Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRONG
DẠY – HỌC VĂN BẢN Ở TRƯỜNG THCS
I/ PHẦN MỞ ĐẨU:
1. Lí do chọn đề tài:
Chúng ta đều biết trung tâm của môn văn là “cái đẹp”, vì vậy nếu dạy văn mà chưa
tạo ra được những rung động thẩm mĩ sâu sắc khiến người đọc say mê thì xem như chưa
hoàn thành sứ mạng của môn học. Thực tế phương pháp dạy học văn cổ truyền chính là
“Giảng văn”, với phân môn này thì gần như đây là hình thức duy nhất để tiếp cận văn bản.
Chúng ta cũng không phủ nhận những thành công mà phương pháp đem lại, tuy nhiên với
phương pháp này việc phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh là chưa có. Chính
điều đó đòi hỏi phải có những phương pháp cải tiến hơn trong việc dạy – học văn trong
nhà trường phổ thông, đây là nhu cầu cần thiết đối với các nhà giáo dục đặc biệt là những
giáo viên dạy văn. Một trong những yếu tố, phương pháp để tiến hành có hiệu quả một tiết
dạy văn chính là xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với đối tượng học sinh qua đó giúp
học sinh khám phá, cảm thụ tác phẩm văn học. Việc dạy văn bằng cách xây dựng hệ thống
câu hỏi có tác dụng tạo được mối quan hệ sư phạm trong giao tiếp giữa thầy và trò và khơi
dậy trong học sinh sự khám phá nội dung, dụng ý nghệ thuật của tác giả.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Mục đích của bài viết này nhằm góp một phần nhỏ đem laij hiệu quả cao trong dạy
và học môn ngữ văn trong trường THCS. Đặc biệt là giúp khơi gợi trí tưởng tượng, thái độ
học tập tích cực, sáng tạo trong việc tlĩnh họi cái đẹp của tác phẩm văn học.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc sử dụng phù hợp hệ thống câu hỏi trong việc
1
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
giảng dạy bộ môn ngữ văn
thú. Để viết đựợc bài văn hay, có cảm xúc đối với các em là rất khó. Cũng do sự tiếp thu,
cảm nhận các tác phẩm được học chưa sâu, chưa tốt dần dần các em cảm thấy chán nản
không muốn khám phá những tác phẩm văn học nữa.
Một điều nữa là hiện nay cơ sở vật chất của chúng ta dù đã được đầu tư nhiều nhưng
so ra vẫn còn thiếu thốn chưa đáp ứng được nhu cầu của học sinh. Chúng ta vẫn chưa thể
có một phòng đọc sách, đọc tài liệu tham khảo cho học sinh. Điều đó cũng ảnh hưởng tới
việc cảm thụ văn học của các em. Đặc biệt với bộ môn văn rất cần sự tham khảo, tìm hiểu
ở tài liệu để bồi dưỡng và làm phong phú thêm tâm hồn cho các em.
2.2/ Về phía giáo viên:
Như chúng ta cũng biết huyện Eadrong được thành lập cách đây không lâu, đội ngũ
giáo viên của chúng ta hầu hết còn rất non trẻ về tuổi nghề. Vả lại giáo viên lại chưa ổn
định cuộc sống, chưa ổn định công tác. Chính điều đó cũng ảnh hưởng tới quá trình dạy –
học.
Đứng trước thực trạng đó để tháo gỡ những vướng mắc bấy lâu của bộ môn văn và
cũng để học sinh dần quay trở lại yêu thích bộ môn văn hơn, tôi mạnh dạn xây dựng
chuyên đề “Sử dụng hệ thống câu hỏi trong dạy – học phân môn văn ở trường THCS”.
Qua đó hy vọng cùng các bạn đồng nghiệp trao đổi, rút kinh nghiệm để việc dạy – học văn
của huyện nhà ngày một khởi sắc hơn.
3. Nội dung chính:
Trước hết chúng ta cần hiểu được “Hệ thống câu hỏi là gì’’? Cần phải sử dụng câu
hỏi đó như thế nào trong các tiết dạy học văn. Các câu hỏi đó là những câu hỏi có ý nghĩa
gì?
3.1. Vậy hệ thống câu hỏi là gì?
- Hệ thống là một chuỗi các câu hỏi được sắp xếp theo một trình tự. Trong dạy - học
văn hệ thống câu hỏi là một chuỗi những câu hỏi mà giáo viên đưa ra để học sinh tìm hiểu,
nghiên cứu, khám phá, lĩnh hội nội dung, nghệ thuật của tác phẩm và dụng ý của tác giả.
3.2. Yêu cầu đối với hệ thống câu hỏi:
3
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
- Câu hỏi thảo luận. (theo nhóm, theo cặp)
- Câu hỏi trắc nghiệm. Dùng để củng cố lại nội dung bài học
Tuy nhiên việc đặt câu hỏi phải phụ thuộc vào nội dung cần đạt của bài học không
thể đặt câu hỏi với nội dung bên ngoài mục tiêu đó. Nếu muốn cho học sinh nắm kĩ và ghi
nhớ luôn về tác giả chúng ta sẽ dùng câu hỏi gợi từng nội dung để học sinh nêu việc nhận
biết của mình. Nếu cần cho học sinh tìm hiểu về xuất xứ của tác phẩm chúng ta sẽ đặt hệ
thống câu hỏi tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời, vị trí của tác phẩm. Hoặc để xác định được nội
dung từng phần trong văn bản, xác định được từng luận điểm sẽ có hệ thống câu hỏi tìm
hiểu bố cục. Hay trong mỗi bài văn để hiểu rõ được vấn đề, cảm nhận được một vẻ đẹp,
một chi tiết đặc sắc nào đó chúng ta sẽ dùng câu hỏi phân tích và giảng bình. Cũng có khi
để kiểm tra sự ghi nhớ và sự tổng hợp kiến thức của học sinh ta lại dùng câu hỏi trắc
nghiệm. Đặc biệt để mỗi bài giảng đảm bảo sự tích hợp ngang và tích hợp dọc thì mỗi giáo
viên cần phải sử dụng đến hệ thống câu hỏi liên hệ, liên hệ giữa kiến thức này với kiến
thức kia, liên hệ giữa bài này với bài kia, liên hệ giữa lí thuyết và thực tiễn để giờ học
không quá khô khan cứng nhắc mà học sinh còn biết vận dụng lí thuyết đưa vào thực tế
đời sống hàng ngày đó mới là cái quan trọng.
Nói như vậy không có nghĩa là với văn bản nào chúng ta cũng hướng dẫn học sinh
tuân thủ đầy đủ hệ thống câu hỏi như trên. Tùy thuộc từng bài, từng văn bản người giáo
viên vận dụng, hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài học cho thích hợp. Điều mà chúng ta –
những người giáo viên quan tâm là đối tượng tiếp nhận giờ học văn là các em học sinh.
Cũng do trình độ nhận thức, khả năng tư duy của các em có sự khác nhau, nên khi đặt câu
hỏi người giáo viên cần chú ý đến đối tượng để giúp các em có hứng thú hơn trong quá
trình học tập. Đặt ra câu hỏi nhưng không được quá dễ để các em không coi thường mà
sao nhãng, cũng không đặt những câu quá khó để học sinh nản lòng không muốn tìm hiểu
tiếp.
Ví dụ 1: Khi dạy văn bản “Ông lão đánh cá và con cá vàng” ở lớp 6 có thể đặt câu hỏi cho
Tiết 117: Viếng lăng Bác
Viễn Phương
A. Mục tiêu cần đạt
- Giúp học sinh cảm nhận được niềm xúc động thiêng liêng, chân thành sâu lắng
6
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
của một nhà thơ ở Miền Nam được đến viếng lăng Bác sau ngày giải phóng Miền
Nam thống nhất đất nước.
- Thấy được những đặc điểm nghệ thuật của bài thơ: giọng thơ trang trọng thành kính
rất phù hợp với không khí thiêng liêng ở lăng Bác, hình ảnh thơ taw thực và những hình
ảnh ẩn dụ, biểu tượng rất sáng tạo.
- Rèn kỹ năng đọc, cảm nhận thơ 8 chữ.
B. Chuẩn bị
Thầy: Nghiên cứu SGK, Sách hướng dẫn, Soạn giáo án
Trò: SGK, Soạn bài ở nhà,
C. Tiến trình loên lớp
1- ổn định tổ chức
2- Kiểm tra bài cũ: ? Đọc thuộc lòng bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" ? Nêu cảm nghĩ của em
về khổ thơ đầu bài thơ
3- Bài mới:
Hoạt động của thầy và trò
? Nêu hiểu biết của em về tác giả
Nội dung cần đạt
I. Đọc, tìm hiểu chung
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
- Khổ thơ 2 - 3: Cảm xúc của nhà thơ khi vào
trong lăng Bác
- Khổ thơ cuối: Cảm xúc của nhà thơ khi rời
lăng Bác.
Tâm trạng của nhà thơ trước cảnh tn ngoài 1. Tâm trạng của nhà thơ trước cảnh
lăng Bác.
thiên nhiên ngoài lăng Bác.
- Học sinh đọc khổ 1
? Lần đầu tiên ra thăm lăng Bác được tác giả
giới thiệu qua câu thơ nào?
- Câu thơ như một lời tâm sự, từ ngữ
- Con ở Miền Nam ra thăm lăng Bác.
dung dị, tự nhiên, cách xưng hô thân
? Cách xưng con của nhà thơ thể hiện tình cảm mật gần gũi, giọng điệu cảm xúc như
của nhà thơ với Bác như thế nào? Tại sao nhà người con về thăm cha.
thơ không xưng là cháu mà xưng "Con" ?
- Từ "con" thân thương vốn là cách xưng hô của
người dân Nam Bộ, mang chất giọng ngọt ngào
của người dân Nam Bộ, thể hiện thái độ thành - H/ả hàng tre tượng trưng cho vẻ đẹp
kính, gợi cảm xúc mãnh liệt. ở nơi xa xôi cách thanh cao và sức sống bền bỉ, mãnh
Nam.
? Trong thơ ca Việt Nam, hình ảnh cây tre mang
ý nghĩa ẩn dụ nào? Ya nghĩa của từ ngữ đó?
Ôi ( Thán từ. Bộc lộ trực tiếp cảm xúc thương
mến, tự hào với đất nước, với dân tộc.
2. Cảm xúc khi vào lăng Bác.
Cảm xúc của nhà thơ khi vào lăng Bác.
* Bằng điệp từ "ngày ngày" nhà thơ
? Có những mặt trời nào xuất hiện trong lời thơ ? thể hiện sự thực cảm động diễn ra
Mặt trời nào có ý nghĩa tả thực, mặt trời nào thường xuyên liên tục những dòng
mang ý nghĩa tượng trưng?
người người nặng trĩu nhớ thương lặng
- Mặt trời trên lăng ( Mặt trời của vũ trụ.
lẽ nối nhau vào lăng viếng Bác.
- Mặt trời trong lăng ( Mặt trời của con người (ví
với Bác) - ẩn dụ.
9
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
- Con người Bác với những biểu hiện sáng chói - Nhịp thơ trầm lắng, âm điệu kéo dài
cảm xúc gì).
- Bảy mươi chín mùa xuân là hình ảnh ẩn dụ chỉ
Bác bày chín tuổi.
- H/ả ẩn dụ "trời xanh" tượng trưng
- Dòng người vào lăng viếng Bác kết thành tràng cho sự bất diệt của Bác Hồ. Người dã
hoa lớn dâng lên Bác.
ra đi nhưng lí tưởng và sự nghiệp của
- Nhịp thơ trầm lắng, âm điệu kéo dài như diễn Người vẫn còn mãi mãi.
tả dòng người vô tận, diễn tả cảm xúc sâu nặng
nhớ thương của đồng bào Miền Nam với Bác. 9
10
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
tiếng/1dòng thơ).
* Học sinh đọc khổ 3:
? Khi vào trong lăng Bác, nhà thơ quan sát và có - Tác giả tự cảm nỗi đau mất mát trong
cảm nhận gì về Bác?
đáy sâu tâm hồn mình về sự ra đi của
- Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên
Bác.
? Câu thơ tiếp theo xuất hiện hình ảnh ẩn dụ? Đó
là hình ảnh nào? ý nghĩa của hình ảnh này?
- Trời xanh là mãi mãi. Trời xanh ( ẩn dụ
lafbieeur tượng bất diệt của Bác Hồ. Người dã ra
đi nhưng lí tưởng và sự nghiệp của Người vẫn
còn mãi mãi.
? Từ nào trong lời thơ "Mà sao nghe nhói ở
trong tim" có sức biểu cảm trực tiếp ? - Từ
"Nhói"
? Cảm nhận của em về lời thơ này qua lời biểu
cảm trực tiếp đó?
- Nhói là đau đột ngột, quặn thắt.
- Nghe nhói ở trong tim là nỗi đau tinh thần.
- Tác giả tự cảm nỗi đau mất mát trong đáy sâu
tâm hồn mình về sự ra đi của Bác.
? Nhận xét cách sử dụng cụm từ "vẫn biết, mà
sao" ?
- Sử dụng như một sự đói lập, khắc sâu thực tại
cảm xúc xót xa đau đớn mất mát trước sự ra đi
của Người.
Cảm xúc khi rời lăng Bác.
3. Cảm xúc khi rời lăng Bác.
? Khi trở lại MN tác giả bộc lộ cảm xúc như thế
nào?
- Tác giả cảm thấy bâng khuâng, xốn
- Thương trào nước mắt ( Nhớ thương nghẹn xang, lưu luyến không muốn rời xa
- So sánh tả thực ẩn dụ tượng trưng từ
- Cây tre ( Làm con người bình dị trung hiếu
ngữ chọn lọc.
? Giá trị nội dung, nghệ thuật được Viễn Phương 2. Nội dung
thể hiện qua văn bản Viếng Lăng Bác
Thể hiện tình cảm tác giả đối với bác
kính yêu
IV. Luyện tập
- Học thuộc lòng bài thơ
- Viết 1 đoạn thể hiện cảm nghĩ về 1
đoạn thơ mà em thích?
4. Củng cố: Giáo viên hệ thống lại bài, yêu cầu h/s đọc diễn cảm bài thơ.
5. Hướng dẫn về nhà: Về nhà học thuộc lòng bài thơ, cảm nhận khổ thơ 1,2, soạn bài tiếp
theo
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận:
Qua những vấn đề đã trình bày ở trên chúng tôi nhận thấy rằng việc sử dụng hệ thống
13
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu, khám phá tác phẩm văn chương là phương pháp
2. Sách giáo khoa ngữ văn 6
3. Sách giáo khoa ngữ văn 7
4. Sách giáo khoa ngữ văn 8
5. Sách giáo khoa ngữ văn 9
6. Luật giáo dục
15
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
MỤC LỤC
Nội dung
I / Phần mở đầu ...............................................................................................
Trang
1
1. Lí do chọn đề tài..............................................................................................1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài ...........................................................................
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.....................................................................
4. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................1
II/ Phần nội dung
1. Thực trạng .......................................................................................................1
1. Về phía học sinh.........................................................................................1
2. Về phía giáo viên.......................................................................................2
3. Nội dung chính
3.1.Vậy hệ thống câu hỏi là gì?........................................................................2
3.2.Yêu cầu đối với hệ thống câu hỏi...............................................................2
3.3.Việc xây dựng hệ thống câu hỏi.................................................................3