Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức; ý nghĩa phương pháp luận rút ra và liên hệ thực tiễn vận dụng các quan điểm phương pháp luận đó trong hoạt động thực tiễn của cá nhân hoặc ngành, đơn vị đồng chí. - Pdf 38

BÀI THI MÔN TRIẾT HỌC
Câu 1: (Cách 1) Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức; ý nghĩa
phương pháp luận rút ra và liên hệ thực tiễn vận dụng các quan điểm phương pháp luận đó trong
hoạt động thực tiễn của cá nhân hoặc ngành, đơn vị đồng chí.
(Cách 2 Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta xác định một
trong những bài học kinh nghiệm quan trọng là “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải
xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Bằng kiến thức triết học Mác – Lênin,
đồng chí hãy phân tích làm rõ cơ sở lí luận của bài học trên và nêu ý nghĩa phương pháp luận
trong thực tiễn công tác của các nhân hoặc ngành, đơn vị đồng chí).
Bài làm
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam trải qua những
chặng đường đấu tranh gian khổ và giành được những thắng lợi vẻ vang. Trong thời kỳ mới, Đảng
đã lãnh đạo nhân dân VN tiến hành công cuộc đổi mới và tích cực tham gia hội nhập quốc tế, đưa
Việt Nam trở thành một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, ổn định và liên
tục trong nhiều năm được cộng đồng thế giới đánh giá cao. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng
nước ta, Đảng đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quan trọng, một trong những bài học đó là
“Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.
Bài học kinh nghiệm trên của Đảng xuất phát từ cơ sở lí luận triết học về mối quan hệ biện chứng
giữa vật chất và ý thức. Để hiểu rõ hơn, chúng ta cùng tìm hiểu.
Theo quan điểm của triết học Mác: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại
khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chúng ta chép lại, chụp
lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
Từ định nghĩa cho thấy, vật chất là tất cả những gì tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào
ý thức con người và loài người, đồng thời con người có thể nhận thức được vật chất trong quá
trình phản ánh chúng vào bộ óc minh thông qua các giác quan.
Vậy ý thức là gì? Triết học Mác khẳng định, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan
vào bộ óc con người một cách tích cực, chủ động, sáng tạo, là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan. Nói cách khác, ý thức là hình ảnh tinh thần, hình ảnh phi cảm tính của các đối tượng
vật chất cảm tính. Ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử xã hội.
Quan điểm trên đã khẳng định ý thức không có đặc tính vật chất như quan niệm của chủ
nghĩa duy vật tầm thường, cũng không phải cái gì thần bí, siêu tự nhiên, một thực thể độc lập như

sáng tạo của bộ óc người về vật chất; mặt khác, ý thức luôn chịu sự tác động của quy luật phản
ánh) và có vai trò tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Ý thức có sự tác động trở lại đối với vật chất vì một số nguyên nhân sau:
Một là, ý thức luôn định hướng, chi phối, quy định hoạt động thực tiễn của con người. ý
thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người giúp con người hiểu được bản chất, quy luật
vận động phát triển của sự vật, hiện tượng. Trên cơ sở đó, hình thành phương hướng, mục tiêu và
những phương pháp, cách thức thực hiện mục tiêu.
Hai là, trong hoạt động thực tiễn, sự vật bộc lộ nhiều khả năng mà nhờ có ý thức, con
người sẽ lựa chọn được những khả năng đúng phù hợp để tác động, thúc đẩy sự vật phát triển.
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất thường theo hai khuynh hướng:
Thứ nhất, nếu ý thức phản ánh đúng thì có tác dụng thúc đẩy hoạt động cải tạo vật chất của
con người.
Thứ hai, nếu ý thức phản ánh không đúng thì sẽ kìm hãm hoạt động cải tạo vật chất của
con người.
Từ việc giải quyết đúng đắn, khoa học mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên quan điểm
thực tiễn, đòi hỏi trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn phải luôn luôn vận dụng
quan điểm khách quan. Quán triệt quan điểm khách quan, cần:
Thứ nhất, khi xem xét đánh giá một sự vật, một hiện tượng, một quá trình kinh tế - xã hội
nào đó phải xuất phát từ bản thân sự vật, hiện tượng, quá trình đó; phải xem xét gắn với điều kiện
hoàn cảnh thực tế đã sản sinh ra nó; mặt khác, không được áp đặt cho sự vật cái mà vốn nó không
có hoặc chưa thể có.
Thứ hai, mọi chủ trương, phương hướng, chính sách, mục tiêu, kế hoạch, biệm pháp…phải
căn cứ vào hoàn cảnh thực tế, phù hợp với các điều kiện vật chất khách quan.
Thứ ba, phải luôn tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
Thứ tư, Chống bệnh chủ quan duy ý chí (đưa ra mục tiêu, phương pháp hoạt động không
căn cứ vào thực tế khách quan), chống chủ nghĩa khách quan (quá dề cao vật chất, ỷ lại, thiếu sự
năng động sáng tạo).
Thứ năm, phải phát huy vai trò của ý thức – vai trò nhân tố con người (nâng cao ý thức,
trình độ nhận thức, năng lực tổ chức thực tiễn, tình cảm, ý chí, trách nhiệm…lựa chọn biện pháp
thực hiện có hiệu quả nhất).

Trong lịch sử triết học có các quan niệm khác nhau về sự tồn tại của thế giới, như: quan
điểm siêu hình cho rằng, các sự vật và hiện tượng tồn tại tách rời nhau, giữa chúng không có sự
phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau; có chăng chỉ là những liên hệ hời hợt bên ngoài, mang tính ngẫu
nhiên; chủ nghĩa duy tâm cho cơ sở của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng ở các lực lượng siêu
tự nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con người.
Đối lập với những quan điểm đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định mọi sự vật,
hiện tượng trong thế giới tồn tại trong sự liên hệ, ràng buộc, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn
nhau.
Mối liên hệ mang tính khách quan, vốn có của thế giới. Nguyên nhân là do tính thống nhất
vật chất của thế giới.
Mối liên hệ mang tính phổ biến, không chỉ diễn ra giữa các mặt, các nhân tố tạo thành sự
vật, hiện tượng mà còn diễn ra giữa các sự vật, hiện tượng trong mọi lĩnh vực của thế giới cả tự
nhiên, xã hội và tư duy con người.
Cùng với việc khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của mối liên hệ, quan điểm duy
vật biện chứng còn thừa nhận tính đa dạng của mối liên hệ. Có mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ
bên trong; có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệ thứ yếu; có mối liên hệ bản chất và mối liên hệ
không bản chất; có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp,… Sự vật, hiện tượng nào cũng
vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ
với nhau tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên, sự phân loại
các mối liên hệ mang tính tương đối, vì mỗi mối liên hệ chỉ là một bộ phận, một mặt, một khia
cạnh trong toàn bộ mối liên hệ phổ biến nói chung.

3


Do các sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn có mối liên hệ và tác động qua lại làm cho
chúng luôn vận động và phát triển. Vì vậy, chúng ta tìm hiểu nguyên lí về sự phát triển.
Trong lịch sử triết học, bàn về sự phát triển, quan điểm siêu hình xem phát triển chỉ là sự
tăng lên hay giảm đi thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất, nếu có thay đổi về chất thì
đó cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín.

phải điều tra, khảo sát các mối liên hệ có liên quan đảm bảo tính khả thi của mục tiêu. Mặt khác,
trong cải tạo sự vật phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, nhiều phương tiện khác nhau.
Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu:
Khi xem xét một sự vật, hiện tượng nào đó phải đặt trong không gian, thời gian, điều liện,
hoàn cảnh cụ thể với những mối liên hệ xác định để tìm ra đâu là mối liên hệ cơ bản quyết định sự
vận động, phát triển của nó.
Quan điểm phát triển yêu cầu:
Thứ nhất, khi xem xét, đánh giá một sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, phát
triển để tìm ra xu hướng vận động của nó.
Thứ hai, phải tìm tòi phát hiện ra cái mới, tiến bộ và tạo điều kiện cho nó phát triển; phải
phát hiện nhân tố hợp lí trong cái cũ để kế thừa trong quá trình cải tạo.

4


Liên hệ ?

Câu 3: Phân tích mối quan hệ giữa lí luận và thực tiễn; ý nghĩa phương pháp luận và liên
hệ thực tiễn vận dụng các quan điểm phương pháp luận đó trong hoạt động thực tiễn của cá nhân
hoặc ngành, đơn vị đồng chí.
(Cách 2 Phân tích cơ sở lí luận của nguyên tắc “Thống nhất giữa lí luận và thực tiễn”;
ý nghĩa phương pháp luận và giải pháp trong thực tiễn để thực hiện nguyên tắc đó của cá
nhân, địa phương hoặc đơn vị đồng chí.)
Bài làm
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin. Đó là
một nội dung có vị trí đặc biệt quan trọng trong học thuyết Mác. Bởi vi, nó là một trong những
nguyên tắc phương pháp luận thực sự khoa học giúp cho con người nâng cao hiệu quả trong hoạt
động nhận thức và thực tiễn. Trên lập trường duy vật và phương pháp luận biện chứng, triết học
Mác đã đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận nhận thức, phân tích làm rõ vai trò của thực tiễn đối
với nhận thức, mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động nhận thức, cải tạo thế giới


5


thông tin từ đối tượng một cách chính xác. Mặt khác, thông qua quá trình hoạt động thực tiễn, con
người tác động vào các đối tượng trong thế giới khách quan làm cho chúng bộc lộ những thuộc
tính, những quy luật, bản chất,... Từ đó, con người phản ánh và tạo nên tri thức. Vì vậy, thực tiễn
là cơ sở cung cấp tài liệu cho quá trình nhận thức.
Thực tiễn còn là động lực, mục đích nhận thức, lý luận. Vì, thực tiễn không ngừng vận
động và biến đổi, phát triển trên nhưng nấc thang trình độ khác nhau. Do đó, để tương xứng với
thực tiễn mới đòi hỏi con người phải có những tri thức mới đáp ứng thực tiễn và định hướng cho
hoạt động thực tiễn tiếp theo. Cho nên, thực tiễn là động lực thúc đẩy nhận thức của con người.
Hơn nữa mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là thuần túy tạo ra tri thức mà là nhằm
phục vụ cho hoạt động thực tiễn đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn.
Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm nghiệm kết quả nhận thức, đánh giá tính chân lí của lí luận.
Vì thông qua sự vận dụng tri thức vào thực tiễn, thông qua diễn biến và hiệu quả thu được trong
hoạt động thực tiễn mới chứng minh được tri thức là đúng đắn hay sai lầm.
Tuy nhiên, khi tìm hiểu vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, lí luận, chúng ta phải lưu ý
điểm sau:
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối
Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan nhất để kiểm
nghiệm chân lí, thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xác nhận được chân lí.
Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tương đối vì thực tiễn luôn biến đổi, phát triển. vì vậy, những
tri thức đã được chứng minh ở một giai đoạn lịch sử trước đây vẫn phải được thực tiễn tiếp theo
kiểm nhiệm, bổ sung, điều chỉnh, phát triển để trở nên hoàn thiện hơn.
Trong khi khẳng định vai trò quyết định của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận, Triết học
Mác cũng đồng thời chỉ rõ, lý luận có vai trò to lớn đối với hoạt động thực tiễn, đó là:
Thứ nhất, lí luận hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, lí luận khoa học là “kim chỉ nam” cho thực
tiễn. Nó giúp thực tiễn hoạt động đúng hướng, có hiệu quả, tránh mò mẫm, tự phát. Lý luận khoa
học giúp con người xác định đúng đắn nhu cầu, lợi ích, mục đích và tìm kiếm phương tiện phù

khuôn, máy móc. Biểu hiện của bệnh giáo điều là bệnh sách vở, nắm lí luận chỉ dừng lại ở câu chữ
theo kiểu “tầm chương trích cú”; hiểu lí luận một cách phiến diện, hời hợt, áp dụng lí luận một
cách máy móc; vận dụng sai lí luận vào thực tiễn, không bổ sung, điều chỉnh lí luận.
Vì vậy, để khắc phục triệt để bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều, chúng ta cần quán triệt
nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong triết học Mác – Lênin. Cụ thể:
Bám sát thực tiễn, lí luận phải gắn liền với thực tiễn, thường xuyên kiểm tra trong thực
tiễn, tăng cường học tập nâng cao trình độ lí luận, bổ sung,vận dụng lí luận phù hợp với thực tiễn.
Phải coi trọng lí luận và công tác lí luận, nâng cao dân trí, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và
đào tạo, phổ biến rộng rãi tri thức khoa học – công nghệ.
Phải đổi mới công tác lí luận của Đảng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Quán triệt nhiệm vụ, hướng nghiên cứu chủ yếu và phương châm lớn chỉ đạo
hoạt động lí luận của Đảng.
Liên hệ ?

Nội dung 4: Phân tích nội dung quy luật “Quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất”; liên hệ sự vận dụng quy luật đó trong thực tiễn đổi mới ở
nước ta; đồng thời nêu nhiệm vụ và giải pháp phát triển lực lượng sản xuất trong giai đoạn
hiện nay.
Bài làm
Theo triết học Mác, cơ sở phát triển của lịch sử xã hội là từ sản xuất vật chất. Tuy nhiên,
trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, do bị quy định bởi nhiều yếu tố mà xã hội loài người có
cách thức sản xuất riêng. Cách thức sản xuất đó được gọi là phương thức sản xuất (PTSX).
Phương thức sản xuất là cái mà nhờ nó người ta có thể phân biệt được sự khác nhau của những
thời đại kinh tế khác nhau. Phương thức sản xuất được cấu thành bởi hai yếu tố là lực lượng sản
xuất (LLSX) và quan hệ sản xuất (QHSX).
Theo quan điểm triết học Mác, LLSX là phạm trù dùng để chỉ mối quan hệ giữa con người
với tự nhiên trong việc con người chinh phục thế giới tự nhiên; là phương thức kết hợp giữa người
lao động với tư liệu sản xuất và kinh nghiệm sản xuất của họ.
LLSX bao gồm người lao động; tư liệu sản xuất và ngày nay khoa học đã trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp. Bởi vì khoa học đã thâm nhập vào mọi yếu tố của quá trình sản xuất, làm

QHSX được cấu thành từ 3 quan hệ. Đó là, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan
hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động.
Ba yếu tố của QHSX tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với LLSX.
Giữa chúng có sự tác động lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định.
Trong mỗi phương thức sản xuất, LLSX và QHSX là hai mặt có mối quan hệ biện chứng
tác động lẫn nhau, trong đó LLSX là nội dung - yếu tố quyết định, QHSX là hình thức - yếu tố bị
quyết định, nhưng có sự tác động trở lại LLSX. Quan hệ này biểu hiện thành quy luật cơ bản nhất
của nền sản xuất XH “ quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất”; đồng thời là cơ sở khoa học để xác lập các hình thức tổ chức kinh tế và cơ
chế vận hành của nền kinh tế.
Triết học Mác đã khẳng định, trong mối quan hệ giữa LLSX và QHSX, LLSX giữ vai trò
quyết định.
LLSX quyết định sự hình thành QHSX. Biểu hiện trình độ LLSX như thế nào thì QHSX
phải như thế ấy để đảm bảo sự phù hợp với nó.
LLSX còn quyết định sự biến đổi QHSX. Biểu hiện đó là, quá trình sản xuất XH luôn biến
đổi, bắt đầu từ sự biến đổi và phát triển của LLSX. Cụ thể là, từ sự biến đổi của công cụ lao động,
làm thay đổi trình độ, kĩ năng, kinh nghiệm...của người lao động; làm thay đổi đối tượng lao động,
thay đổi tính chất sử dụng tư liệu sản xuất. Trong khi đó, QHSX mang tính ổn định tương đối,
thay đổi chậm hơn. Vì vậy, tạo nên mâu thuẫn giữa LLSX phát triển với QHSX lạc hậu. Khi đó,
QHSX hiện tại sẽ cản trở sự phát triển của LLSX. Cho nên, muốn LLSX tiếp tục phát triển thì
phải thay đổi QHSX cũ bằng QHSX mới phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX.
QHSX phù hợp với LLSX khi nó tạo ra những tiền đề, điều kiện cho các yếu tố của LLSX
như người lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động kết hợp với nhau một cách thuận lợi để
cho sản xuất diễn ra bình thường. Cụ thể là phải thiết lập một QHSX sao cho nơi nào có đối tượng
lao động thì phải có người lao động và người lao động phải được sử dụng đối tượng lao động để
sản xuất; đồng thời công cụ lao động phải tương ứng với trình độ, kĩ năng của người lao động.

8



kinh tế cao.
Trong giai đoạn hiện nay để phát triển LLSX, chúng ta cần phải:
CNH, HĐH đất nước;
Phát triển khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ;
Phát triển nguồn lực con người. cụ thể là nâng cao dân trí, phát triển mạnh giáo dục đào
tạo và văn hóa;
Phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN;
Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước;
Mở rộng quan hệ quốc tế.
Liên hệ ?
Khi trình độ LLSX còn thủ công thì tính chất của nó là cá nhân. Nó thể hiện ở
chỗ chỉ một người có thể sử dụng được nhiều công cụ khác nhau trong quá trình sản
xuất để tạo ra sản phẩm. Khi sản xuất bằng máy ra đời trình độ LLSX công nghiệp thì
một người không thể sử dụng nhiều mà chỉ một công cụ, một bộ phận, chức năng, như
vậy quá trình sản xuất phải nhiều người tham gia, sản phẩm lao động là thành quả của

9


nhiều người.
Là một chuyên viên PGD &ĐT cá nhân tôi phụ trách mảng CNTT, như trên phân tích khi
TLSX càng hiện đại bao nhiêu thì LLSX phải đáp ứng được hoặc phải chủ động làm chủ được bấy
nhiêu. Với chức năng quản lý chuyên môn tin học cá nhân tự nhận định được : Phương tiện CNTT
( máy tính) là những công cụ rất hiện đại mà nước ngoài( các nhà khoa học) đã nghiên cứu ra và
hiện tại mình đang sở hữu nó vận dụng nó, để sử dụng hết chức năng của nó thật vô vàn, nhận
định được điều này cá nhân tôi luôn phải nghiên cứu, tìm tòi và cuối cùng tìm ra lập luận để vận
dụng cho các cấp trường học Mầm non, TH , THCS trong huyện.
Muốn được theo như ý muốn thì cần phải xâu sát cơ sở( tầng cấp học) xem tình hình thực
tế về TLSX ( máy tính ) của cấp học đó như thế nào ? con người (LLSX) sử dụng đang ở trình độ
ra sao để có phương hướng đào tạo, chỉnh sửa ..nhằm giúp các đơn vị vận dụng đúng trúng mục

Theo triết học Mác, tồn tại xã hội (TTXH) là phạm trù chỉ đời sống vật chất cùng toàn bộ
những điều kiện sinh hoạt vật chất và quan hệ vật chất của xã hội. Tồn tại xã hội bao gồm các yếu
tố: phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên - hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số.
Trong đó, phương thức sản xuất là yếu tố quan trọng nhất, vì phương thức sản xuất vật chất là cơ
sở khách quan để xác lập và duy trì sự tồn tại của xã hội.
Ý thức xã hội (YTXH) là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm toàn bộ những quan
điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng... của những cộng đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại
xã hội của họ và phản ánh tồn tại xã hội đó trong những giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định.
Ý thức xã hội là một hiện tượng phức tạp, được xem xét ở các góc độ khác nhau. Như, phân
loại theo nội dung và lĩnh vực phản ánh, YTXH bao gồm ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý
thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ. Theo mức độ khái quát YTXH bao gồm ý thức
thông thường, ý thức lý luận. Theo trình độ phản ánh, YTXH bao gồm tâm lý XH và hệ tư tưởng.
Tâm lý xã hội là hiện tượng tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm toàn bộ những tình
cảm, tâm trạng, thói quen, tập quán... của con người, của một bộ phận xã hội hoặc của toàn xã hội
được hình thành một cách tự phát dưới tác động trực tiếp của điều kiện sống hàng ngày của họ,
phản ánh điều kiện sống, cũng như bản thân đời sống đó.
Từ khái niệm cho thấy, tâm lý XH là sự phản ánh trực tiếp, tự phát điều kiện sinh sống
hàng ngày của con người nên còn mang nặng dấu ấn kinh nghiệm. Gắn chặt với xúc cảm, tình
cảm, phong tục, tập quán nên tồn tại dai dẳng. Mặt khác, tâm lý xã hội rất đa dạng, phong phú,
phức tạp, dễ lây lan và biến đổi thường xuyên.
Hệ tư tưởng là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hoá thành lý luận, thành các
học thuyết về xã hội, phản ánh lợi ích của một giai cấp nhất định như hệ thống quan điểm triết
học, chính trị, pháp luật, kinh tế...
Khác với tâm lý xã hội, hệ tư tưởng là những tư tưởng, quan điểm đã được khái quát thành
học thuyết từ sự phản ánh gián tiếp. Trong xã hội có giai cấp, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị
luôn là hệ tưởng thống trị xã hội. Trong thực tế hệ tư tưởng phản ánh tồn tại xã hội có hai khả
năng:
P/ánh đúng tồn tại xã hội là hệ tư tưởng khoa học
P/ánh sai tồn tại xã hội là hệ tư tưởng phản khoa học.
Theo quan điểm triết học Mác, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội phản

Tuy nhiên, khi nói, tư tưởng tiên tiến có thể vượt trước tồn tại xã hội dự kiến được quá trình
khách quan của sự phát triển xã hội thì không có nghĩa là trong trường hợp này ý thức xã hội
thoát ly khỏi tồn tại xã hội, không còn bị tồn tại xã hội quyết định nữa.lại, tư tưởng khoa học tiên
tiến vẫn gắn chặt với tồn tại xã hội, phản ánh chính xác, sâu sắc tồn tại xã hội.
Trong thực tế sự vượt trước của YTXH so với TTXH có hai khả năng xảy ra
Vượt trước nhưng phản ánh phù hợp với quy luật vận động của TTXH (nhận thức đúng) thì
đó là sự vượt trước khoa học sẽ thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển.
Vượt trước nhưng phản ánh không phù hợp với quy luật của TTXH gọi là sự vượt trước
mang tính ảo tưởng (nhiều khi xuất phát từ tình cảm chủ quan thuần tuý) sẽ kìm hãm sự phát triển
của TTXH.
Ba là, ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển
Kế thừa là một quy luật khách quan trong sự vận động phát triển của các sự vật, hiện
tượng. Không có sv, ht nào trong quá trình vận động, phát triển lại bắt đầu từ mảnh đất trống
không mà bao giờ cũng có sự tiếp thu, kế thừa những yếu tố nhất định.Vì vậy, trong quá trình vận
động phát triển, YTXH của mỗi thời đại không chỉ phản ánh TTXH của thời đại đó, mà luôn có sự
kế thừa những tư tưởng, giá trị văn hoá của các thế hệ trước, thời đại trước để lại. Thí dụ, chủ
nghĩa Mác đã kế thừa những tinh hoa tư tưởng của loài người mà trực tiếp là nền triết học cổ điển
Đức, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp
Sự kế thừa YTXH trong xã hội có giai cấp luôn mang tính g/c. Nội dung kế thừa do mục
đích và lợi ích của g/c chi phối, quyết định. Các g/c tiên tiến kế thừa những di sản tư tưởng tiến bộ
của XH cũ để lại. Thí dụ, khi làm cuộc cách mạng tư sản chống phong kiến, các nhà tư tưởng của
giai cấp tư sản đó khôi phục những tư tưởng duy vật và nhân bản của thời đại cổ đại. Ngược lại,
những g/c lỗi thời, phản động lại khôi phục những tư tưởng phản tiến bộ của các thế hệ trước.
Bốn là, sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng

12


Ý thức xã hội bao gồm nhiều bộ phận, nhiều hình thái ý thức khác nhau, trong quá trình
tồn tại, một mặt, các hình thái YT luôn bị qui định bởi tồn tại xã hội, mặt khác, giữa các hình thái

Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, trong đó yêu cầu phát
triển kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu để tạo tồn tại xã hội mới. Trên thực tế, để phát triển kinh tế
phải phát huy vai trò của tinh thần, văn hoá (phải có tri thức kinh tế, tri thức khoa học kỹ thuật...).
Vì vậy, cùng với phát triển kinh tế phải nâng cao đời sống tinh thần, nâng cao đạo đức, tư tưởng.
Phải đẩy mạnh cách mạng tư tưởng văn hoá, bằng việc từng bước làm cho chủ nghĩa Mác
– Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tinh thần xã hội;đồng thời nâng cao tri thức văn hoá,
khoa học làm động lực phát triển kinh tế.
Liên hệ? (tập trung vào liên hệ thực tiễn việc xây dựng đạo đức mới, tư tưởng mới như:
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng các giá trị đạo đức mới, đưa
pháp luật vào quần chúng, nâng cao trình độ dân trí; xoá bỏ tư tưởng lạc hậu... ở ngành, địa
phương, đơn vị)

13




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status