LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH tế có vốn đầu tư nước NGOÀI và tác ĐỘNG của nó đối với CỦNG cố QUỐC PHÒNG ở TỈNH ĐỒNG NAI - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội nước ta, bắt đầu từ Đại hội
đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng, nền kinh tế nước ta có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ kế
hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên,
trong từng giai đoạn khác nhau, số lượng TPKT và tên gọi của các thành phần kinh tế, có
sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng,
chính thức đưa kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thành một TPKT- TPKT thứ 6 của nền
kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Đây là một vấn đề mới mẻ cả về mặt lý luận và thực
tiễn, cần được nghiên cứu làm rõ.
Qua hơn 15 năm TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, từng bước hình thành, phát triển và ngày
càng khẳng định vai trò quan trọng của mình đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong
sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Hiện nay, TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, đã có mặt ở
hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước. Trong đó, Đồng Nai là một trong những tỉnh, thành phố phát
triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài rất mạnh mẽ, sự phát triển này đã có những tác động tới mọi mặt
của đời sống xã hội và củng cố quốc phòng. Bên cạnh những tác động tích cực, TPKT này, đã bộc lộ
những tác động không tích cực đối với sự nghiệp CCQP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Đây là những vấn
đề lý luận và thực tiễn hết sức phức tạp, cần có sự nghiên cứu, đánh giá sâu sắc, toàn diện, trên cơ sở
đó xác định các quan điểm chỉ đạo và giải pháp phù hợp nhằm phát huy những tác động tích cực và
hạn chế tác động không tích cực, đảm bảo kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững, quốc phòng
luôn vững chắc. Vì lẽ đó, tác giả chọn đề tài: “Phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài và tác động của nó đối với củng cố quốc phòng ở tỉnh Đồng Nai” làm đối
tượng nghiên cứu của luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Xung quanh TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đã có nhiều công trình khoa học
nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau. Những kết quả nghiên cứu này, đã được đăng
tải trên các tạp chí, báo như: “Thấy gì qua thanh tra các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài ở Đồng Nai” của tác giả: Huỳnh Văn Tâm, Tạp chí Hoạt động khoa học số
4 năm 2000; “Để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi” Tạp chí Giáo
dục lý luận tháng 7 năm 2002; “Vai trò, vị trí của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta” của tác giả: Trần Nguyễn Tuyên,

- Cơ sở lý luận:


Đề tài thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về kinh tế nhiều thành
phần ở nước ta và các quan điểm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.
Đề tài còn dựa vào các văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai và những chủ
trương, chính sách của UBND tỉnh Đồng Nai về những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên
cứu.
- Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng
phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phân tích tổng hợp, so sánh, thống kê, lôgíc, lịch
sử và một số phương pháp khác đang được sử dụng trong khoa học kinh tế.
5. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về sự
tác động của phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đối với CCQP ở tỉnh Đồng Nai. Đồng
thời, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo giảng dạy các bộ môn kinh tế chính trị XHCN và
kinh tế quân sự trong các học viện và nhà trường quân đội.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ THÀNH PHẦN KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
1.1. Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và phát triển thành phần kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai
1.1.1. Một số vấn đề lý luận về thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta
Từ khi hình thành, xã hội loài người luôn luôn vận động và phát triển, sự phát triển đó
được biểu hiện rõ nét và năng động nhất ở lực lượng sản xuất. Cùng với sự phát triển của
lực lượng sản xuất, các TPKT của nền sản xuất xã hội lần lượt xuất hiện và vận động biến

nay, ở mọi nơi, vẫn còn hết sức lạc hậu so với công nghiệp; nếu chủ nghĩa tư bản có
thể nâng cao được mức sống của quần chúng nhân dân là những người hiện nay, ở
khắp các nước, vẫn còn thiếu ăn và nghèo khổ, mặc dù kỹ thuật tiến bộ nhanh, - thì
không thể nào có chuyện tư bản thừa được”. “Chừng nào chủ nghĩa tư bản vẫn còn là
chủ nghĩa tư bản, số “tư bản thừa” vẫn còn được dùng không phải là để nâng cao
mức sống của quần chúng trong nước đó, vì như thế thì sẽ đi đến kết quả là làm giảm
bớt lợi nhuận của bọn tư bản, mà là để tăng thêm lợi nhuận bằng cách xuất khẩu tư


bản ra nước ngoài, vào những nước lạc hậu” [18, 456]. Như vậy, mục đích của XKTB
là để tăng thêm lợi nhuận cho các tổ chức độc quyền. Nó xuất hiện trong giai đoạn chủ
nghĩa đế quốc như một tất yếu kinh tế, bắt nguồn từ hai nguyên nhân chủ yếu sau đây.
Một là, quá trình tích tụ và tập trung tư bản diễn ra mạnh mẽ ở một số nước tư bản
phát triển đã tạo ra một khối lượng tư bản kếch sù và một bộ phận đã trở thành “tư bản
thừa” do chưa tìm ra nơi đầu tư có lợi hơn đầu tư trong nước. “Tư bản thừa” ở đây là có
tính chất tương đối, có nghĩa thừa so với nơi đầu tư có lợi nhuận thấp ở trong nước, nếu
đầu tư ra nước ngoài sẽ thu được lợi nhuận cao hơn, chứ không phải “thừa” trong nâng
cao mức sống của quần chúng nhân dân lao động. Số “tư bản thừa” này, các nước tư bản phát
triển đang tìm nơi đầu tư có lợi nhất.
Hai là, các nước đang phát triển, do phải CNH, HĐH nhưng thiếu vốn và công nghệ.
Những nước này lại có nguồn nguyên liệu, tài nguyên dồi dào chưa được khai thác, tiền
công rẻ; giá thuê đất thấp. Đầu tư vào những nước này sẽ có lợi nhuận cao hơn nhiều so
với đầu tư ở chính quốc. Như vậy, một bên có nhu cầu XKTB, còn một bên có nhu cầu
nhập khẩu, đã làm cho XKTB trở thành tất yếu khách quan.
V.I.Lênin viết: “Sở dĩ cần phải xuất khẩu tư bản là vì trong một số ít nước chủ nghĩa tư
bản đã “quá chín” và tư bản thiếu địa bàn đầu tư “có lợi” “Sở dĩ có thể xuất khẩu được tư
bản là vì một số nước lạc hậu đã bị lôi cuốn vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản thế giới,
những tuyến đường sắt chính đã được xây dựng… đã có những điều kiện tối thiểu để phát
triển công nghiệp v.v..” [18, 456-457].
Từ hai nguyên nhân cơ bản trên cho thấy XKTB diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên phạm vi

các nước nhập khẩu tư bản.
Ngày nay, xuất hiện luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - là một nguồn lực quan
trọng để các nước có thể khai thác các nguồn nội lực phát triển kinh tế - xã hội, cũng như
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là: Đưa tư bản ra
nước ngoài, trực tiếp tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận ở các nước
nhận đầu tư. Như vậy, xét về bản chất, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức
XKTB, điều mà V.I.Lênin đã nghiên cứu và kết luận. XKTB dưới dạng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở thời kỳ trước năm 1920, thực chất là khoản chi phí mà các nước tư bản bỏ ra
để củng cố địa vị trong chiếm hữu thuộc địa, nhằm mục tiêu lợi nhuận bằng cách bóc lột vơ
vét ở các nước thuộc địa.
Tuy vậy, sự nhìn nhận, đánh giá của V.I.Lênin đối với XKTB dưới dạng đầu tư trực tiếp
nước ngoài đã có những thay đổi khi tình hình, điều kiện cho phép tận dụng nguồn vốn XKTB
vào khai thác các nguồn lực, lợi thế trong nước phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
XHCN. Nước Nga tiến lên CNXH trong điều kiện một nước kinh tế chưa qua giai đoạn tư bản,
sản xuất nhỏ là phổ biến, lại bị các thế lực đế quốc bao vây, chống phá, V.I.Lênin đề ra chính


sách kinh tế mới để xây dựng CNXH ở nước Nga Xô Viết. Trong chính sách kinh tế mới,
V.I.Lênin chủ trương sử dụng nhập khẩu tư bản dưới hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
từng bước hình thành, sử dụng CNTB nhà nước ở nước Nga dưới nhiều hình thức (tô nhượng,
hợp tác xã, đại lý cung tiêu và cho các nhà kinh doanh tư bản thuê xí nghiệp hoặc hầm mỏ, khu
rừng…). Trong đó hình thức tô nhượng là một biện pháp quan trọng nhất để giải quyết khó
khăn và thúc đẩy kinh tế phát triển. Ông chủ trương: “phải sử dụng CNTB nhà nước là cần thiết
là có lợi là điều đáng mong đợi” [19, 268]. Nhờ có chính sách đúng đắn, sáng tạo, nước Nga Xô
Viết đã nhanh chóng thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội của những năm sau
nội chiến (1918 – 1921). Chủ trương này không chỉ có ý nghĩa đối với nước Nga lúc bấy giờ, mà
còn có giá trị đối với nước đi lên CNXH từ một nước tiểu nông lạc hậu như nước ta.
Qua phân tích những vấn đề cơ bản trong lý luận XKTB của V.I.Lênin, một mặt đã
phác hoạ lên bức tranh khá rõ nét về nguồn gốc, và mục đích của đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Mặt khác, cũng cho ta thấy, đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng là một nhân tố có khả

bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.
Tuy nhiên, XKTB dưới dạng đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay có nhiều điểm khác
nhau về động lực, nội dung và quy mô. Đầu tư trực tiếp hiện nay không chỉ đơn thuần vì lợi
nhuận, mà nó đã trở thành chiến lược hàng đầu của các công ty xuyên quốc gia. Một mặt,
tìm nơi đầu tư có lợi, khai thác các nguồn nguyên liệu rẻ cũng như mở rộng thị trường, từ
đó phát huy năng lực sản xuất của công ty, nhằm thu về những khoản lợi nhuận lớn hơn
đầu tư ở chính quốc. Đồng thời thông qua xuất khẩu tư bản dưới dạng đầu tư trực tiếp trực
tiếp mà các đối tác tận dụng các lợi thế so sánh của nhau về vốn, công nghệ, kinh nghiệm
quản lý sản xuất kinh doanh cũng như thị trường, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho các
bên tham gia hoạt động đầu tư và kêu gọi đầu tư. Mặt khác, nếu sự kiểm soát không chặt
chẽ của các nước kêu gọi đầu tư, thì sẽ thực hiện những thủ đoạn đẩy công nghệ lạc hậu,
những ngành sản xuất gây ô nhiễm môi trường sang nước khác, đặc biệt các nước kinh tế
chậm phát triển gây thiệt hại cả trước mắt và lâu dài cho các tiếp nhận đầu tư. Trong điều
kiện, đối tượng, chủ thể tham gia hoạt động đầu tư trực tiếp đã có sự mở rộng, không chỉ
có các nước tư bản phát triển, mà còn có các nước đang phát triển, các nước XHCN nói lên
sự phong phú đa dạng của các dòng vốn đầu tư hiện nay. Nhưng, chi phối phần lớn và chủ
yếu hoạt động đầu tư trực tiếp hiện nay, vẫn là các công ty tư bản độc quyền xuyên quốc
gia, điều này phần nào cho thấy rõ nguồn gốc của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài.
Ở nước ta, trước khi có luật đầu tư nước ngoài năm 1987, đã từng có các nguồn vốn
đầu tư từ Liên Xô (cũ), từ các nước XHCN Đông Âu, từ Trung Quốc… Sự đầu tư này, chủ
yếu mang tính hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước XHCN anh em.
Năm 1977, tức chỉ sau một năm ngày đất nước thống nhất, các nhà lãnh đạo cao nhất
của nước ta lúc đó đã có một quyết định, ban hành điều lệ đầu tư nước ngoài ở Cộng hoà


XHCN Việt Nam, kèm theo Quy định 115/CQ ngày 19/4/1977 của Chính Phủ gọi tắt là “Điều lệ
đầu tư 77”.
Việc ban hành điều lệ này, đã có nhiều ý kiến thắc mắc. Vì sao một dân tộc đã
từng chịu bao đau khổ, hy sinh xương máu trong suốt nhiều thập kỷ đánh đuổi giặc
ngoại xâm, giành lại độc lập dân tộc, lại có thể khuyến khích tư bản nước ngoài vào

Đánh giá về vai trò của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, báo cáo tổng kết của Bộ Kế
hoạch và đầu tư chỉ rõ: “Sau hơn 10 năm hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đã tạo ra 34% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp,
khoảng 23% kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu khí) và đóng góp 12% GDP của cả nước.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thu hút trên 35 vạn lao động trực tiếp và hàng
chục vạn lao động gián tiếp làm việc trong các ngành xây dựng thương mại, dịch vụ liên
quan; góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ,
trình độ quản lý và mở rộng thị trường” [14, 31].
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, cho thấy TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ngày
càng khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội theo
hướng đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta hiện nay. Do đó phát triển thành phần kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài ở nước ta trong những năm qua và những năm tiếp theo là cần thiết
khách quan.
Chính vì vậy, Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế, là bộ phận cấu thành của nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN và chủ trương:
“Tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào
xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo
thêm nhiều việc làm. Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư
nước ngoài” [7, 99].
Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng so với các kỳ đại hội trước về vị trí,
vai trò của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
nước ta. Thể hiện chủ trương nhất quán của Đảng, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh
thủ nguồn ngoại lực về vốn, công nghệ, trình độ quản lý v.v.. Chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế, nhằm phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững, kết hợp chặt chẽ giữa nội lực và
ngoại lực để tạo thành nguồn lực tổng hợp cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế đất
nước.
Đại hội IX của Đảng còn chỉ rõ: “Thêm TPKT có vốn đầu tư nước ngoài” nhằm phản
ánh đúng thực tế diễn ra ở nước ta trong những năm gần đây, bộ phận kinh tế này chiếm tỷ
trọng ngày càng tăng, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế. TPKT này không đồng nhất với

ngoài thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó quyền tổ chức quản lý điều
hành sản xuất và phân phối sản phẩm cũng thuộc chủ đầu tư nước ngoài. Và như vậy người
công nhân Việt Nam lao động trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài là người lao động
làm thuê cho chủ đầu tư nước ngoài và họ được trả lương sau khi đã lao động cho nhà đầu


tư nước ngoài. Tuy nhiên, người lao động Việt Nam được pháp luật bảo vệ về quyền lợi, quy
định nghĩa vụ và trách nhiệm trong quá trình lao động ở các doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài. Đồng thời các chủ đầu tư nước ngoài cũng được pháp luật Việt Nam bảo đảm về
quyền sở hữu chính đáng, các quyền lợi hợp pháp và quy định trách nhiệm nghĩa vụ phải
thực hiện theo pháp luật Việt Nam và giấy phép kinh doanh.
- Về loại hình doanh nghiệp: các doanh nghiệp thuộc TPKT có vốn đầu tư nước ngoài là
những doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài và có thể liên kết liên doanh với các doanh
nghiệp thuộc các TPKT khác của nước ta.
Quan niệm trên còn chỉ rõ địa điểm và môi trường kinh doanh của TPKT có vốn đầu tư
nước ngoài là nằm trên lãnh thổ Việt Nam và có quan hệ mật thiết với các TPKT khác trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bình đẳng với các TPKT khác trong kinh doanh và
trước pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Đồng thời quan niệm trên về TPKT có vốn đầu tư
nước ngoài, cũng chỉ rõ mục đích của các chủ đầu tư nước ngoài là lợi nhuận – lợi nhuận là
tiêu chí số một, cao nhất của các nhà đầu tư nước ngoài. Song toàn bộ kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh, nhà đầu tư phải hoàn toàn chịu trách nhiệm và họ phải làm tốt các điều
khoản theo cam kết trong giấy phép đầu tư cũng như luật pháp Việt Nam đối với nhà nước
Việt Nam và người lao động.
Phân tích những đặc trưng trên cho phép chúng ta phân biệt được sự khác nhau căn
bản giữa TPKT có vốn đầu tư nước ngoài với TPKT tư bản nhà nước ở các đặc trưng cơ
bản sau đây:
Về chủ thể, TPKT có vốn đầu tư nước ngoài có chủ thể là các nhà đầu tư nước ngoài,
nhà nước hoặc tư nhân có thể là từ các nước TBCN hoặc từ các nước XHCN (hiện nay
Trung quốc có 51 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký là 147 triệu đô la) [17,
34]. Còn TPKT tư bản nhà nước, chủ thể của TPKT này là sự phối hợp giữa nhà nước ta với

bằng sông Cửu Long. Nằm ở độ cao trên dưới 100m so với mặt nước biển và độ dốc phổ
biến nhỏ hơn 80. Địa hình gồm bốn dạng chính: 1. dạng núi thấp, sắp xếp không theo quy
luật, thỉnh thoảng nhô lên những đỉnh khá cao (Đỉnh Chứa Chan 837 m, Mây Tàu 700m); 2.
Dạng đồi, là địa hình đặc trưng của Đồng Nai với độ cao dao động từ 45 - 200 m, bao gồm
các đồi sắp xếp theo kiểu lượn sóng hoặc bát úp, xen kẽ là những thung lũng tương đối
rộng, 3. dạng bậc thềm, được cấu tạo bởi phù sa cổ, cao 40 - 45 m; 4. Dạng Đồng bằng, bao
gồm đồng bằng chạy theo các triền sông và đồng bằng hạ lưu các sông. Trên địa bàn Đồng
Nai có 40 sông suối lớn nhỏ, trong đó có nhiều sông lớn như: Sông Đồng Nai; Sông Thị Vải;
Sông La Ngà; Sông Đồng Tranh và Sông Lá Buông v.v..
Khí hậu nhiệt đới gió mùa ở Đồng Nai có đặc trưng là nóng đều quanh năm, nhiệt độ
trung bình hàng năm là 25,4 - 27,20 0c. Khí hậu ở khu vực này chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa


mưa và mùa khô, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 năm trước đến
tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình cả năm từ 1800 - 1860

mm

, là một trong những địa

phương ít có lốc và bão, độ ẩm trung bình khoảng 80%.
Đồng Nai là vùng đất cổ, các nhà khảo cổ học và nhân chủng học đã tìm thấy ở hang
Gòn, Dốc Mỏ những di chỉ đồ đá cũ; ở Cầu Síu, Suối Linh di chỉ đồ đá mới; ở Bình Đa có 37
đoạn đàn đá và ở Dốc Chùa, Cái Vạn nhiều khuôn đúc đồng có niên đại cách đây 3150 năm.
Tuy nhiên vùng đất này chỉ được khai phá khoảng hơn 300 năm, khi dòng người đông đảo
với sức mạnh Tây Sơn từ phía Bắc tiến vào, dẹp yên giặc giữ, khai khẩn đất hoang, mở
mang bờ cõi. Họ đem theo nghề trồng lúa nước, đóng tàu thuyền, lập làng trên những khu
đất dọc theo sông Đồng Nai. Từ buổi ấy Đồng Nai sinh sôi, hưng thịnh dần lên và không
bao lâu đã trở thành niềm kiêu hãnh cho những ai ít nhất được một lần đặt chân trên mảnh
đất này.

diện tích 73.878 ha, trong đó Đồng Nai là phần chính vì nới đây có khu rừng cấm Nam Cát
Tiên rộng 36600 ha. Theo tài liệu nghiên cứu khảo sát bước đầu cho thấy trong rừng quốc
gia Nam Cát Tiên có tới 185 loài thực vật thuộc 73 họ, 133 giống. Trong đó 54 loài gỗ quý,
24 loại cây thuốc, 8 loại chứa vitamin, 11 loại cây dầu. Có 62 loài thú rừng thuộc 25 họ, 22
loài bò sát thuộc 12 họ, 121 loài chim thuộc 43 họ. Nơi đây còn là khu du lịch sinh thái hấp
dẫn khu khách trong nước và nước ngoài…
- Tài nguyên nước:
Đồng Nai có nguồn tài nguyên nước dồi dào, cả trên mặt đất và nước ngầm. Nước
trên mặt đất thể hiện ở hệ thống 40 sông suối lớn nhỏ, hồ, đầm dày đặc và phân bố tương
đối đều ở các vùng. Sông Đồng Nai là một trong những sông lớn của nước ta, dài 450 km,
bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh, đoạn chảy qua Đồng Nai 290 km với lưu lượng 485
m3/giây. Hệ thống sông ở Đồng nai có tổng lưu lượng nước 23 tỷ m 3/năm. Tính chung, tài
nguyên nước mặt đất đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp, công nghiệp, sinh
hoạt của dân cư cả trước mắt và lâu dài. Đồng thời còn là những huyết mạch giao thông
thuỷ thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hoá, giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hoá giữa
các vùng trong tỉnh cũng như với tỉnh bạn trong khu vực và với thành phố Hồ Chí Minh.
Nguồn nước bề mặt dồi dào, sông ngòi nhiều thác nghềnh là nguồn thuỷ năng lớn thuận lợi
cho xây dựng các nhà máy thuỷ điện góp phần đảm bảo điện năng phục vụ phát triển các
ngành kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ và phục vụ đời sống nhân dân. Thực tế
ở Đồng Nai đã xây dựng nhà máy thủy điện Trị An lớn thứ 2 trong cả nước.
Nguồn nước ngầm ở Đồng nai cũng tương đối dồi dào, hiện nay đã tìm thấy
nước ngầm ở 3 vùng: vùng phía Bắc tỉnh, nước ngầm ở độ sâu 5 - 20 m với lưu lượng
40 - 50m 3 /giờ; Vùng phía tây tỉnh và dọc theo sông Đồng Nai nước ngầm ở độ sâu 20
mét với lưu lượng 30 - 40 m 3/giờ (riêng khu vực ven sông Đồng Nai chỉ ở độ sâu 2,5 -


3m với lưu lượng 5 - 10 m 3 /giờ); vùng phía Đông và Đông Nam tỉnh ở độ sâu 20 - 40
mét với lưu lượng 3 - 6 m 3/giờ.
Về tài nguyên khoáng sản, theo kết quả ban đầu của việc tìm kiếm và thăm dò cho
thấy ở Đồng Nai có: vàng ở Hiếu Liêm; thiếc, kẽm, chì ở núi Chứa Chan; ở Bản Long có chì,

nhận tàu 15 - 20 ngàn tấn, còn có các cảng chuyên dùng như: cảng Cogido, cảng
Proconco, cảng VeĐan, cảng Phốt Phát … nâng công suất bốc xếp hiện nay trên 25 triệu
tấn/năm. Như vậy cả 3 loại hình giao thông thủy, bộ, hàng không ở Đồng Nai đều phát triển
và là điều kiện thuận lợi đảm bảo vận chuyển, lưu thông hàng hoá cũng như đi lại của nhân
dân và du khách quốc tế đến làm ăn tại Đồng Nai.
Với cơ sở hạ tầng kinh tế đầy đủ và tiềm năng tài nguyên phong phú đa dạng, cộng
thêm nguồn nhân lực dồi dào của Đồng Nai, với dân số năm 2001 là 2067,2 nghìn người,
mật độ trung bình 350 người/km. Nếu so với 64 tỉnh, thành phố thì Đồng Nai đứng thứ 22 về
diện tích, thứ 7 về dân số và thứ 25 về mật độ dân số. Dân số Đồng Nai tương đối trẻ và số
lao động trong độ tuổi có khả năng lao động, chiếm trên 60% số dân. Trình độ dân trí ngày
càng được nâng lên, cụ thể: đến năm 2000 trên 99% trẻ em trong độ tuổi vào học lớp 1, gần
82% được học trung học cơ sở, 40% được học phổ thông trung học, số học sinh đại học, cao
đẳng và trung học chuyên nghiệp tăng gấn 2 lần so với năm 1996 (9.20). Toàn tỉnh hoàn thành
mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập tiểu học.
Đời sống của nhân dân Đồng Nai những năm sau giải phóng, nhất là các vùng sâu,
vùng xa còn khá thấp. Nhiều năm sau đó, một số mặt được cải thiện, nhiều phương tiện
sinh hoạt có khá hơn, song vẫn còn nghèo. Từ khi Đảng thực hiện đường lối đổi mới
toàn diện về kinh tế - xã hội, Đồng Nai đã có bước phát triển nhảy vọt, GDP bình quân
đầu người từ năm (1991 - 1995) tăng 13%/năm; năm 1996 - 2000, GDP bình quân tăng
21,0%/năm, quy mô tổng sản phẩm quốc nội đến năm 2000 gấn 2 lần so với năm 1995;
Công nghiệp tiếp tục phát triển với mức tăng trưởng cao (giá trị sản xuất tăng bình quân
20,3%/năm); Sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, giá trị sản xuất tăng bình quân
4,2%/năm; Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 48,7%/năm, tỷ trọng hàng xuất khẩu qua
chế biến đạt 70%, vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội VI tỉnh Đảng bộ Đồng Nai đề ra [9,
16]. Những kết quả đạt được đã và đang làm cho đời sống nhân dân tỉnh Đồng Nai ngày
một nâng lên. Có được những thay đổi trong đời sống nhân dân tỉnh Đồng Nai là nhờ
chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng ta về kinh tế - xã hội nên đã chuyển dịch cơ
cấu cây trồng, đẩy nhanh tiến độ áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, thu hút
vốn đầu tư nước ngoài, phát triển KCN, điện, giao thông…
Tóm lại, trên cơ sở quan điểm, chủ trương, chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư

củng cố quốc phòng ở tỉnh Đồng Nai, cùng cả nước xây dựng thành công CNXH và bảo vệ
vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Nhưng để phát huy được tính tích cực của các chủ thể
đầu tư nước ngoài vào phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng. Vấn đề đầu tiên
không thể thiếu được là: tỉnh uỷ, UBNN tỉnh và nhân dân tỉnh Đồng Nai trên cơ sở quán triệt
quan điểm của Đảng, đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước vận
dụng phù hợp vào đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai. Để đề ra chính sách, biện


pháp thích hợp khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tăng vốn đầu tư công nghệ hiện
đại, trình độ quản lý tiên tiến vào phát triển các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa
bàn tỉnh Đồng Nai. Đối với chủ thể là các nhà đầu tư nước ngoài, trên cơ sở hiểu rõ quan
điểm chủ trương, chính sách và luật pháp Việt Nam cũng như các chính sách, biện pháp
của tỉnh Đồng Nai. Chủ động, tích cực tăng vốn đầu tư mới, tăng vốn để mở rộng quy mô và
nâng cao trình độ sản xuất của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Mục đích của phát
triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai là tăng đầu tư vốn, công nghệ hiện
đại trình độ quản lý tiên tiến từ nước ngoài, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá tỉnh Đồng Nai theo hướng đến năm 2010 trở thành tỉnh công nghiệp.
Sự phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai thể hiện rõ vai trò ngày
càng tăng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên một số mặt cơ bản sau đây:
Một là, TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư
phát triển, góp phần khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của tỉnh, tạo
thế và lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai.
Từ năm 1989, Đồng Nai mới chỉ thu hút được 2 dự án đầu tư nước ngoài đầu tiên với
số vốn là 9,7 triệu USD. Tính đến tháng 5 năm 2004, toàn tỉnh đã có 537 dự án đầu tư nước
ngoài còn hiệu lực, tổng nguồn vốn “rót” vào xây dựng các cơ sở sản xuất tại các KCN của
các công ty nước ngoài là 6,5 tỷ USD [22, 20]. Trong các công ty đã đến Đồng Nai, hiện đã
có 273 dự án đang sản xuất kinh doanh, 90 dự án đang xây dựng, tổng vốn thực hiện là 3 tỷ
USD (chiếm 48,7% tổng vốn đăng ký [43]. Hiện nay Đồng Nai là một trong những tỉnh, thành
phố có lượng vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất cả nước (đứng vị trí thứ 3, sau Thành phố Hồ
Chí Minh và Hà Nội).

từ bên ngoài vào, đã làm cho các nguồn lực từ nội bộ của tỉnh được huy động và phát huy có
hiệu quả hơn. Chính sự tác động qua lại đó làm cho kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai không ngừng
phát triển. Vì vậy, đã có nhận xét về Đồng Nai như sau:
“Nhắc đến Đồng Nai bây giờ không mấy ai còn nhớ đến vùng đất nghèo nàn của
mấy mươi năm về trước nữa. Luồng vốn đầu tư khổng lồ hội tụ từ các nhà đầu tư ở
khắp mọi nơi trên thế giới chảy về đây đã biến mảnh đất này trở thành một vùng đất
công nghiệp năng động, thay gia đổi thịt từng ngày” [13, 14].
Hai là, TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành,
vùng theo hướng CNH, HĐH ở tỉnh Đồng Nai.
TPKT có vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn tỉnh Đồng Nai theo hướng CNH, HĐH. Điều
này, thể hiện rõ trong cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài, chủ yếu tập trung vào ngành công
nghiệp và xây dựng (chiếm 93% số dự án, 96% vốn đăng ký).


Với tỷ lệ đầu tư vốn như vậy, đã thúc đẩy ngành công nghiệp Đồng Nai phát triển cả
quy mô và trình độ hoạt động sản xuất kinh doanh. Chẳng hạn, tỷ trọng giá trị sản xuất
công nghiệp tăng từ 1,01% năm 1992 lên 60,67% năm 2003, chỉ trong vòng 11 năm, tỷ trọng
công nghiệp tăng lên hơn 60%, đó là một kết quả tăng rất cao so với các tỉnh trong nước, rõ
ràng đây là một sự chuyển dịch có tốc độ cao. Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp tăng đã
làm giảm tỷ trọng ngành kinh tế nông lâm nghiệp, nhưng lại tạo điều kiện để tăng lĩnh vực
dịch vụ. Một cơ cấu kinh tế mới, Công nghiệp - dịch vụ - nông lâm nghiệp hình thành theo
hướng hiện đại hoá. Qua đó cho thấy rõ, sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nêu
trên, có sự đóng góp rất quan trọng của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai.
Đại hội đại biểu lần thứ VI Đảng bộ tỉnh Đồng Nai năm 1996 đề ra là: “chuyển cơ cấu
kinh tế Đồng Nai từ: Nông - công nghiệp - dịch vụ thành cơ cấu kinh tế: công nghiệp - dịch
vụ - nông nghiệp vào năm 2000” [5, 499].
Thực tế, đến cuối năm 2000 cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh Đồng Nai đạt được là:
“Công nghiệp - xây dựng chiếm 52,3% - Dịch dụ 24,9% - nông lâm nghiệp 22,8%”
[10,6]. Với xu hướng phát triển tích cực đó, Đại hội đại biểu làn thứ VII Đảng bộ tỉnh Đồng

nghệ, nâng cao năng suất lao động tăng khả năng cạnh tranh cho các sản phẩm hàng hoá,
dịch vụ của tỉnh Đồng Nai.
Là một tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Đông Nam Thành phố Hồ Chí Minh. Trong những
năm chiến tranh, Đồng Nai bị chiến tranh tàn phá nặng nề, hậu quả là: cơ sở vật chất
nghèo nàn; công nghiệp lạc hậu, kém phát triển. KCN Biên Hoà 1 xây dựng từ năm 1963,
nhà máy và các thiết bị lạc hậu, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm kém, hàng
hoá mẫu mã đơn điệu, do đó sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá yếu.
Từ khi thực hiện chủ trương đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH tỉnh nhà, tăng
cường thu hút vốn, công nghệ, tiên tiến… từ đầu tư trực tiếp nước ngoài, phát triển
TPKT có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài phát triển ở
hầu hết các ngành kinh tế của tỉnh Đồng Nai, như: Công nghiệp, xây dựng; nông lâm
nghiệp; khách sạn, nhà hàng; vận tải, thông tin, hoạt động văn hoá, thể thao v.v.. với
sự có mặt của nhiều tập đoàn kinh tế mạnh đa ngành, đa quốc gia đến từ các nước:
Nhật, Hàn Quốc, Malaisia, Thái Lan v.v.. là những nước có nền kinh tế phát triển hơn
ta, nắm giữ một số ngành kỹ thuật công nghệ tiên tiến. Đã từng bước đầu tư công
nghệ hiện đại, chuyển giao công nghệ tiên tiến vào tỉnh Đồng Nai, làm chuyển biến
mạnh mẽ một số lĩnh vực sản xuất của tỉnh ngang tầm khu vực và có sức cạnh tranh
trên thị trường khu vực và thế giới, như: dây chuyền tự động lắp ráp hàng điện tử,
mạch điện tử; công nghệ chế tạo máy biến thế, cáp thông tin, công nghệ chế biến gỗ,
thức ăn gia súc v.v.. vì thế tỷ lệ công nghệ mới hiện đại tăng từ 70% năm 1995 lên 80%


năm 2000 và 85% năm 2003 [34], đây thực sự là một bước tiến đáng trân trọng về đổi
mới công nghệ của tỉnh Đồng Nai. Đồng thời còn học hỏi được mô hình quản lý tiên
tiến và phương thức kinh doanh hiện đại của các nước đã được áp dụng trong các
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Đây có thể được coi là những yếu tố kích thích, thúc
đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đứng chân trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và các vùng lân
cận, phải không ngừng đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý sản xuất kinh
doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá trên
thị trường. Cũng cần nhận thức rằng, bằng sự hiện diện của mình, các doanh nghiệp

nghiệp, thì năm 1999 tăng lên 139214 lao động, chiếm 56,90% và năm 2001 là 161946 lao
động, chiếm 56,17% tổng số lao động [12, 37]. Do có chính sách kinh tế cởi mở, vốn đầu
tư nước ngoài vào Đồng Nai tăng nhanh, thúc đẩy công nghiệp phát triển nên đã thu hút
một lượng lao động lớn, giải quyết một lượng lao động dôi dư và làm giảm một phần
đáng kể gánh nặng cho xã hội, hạn chế các tệ nạn xã hội do thiếu việc làm xẩy ra. Đồng
thời đóng góp cho nguồn thu hút ngân sách của tỉnh và Nhà nước, làm tăng quỹ tích
lũy, tạo nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội nói chung và tiếp tục đầu tư
cả chiều rộng và chiều sâu cho công nghiệp tiếp tục tăng trưởng. Trên đây là chưa kể
hàng vạn lao động không trực tiếp làm việc trong các công ty, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, nhưng việc làm của họ gián tiếp được tạo ra do sự phát triển của TPKT
này đem lại.
Ví dụ: Công ty máy tính Fujutsu của Nhật Bản ở KCN Biên Hoà II, đã thu hút 2500 lao
động có tay nghề cao.
Trong điều kiện nền kinh tế địa phương còn hạn hẹp, mà số lượng việc làm được giải
quyết như trên, là một điều rất đáng phấn khởi. Bởi vì, có việc làm, tức có thu nhập (thu nhập
của người lao động trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Đồng Nai năm 2002 là: Thu
nhập bình quân của người lao động trong xí nghiệp liên doanh với nước ngoài là 3 392 000
đồng người/tháng; doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là 1 434 000 đồng người/tháng [37,
232]. Có thu nhập, thu nhập lại tăng lên, sẽ tạo sức mua, nhu cầu có khả năng thanh toán tăng
lên làm cho thị trường nội địa được mở rộng và sôi động, tạo ra sự kích thích các hoạt động
sản xuất và dịch vụ trên địa bàn phát triển và lại làm cho việc làm được tạo ra nhiều hơn. Cứ
như vậy, sự lan toả ngày càng rộng với tốc độ phát triển ngày càng cao. Mặt khác, cũng cần
thấy rằng, trong môi trường làm việc của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cán bộ
và công nhân lao động ở Đồng Nai, có điều kiện tiếp xúc, tiếp thu kỹ thuật công nghệ hiện đại,
trình độ quản lý tiên tiến, của nước ngoài, từng bước nâng cao trình độ tay nghề, trình độ tổ
chức quản lý sản xuất. Đồng thời rèn luyện tác phong công nghiệp, thích ứng với cơ chế thị
trường. Trong những năm qua, một số lượng đáng kể người lao động được đào tạo nâng cao
năng lực quản lý, trình độ chuyên môn, kỹ thuật đủ sức thay thế các chuyên gia nước ngoài.



cường mở rộng thị trường quốc tế, tăng kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 127,12 triệu USD năm 1995 lên 1464,56 triệu USD



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status