thuyết Việt Nam 1930 - 1945, trong đó có kiểu mô hình truyện
kể lãng mạn.
Để nhận ra các mô hình truyện kể có thể căn cứ vào những tương đồng
về cấu trúc nội tại, không gian truyện kể của các nhóm tác phẩm. Điều này
không giống với việc căn cứ trên chất liệu đề tài hay thể tài như vẫn thường


2
thấy trong các cách phân loại khác. Do vậy, khi đặt vấn đề nghiên cứu mô
hình truyện kể, chúng tôi quan tâm đặc biệt đến lý thuyết của Iu. Lotman về
truyện kể xuất phát từ không gian kí hiệu học.
Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: Loại hình
truyện kể lãng mạn (qua một số tiểu thuyết tiêu biểu của Việt Nam trước
năm 1945).
2. Lịch sử vấn đề
Nói tới lịch sử nghiên cứu loại hình truyện kể, thực chất chúng ta đang

nếu cùng ở một trình độ phát triển xã hội như nhau, cùng phải lí giải những
vấn đề giống nhau thì các dân tộc khác nhau có thể sáng tác nên những truyện
mà nội dung và kết cấu cơ bản giống nhau” [26, tr.133].
Một số tác giả khác đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề loại hình truyện
dân gian và trung đại như Đặng Thanh Lê, Đặng Anh Đào, Trần Đình Sử,
Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Thị Nhàn... Tác giả Đặng Anh Đào trong bài viết
Âm hưởng văn chương truyền miệng trong nghệ thuật kể chuyện Việt Nam
khẳng định “chắc chắn, âm hưởng của văn chương truyền miệng rất dai dẳng
và sâu xa trong nghệ thuật kể chuyện Việt Nam”. Nhà nghiên cứu cho rằng
sự ảnh hưởng đó ở nhiều mặt. Thứ nhất là những hình thức dẫn nhập cốt
truyện dân gian vào văn học viết diễn ra trên các khía cạnh: dẫn nhập có sự
tái tạo, mô phỏng cốt truyện, mô - tip chuyện và hình thức nhai lại. Thứ hai là
kết cấu văn bản kể chuyện và kết cấu câu. Một trong những điều kiện để tạo
nên ảnh hưởng đó là sự tương đồng trong những thành phần nhất định. Và
những tương đồng đó sẽ là các mô hình có tính loại hình.
Tác giả Nguyễn Hữu Sơn trong bài viết Tương đồng mô hình cốt
truyện dân gian và những sáng tạo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn
Dữ cũng chỉ ra: “Nếu xét định lượng mô hình cốt truyện thì Truyền kỳ mạn
lục có khung hình thức tương đồng với truyện dân gian, khởi đầu bằng biến


4
cố, tiếp đến là diễn biến sự kiện và kết thúc bằng việc hoá giải các mâu
thuẫn”. Tất nhiên, khi đi sâu phân tích, bình luận, định tính nội dung của cốt
truyện thì thấy Truyền kỳ mạn lục vẫn có tới năm phương diện khác biệt cơ
bản so với hệ thống cốt truyện dân gian.
Khi nghiên cứu thi pháp Truyện Kiều, đến phần Từ mô hình cốt
truyện và thể loại của Truyện Kiều đến khuynh hướng cảm thương chủ
nghĩa nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã khái quát một số mô hình cốt truyện
lặp lại và thường gặp trong truyện kể dân gian và truyện kể trung đại. Từ đó,

truyện ngắn - tiểu thuyết hoá” [6, tr.51].
Luận án Những dạng cơ bản của tiểu thuyết tâm lí trong văn học Việt
Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 của Đào Đức Doãn nghiên cứu sâu về bốn
tiểu thuyết Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách), Lấy nhau vì tình (Vũ Trọng
Phụng), Bướm trắng (Nhất Linh), Sống mòn (Nam Cao) và xác định sự tồn
tại của bốn “loại hình” tiểu thuyết tâm lý cơ bản ở nửa đầu thế kỉ XX là tiểu
thuyết tâm lý tình cảm, tiểu thuyết tâm lý bản năng, tiểu thuyết tâm lý ý thức
cá nhân khép kín và tiểu thuyết tâm lý nhân cách. Ở phần kết luận, tác giả
khẳng định: “Có thể nói, bốn dạng tiểu thuyết tâm lý nói trên đánh dấu các
bước phát triển của lịch sử thể loại, bởi mỗi dạng là một mô hình nghệ thuật
về tiểu thuyết tâm lý đánh dấu những cách tân nghệ thuật trong quá trình hiện
đại hoá văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX ” [4, tr.200].
Luận án Ba phong cách trào phúng trong văn học Việt Nam thời kì
1930-1945: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao của Trần Văn
Hiếu nghiên cứu nghệ thuật trào phúng của ba nhà văn tiêu biểu giai đoạn này
để khái quát hoá những đặc điểm thể loại văn xuôi trào phúng có tính chất
loại hình. Tác giả khẳng định: “Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng là hai
cây bút trào phúng lớn tiêu biểu cho dòng phong cách trào phúng thứ nhất
(dòng tả thực), còn Nam Cao là cây bút đặc sắc tiêu biểu cho dòng phong


6
cách thứ hai (phong cách trữ tình)” [12, tr.2].
Trong luận án Mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, tác giả Nguyễn
Thị Tuyến cho rằng “Mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là một thiết kế cấu
trúc lí tưởng cho mọi tiểu thuyết Tự lực văn đoàn bao gồm hệ thống những
đặc trưng cơ bản ở cấp độ cấu trúc của tác phẩm văn học hình thành từ ý đồ
chủ quan chung của nhà văn” [55, tr.10]. Tác giả luận án cũng khẳng định
“trong văn chương, nếu có vận dụng khái niệm này thì cũng chỉ là vận dụng
một cách tương đối, khác với trong sản xuất công nghệ. Công nghệ đòi hỏi sự

Nam về vấn đề loại hình truyện kể mà chúng tôi quan tâm trong đề tài của
mình. Tất nhiên việc tổng thuật không thể nào đầy đủ nhưng chắc rằng đã
phác hoạ được những nét chính của các vấn đề một cách trung thực và
nghiêm túc.
3. Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu, chúng tôi muốn đưa ra một cái nhìn sơ lược về truyện
kể, mô hình truyện kể, nhấn mạnh lý thuyết truyện kể của Iu.Lotman; đồng
thời đưa ra một hướng tiếp cận, tìm hiểu, khám phá mới cho những tiểu
thuyết tiêu biểu của Việt Nam trước năm 1945.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: các biểu hiện tương đồng trong cấu
trúc truyện kể của nhóm tác phẩm văn học lãng mạn Việt Nam trước năm
1945. Vấn đề truyện kể theo quan điểm của Iu.Lotman sẽ được nêu ra như là
cơ sở lý luận chung cho sự triển khai của luận văn
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi sáng tác văn học được khảo sát là những tiểu thuyết tiêu biểu
của Việt Nam trước năm 1945 (Tập trung chủ yếu vào những tiểu thuyết của
Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Lan Khai, Thế Lữ, Lê Văn Trương):


8
- Tiểu thuyết của Hoàng Đạo: Con đường sáng.
- Tiểu thuyết của Nhất Linh: Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Nắng thu, Đôi
bạn.
- Tiểu thuyết của Khái Hưng: Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân,
Trống mái, Băn khoăn, Thừa tự, Gia đình.
- Tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng: Gánh hàng hoa, Đời mưa
gió.
- Tiểu thuyết của Lan Khai: Tiếng gọi của rừng thẳm, Dấu ngựa trên


10
CHƯƠNG 1
VẤN ĐỀ TRUYỆN KỂ VÀ LOẠI HÌNH TRUYỆN KỂ TRONG
VĂN XUÔI VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1945
1.1. Khái quát về truyện kể
1.1.1. Khái niệm truyện kể
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, truyện kể là “Hệ thống sự kiện cụ
thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành
một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn
học thuộc các loại tự sự và kịch”[11, tr.88].
Ngày nay, một cách hiểu hiệu lực phổ thông, rõ ràng và đơn giản nhất
theo Gérard Genette trong Biên giới của truyện kể thì truyện kể “là trình bày
một sự kiện hay một chuỗi sự kiện có thực hay hư cấu, bằng phương tiện
ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ truyện kể”. Tất nhiên, khái niệm này có hạn
chế là phần nào che khuất cái bản chất của truyện kể, xoá bỏ cái biên giới sở
trường, cái điều kiện tồn tại của truyện kể. Không nên cho rằng truyện kể là
kể lại, hay sắp đặt toàn bộ hành động một câu chuyện, một thần thoại, một sử
thi, một tiểu thuyết… Sự phát triển văn học và nhận thức văn học trong nhiều
năm qua đã có những kết quả khích lệ, lôi cuốn người nghiên cứu phải quan
tâm tới tính đặc thù, nghệ thuật và tính hành động trong truyện kể.
Xung quanh thuật ngữ “truyện kể” đã tồn tại một vấn đề khoa học được
tìm tòi, nghiên cứu nhiều năm là phân biệt giữa “fibula” và “sujet”. Các nhà
hình thức luận Nga (V. Sklopvski, Iu. Tynhanov, L.S. Vygotski) một mặt,
quy dẫy sự kiện về cốt truyện (fabula), mặt khác, đồng nhất truyện kể (sujet)
với trần thuật. Mối quan hệ giữa các khái niệm nói trên (sujet và fabula)
không chỉ là kết quả của sự đối lập vốn là nguyên tắc riêng thuộc về trường
phái khoa học này: đối lập chất liệu hiện thực “sống sít” với thủ pháp biến
chất liệu hiện thực sống sít ấy thành sản phẩm của sáng tạo nghệ thuật. Nó



12
đạo trong đó được tổ chức theo kiểu xâu chuỗi hay tăng cấp. Cuối cùng, cấu
trúc truyện kể (sujet) sẽ biến đổi từ thể qua thể: chẳng hạn, ai cũng biết rõ tổ
hợp các môtip gắn kết vô số sự kiện của sử thi và định hướng sự vận động
của chúng tới chương kết là như thế nào; hay, cũng có thể phân chia các tổ
hợp tương tự trong mọi dạng tiểu thuyết trên trường kì lịch sử của nó.
Ở Việt Nam, thời gian đầu, nhiều nhà nghiên cứu đã đồng nhất thuật
ngữ “truyện kể” với “cốt truyện”. Trong bài viết Cần sửa lại một thuật ngữ
dịch sai trong lí luận và nghiên cứu văn học của ta, Giáo sư Trần Đình Sử
đã phân tích về tính không chính xác trong cách dịch và hiểu thuật ngữ trên.
Theo ông, “khái niệm truyện (cốt truyện) truyền thống tuy có cơ sở khoa học,
phù hợp với danh xưng cốt truyện, tức cái cốt, bộ xương, cái lõi của truyện,
song có những thiếu sót nghiêm trọng. Một là chỉ quan tâm tới các yếu tố
nhân quả, tất yếu, bỏ qua các yếu tố ngẫu nhiên vốn góp phần quan trọng làm
nên cái hay, sức hấp dẫn của truyện… Hai là bỏ qua lời kể, một yếu tố cực kì
quan trọng làm nên bản chất của tự sự. Ba là chưa thấy tính chất nghệ thuật
của việc kể chuyện thể hiện trong sự đa dạng, biến hoá về kết cấu, thoát khỏi
trình tự của cốt truyện nêu trên. Bốn là chưa thấy sự khác biệt giữa truyện
nhân quả và truyện nghệ thuật. Các khiếm khuyết ấy làm cho khái niệm cốt
truyện không vận dụng được vào tiểu thuyết, một thể loại tự sự hùng vĩ,
phong phú, rất quan trọng của thời hiện đại”. Sau đó, tác giả đề xuất khi dịch
thuật và sử dụng thuật ngữ này cần phân biệt “truyện gốc” (fabula) như là
chất liệu để kể chuyện, còn “truyện” hay “truyện kể” (sujet) là hình thức kể
chuyện. Như thế, thuật ngữ dịch đảm bảo tính chính xác, phù hợp với quan
niệm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới.
Cùng cách hiểu, theo tác giả Lã Nguyên khi dịch phần Kết cấu tác
phẩm nghệ thuật ngôn từ của Iu. Lotman in trong cuốn Lí luận văn học những vấn đề hiện đại thì từ đầu thế kỉ XX cho đến nay, trong nghiên cứu



1.1.2. Một số mô hình truyện kể
Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy có một số mô hình truyện kể cơ bản
sau:
Trước hết, phải kể đến cách phân chia loại hình cốt truyện của tự sự
học lịch sử do Heyden White đề xướng. Theo Heyden White, cốt truyện của
tự sự học được phân ra làm bốn loại: loại hình cốt truyện lãng mạn, loại hình
cốt truyện bi kịch, loại hình cốt truyện hài kịch và loại hình cốt truyện trào
phúng.
Tiếp đến là mô hình cấu trúc câu của Todorov. Trong Thi Pháp văn
xuôi, Todorov chia câu thành các bộ phận (chủ ngữ là cái được nói tới, vị ngữ
là cái diễn ra) và các từ loại (động từ, tính từ, trợ động từ). Todorov cho rằng:
biến đổi tự sự (điều cơ bản tạo nên truyện kể) chính là những biến đổi của các
yếu tố như động từ, tính từ, trợ động từ.
Ngoài ra, còn có mô hình truyện theo các môtíp chủ đề của V.
Skhlovski.
Đặc biệt phải kể đến mô hình biến cố và trường ngữ nghĩa của Lotman.
Theo Iu.Lotman, vấn đề nguồn gốc truyện kể vừa là vấn đề lịch sử, vừa là
vấn đề loại hình. Ngay từ bài viết Nguồn gốc truyện kể dưới sự soi sáng của
loại hình học được hoàn thành vào đầu những năm 1970, ông đã xác định:
“Trên phương diện loại hình, truyện kể tuyệt nhiên không phải là vấn đề chỉ
có quan hệ với nghệ thuật, mặc dù đúng là trong nghệ thuật, loại văn bản
truyện kể là một trong số những hiện tượng đáng được lí giải nhất của nền
văn minh nhân loại” [43, tr.128]. Iu.Lotman đã chọn hai loại văn bản hoàn
toàn trái ngược nhau làm tình huống khởi đầu để nghiên cứu loại hình văn
bản huyền thoại và văn bản truyện kể. Sự khác nhau cơ bản giữa hai loại văn
bản này được thể hiện ở chỗ thiết chế văn bản sinh huyền thoại bao giờ cũng
được phân bố ở trung tâm của khối văn hóa. Đặc điểm chính yếu của loại văn


15

văn bản hữu hạn dẫn đến kết quả là trong tác phẩm cùng tồn tại hai phương
diện: phương diện câu chuyện và phương diện huyền thoại. Mỗi tác phẩm
vừa thể hiện một phần đối tượng vừa bao hàm toàn thể đối tượng. Tiểu thuyết
Anna Karenina của L.Tolstoi vừa thể hiện một đối tượng khá hẹp là số phận
của một người phụ nữ cụ thể (phương diện câu chuyện), đồng thời lại thể
hiện số phận của mọi người phụ nữ, thuộc mọi thời đại, nghĩa là xu hướng
ôm trọn cái toàn thể (phương diện huyền thoại). Ở mỗi thời đại, mỗi nhà văn,
có thể có những cách mở đầu và kết thúc một khác, song về cơ bản chúng đều
đảm nhiệm chức năng như nhau trong cấu trúc văn bản.
Truyện kể như vậy là một không gian, một không gian hình ảnh được
khu biệt, trong đó quan hệ giữa các đối tượng phải có đặc tính của các quan
hệ không gian thông thường: cao - thấp, phải - trái, rộng - hẹp, liên tục - đứt
đoạn, gần - xa, tách biệt - liên hợp… Các phạm trù có đặc tính không gian đó
là những công cụ thể hiện thế giới trong đó có bao gồm cả các khái niệm giá
trị vốn bản thân chúng không có tính chất không gian như khái niệm thuộc mĩ
học, đạo đức, tôn giáo, chính trị… Chẳng hạn ở truyện cổ tích, không gian
mở bên ngoài bao giờ cũng gắn với một cái gì đó độc ác, thù địch, nguy
hiểm, đối lập với không gian đóng kín bên trong gắn với sự tốt lành, nhân từ,
bình an. Đến văn học hiện đại thì dường như có một sự “đảo ngược” mô
hình: không gian mở bên ngoài thường là môi trường của sự tự do, nghĩa
hiệp, sáng tạo, còn không gian đóng kín bên trong là sân khấu trình diễn của
những gì là nô lệ, thiển cận và mục nát.
Mỗi nền văn hoá, mỗi trào lưu văn học có mô hình không gian của
mình. Mô hình không gian chung này luôn có mặt trong từng nhóm văn bản
hay từng văn bản cụ thể. Giữa mô hình chung và mô hình cụ thể có thể có sự
lệch pha, thậm chí đối lập. Mức độ “trùng nhau” ấy làm nên một trong những
sắc thái khu biệt của mỗi phong cách văn học, mỗi tác phẩm văn học.


17

trong lòng độc giả tập trung chủ yếu ở giai đoạn 1930 - 1945. Đây được coi là
một trong những giai đoạn hoàng kim nhất của lịch sử văn học dân tộc. Và,
văn xuôi đã đạt đến “giá trị cổ điển” với một lớp nhà văn tiêu biểu như
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng,
Nguyễn Tuân, Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, Lan Khai, Thế Lữ,… Đã
khá hoàn thiện, xét về thi pháp thể loại, nền văn xuôi hiện đại trong sự kết
hợp hài hoà với truyền thống dân tộc và thế giới với những tinh hoa của nó đã
bước từng bước vững chắc vào nền văn học chung của nhân loại. Các nhà
nghiên cứu đã thử nghiệm nhiều tiêu chí để loại hình hoá văn xuôi hiện đại
Việt Nam với mong muốn hướng tới cái đích nhất định có thể chấp nhận
được. Các tác giả của Văn học Việt Nam thế kỷ XX - những vấn đề lịch sử
và lí luận, đã tổng hợp, giới thiệu một số cách phân loại văn xuôi Việt Nam
(lấy trọng lực là thể loại tiểu thuyết) nửa đầu thế kỷ XX như sau:
Thứ nhất là dựa vào trào lưu, khuynh hướng, phương pháp sáng tác mà
chia văn xuôi Việt Nam 1930 - 1945 ra thành văn xuôi lãng mạn, văn xuôi
hiện thực phê phán, văn xuôi hiện thực chủ nghĩa (yêu nước, cách mạng).
Cách phân loại phổ biến này được đề cập trong sách giáo khoa ngữ văn phổ
thông, giáo trình Văn học Việt Nam dành cho các trường đại học, cao đẳng
và trung cấp chuyên nghiệp hay một số chuyên luận về truyện ngắn, tiểu
thuyết như: Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử và lí luận
(Nhiều tác giả), Văn học Việt Nam 1900 - 1945 (Nhiều tác giả), Tiểu thuyết
Việt Nam hiện đại, Truyện ngắn Việt Nam, lịch sử - thi pháp - chân dung (Phan
Cự Đệ chủ biên), Truyện ngắn - Những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại (Bùi
Việt Thắng), Quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam 1900 - 1945 (Mã Giang
Lân)…
Thứ hai là dựa vào thi pháp thể loại mà chia ra thành truyện tâm lý,


19
truyện phiêu lưu, truyện kinh dị... Trong Nhà văn hiện dại, Vũ Ngọc Phan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status