BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
ĐÀM TRẦN HẢI
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN
TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH PHÚC YÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ
QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
ĐÀM TRẦN HẢI
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN
TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH PHÚC YÊN
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SỸ
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.3.3. Nội dung nâng cao hiệu quả huy động vốn ................................... 25
1.3.4. Nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân
hàng thương mại : .................................................................................... 34
Chương 2 :THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI BIDV CHI
NHÁNH PHÚC YÊN .................................................................................................. 41
2.1. KHÁI QUÁT VỀ BIDV CHI NHÁNH PHÚC YÊN: .............................. 41
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của BIDV Phúc Yên : ................. 41
2.1.2. Mô hình tổ chức : ............................................................................... 42
2.1.3. Những hoạt động cơ bản của BIDV Phúc Yên : ................................ 43
2.1.4 .Tình hình hoạt động kinh doanh tại BIDV Phúc Yên: ...................... 45
2.1.4.1. Tình hình chung của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn từ năm
2013-2015: ............................................................................................... 45
2.1.4.2. Tình hình hoạt động của BIDV Phúc Yên giai đoạn 2013-2015: .. 46
2.2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI BIDV PHÚC
YÊN:................................................................................................................. 48
2.2.1. Quy mô, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn ............................................. 49
2.2.2. Cơ cấu nguồn vốn .............................................................................. 50
2.2.2.1. Cơ cấu nguồn vốn theo hình thức huy động: .............................. 50
2.2.2.2. Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn: .................................................. 50
2.2.2.3. Cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền: ................................................ 52
2.2.3. Chi phí huy động vốn: ........................................................................ 54
2.3. ĐÁNH GIÁ VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI BIDV PHÚC YÊN:55
2.3.1. Những kết quả đạt được: .................................................................... 55
2.3.2. Hạn chế: ............................................................................................. 57
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN
TẠI BIDV PHÚC YÊN .............................................................................................. 59
3.1.ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG
Thành công nổi bật nhất của ngành ngân hàng trong thời gian qua là đã cung cấp
cho nền kinh tế một lượng vốn lớn nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh,
xây dựng cơ sở hạ tầng... chính vì vậy mà hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại thông qua các nghiệp vụ tiền tệ - tín dụng, thanh toán... là nhân tố tác
động trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp cũng như các tổ chức, cá
nhân trong đời sống xã hội. Từ khi ngân hàng hình thành thì huy động vốn và
đầu tư vốn luôn luôn là một cặp phạm trù của tăng trưởng kinh tế, nhưng muốn
có vốn để đầu tư thì ngân hàng phải huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau.
Hoạt động trong một môi trường cạnh tranh vô cùng sôi động và quyết liệt với
việc xuất hiện rất nhiều các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng
nước ngoài,... Để chiến thắng trong cạnh tranh, nhất là trong việc thu hút nguồn
vốn phục vụ kinh doanh, các NHTM cần phải mở rộng huy động vốn để thoả
mãn tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc thù với những sản phẩm dịch vụ
đặc thù nơi mà vốn chủ sở hữu chiếm tỷ lệ nhỏ so với lượng vốn hoạt động do
vậy huy động được càng nhiều vốn từ các chủ thể khác trong nền kinh tế thì hoạt
động của các ngân hàng càng được thực hiện một cách dễ dàng hơn. Có huy
động được thì ngân hàng mới có vốn để cho vay và thực hiện các hoạt động khác
một cách hiệu quả từ đó đẩy mạnh hơn nữa hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
1
Chính vì vậy ngày nay các ngân hàng đua nhau nâng lãi suất để tăng cường huy
động vốn. Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đã và đang tạo ra rất nhiều thách
thức cho các NHTM Việt Nam. Một thực tế cho thấy hiện nay các NHTM Việt
Nam đang rất thiếu vốn do khả năng cạnh tranh trong việc huy động vốn còn hạn
chế và chất lượng của các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ cũng chưa thực sự đáp ứng
được nhu cầu cho khách hàng từ đó dẫn tới hiệu quả kinh doanh còn thấp.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nói trên tôi quyết định lựa
Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Chi nhánh Phúc Yên
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Chi nhánh
Phúc Yên.
3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI :
1.1.1. Khái niệm :
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền
kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Có thể định
nghĩa Ngân hàng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, qua chức năng, qua các
dịch vụ hoặc qua vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Tuy nhiên các
yếu tố trên luôn không ngừng thay đổi. Trong thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính
đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của Ngân hàng, và để đối phó với các đối thủ
cạnh tranh cũng như đáp ứng được xu thế phát triển chung của thế giới, các
Ngân hàng cũng đang mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ của mình như về bất
động sản, môi giới chứng khoán và tham gia hoạt động bảo hiểm. Cách tiếp cận
thận trọng nhất là định nghĩa Ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch
vụ mà chúng cung cấp. “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp
một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm
và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất
kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế “.
Có thể đưa ra khái niệm: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động
chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn
trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán.
Vậy, NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ- tín
5
chức năng này ngân hàng sẽ giảm phí thanh toán cho khách hàng, tạo điều kiện
cho quá trình thanh toán được tiến hành nhanh gọn, kịp thời, chính xác, tránh
được rủi ro và có điều kiện huy động tiền gửi của xã hội, trước hết là của các
doanh nghiệp tới mức tối đa, tạo nguồn vốn cho vay, đầu tư và đẩy mạnh hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
1.2.2.3. Chức năng tạo tiền:
Một trong những phát minh có giá trị nhất trong lịch sử hoạt động tiền tệ là
việc các chủ ngân hàng nhận thấy giấy chứng nhận tiền gửi, tín phiếu được
khách hàng sử dụng để chi trả các khoản nợ. Vì vậy mà vàng đã chuyển đổi ra
tiền giấy và được các ngân hàng đưa vào lưu thông qua nghiệp vụ tín dụng để
thay thế cho tiền vàng hoặc bạc.
Hoạt động “tạo tiền” của NHTM được thực hiện bằng cách chuyển khoản
hay bút tệ để thay thế cho tiền mặt. Hoạt động này được NHTM nhân lên gấp bội
khi ngân hàng cho vay thông qua cơ chế thanh toán chuyển khoản giữa các ngân
hàng. Sức tạo tiền của NHTM phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ
dôi dư giữa tiền gửi lưu thông ngoài ngân hàng và tiền gửi của xã hội ở hệ thống
ngân hàng. Như vậy NHTM đã góp phần thoả mãn nhu cầu dùng tiền làm
phương tiện giao dịch của toàn xã hội.
Tóm lại những chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ
trợ cho nhau. Khi NHTM là trung gian tín dụng thì NHTM sẽ huy động vốn
bằng nhiều cách thức khác nhau. Qua đó ngân hàng sẽ tập chung một lượng vốn
nhàn rỗi từ các thành phần kinh tế và sử dụng chúng để cho vay đối với những
người có nhu cầu vay vốn. Khi các bên có nhu cầu thanh toán, chi trả ngân hàng
sẽ đứng ra làm trung gian thanh toán. Khi vai trò trung gian thanh toán làm tốt,
khách hàng sẽ tin tưởng ngân hàng và gửi tiền ngày càng nhiều vào ngân hàng
Thêm nữa, với vai trò trung gian thanh toán, NHTM đã thực hiện các dịch
vụ thanh toán cho nền kinh tế từ đó thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển hàng
hoá, luân chuyển vốn trong xã hội, tiết kiệm chi phí thanh toán cho từng cá nhân,
doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Đồng thời, Ngân hàng
giám sát được các hoạt động kinh tế góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh
lành mạnh, tạo ra sự ổn định trong đời sống xã hội.
1.1.3.2. NHTM là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW:
Để thực hiện chính sách tiền tệ, NHTW phải sử dụng các công cụ để điều
tiết lượng tiền trong lưu thông. Phần lớn các công cụ thuộc chính sách tiền tệ chỉ
được thực thi có hiêụ quả với sự hợp tác tích cực của các NHTM như việc chấp
hành quy định dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt, việc
nâng cao hiệu quả cho vay và đầu tư. Thông qua hệ thống Ngân hàng, NHTW
phát hành thêm tiền vào lưu thông, thực hiện các chính sách tín dụng, chính sách
tỷ giá, chính sách lãi suất của Nhà nước để điều tiết các hoạt động của nền kinh
tế. Hệ thống Ngân hàng trực tiếp cấp tín dụng cho nền kinh tế vì thế nó là tác
nhân quan trọng nhất ảnh hưởng đến sức mua của nền kinh tế, tạo ra phương tiện
thanh toán để lưu thông hàng hoá và các dịch vụ do nền kinh tế tạo ra.
1.1.3.3. NHTM là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế:
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay,
vai trò này của hệ thống Ngân hàng càng được thể hiện rõ nét. Thông qua các
nghiệp vụ kinh doanh của mình như: Thanh toán quốc tế, nghiệp vụ hối đoái, cho
vay, uỷ thác đầu tư. Hệ thống Ngân hàng đã giúp cho quan hệ thanh toán giữa
các quốc gia trở nên thuận tiện, nhanh chóng, giúp đẩy nhanh các quan hệ
thương mại đưa nền tài chính trong nước vận động hoà nhịp với nền tài chính
8
quốc tế. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết cho việc hội nhập kinh tế
thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng
nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tế
phát triển. Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định đến sự tồn tại và
phát triển kinh doanh của ngân hàng. Nhìn chung vốn chi phối toàn bộ các hoạt
động và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của NHTM.
Sự lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế giống như mạch máu tuần hoàn
trong cơ thể con người. Hệ thống ngân hàng được ví như con kênh thu hút cung
ứng tiền cho hoạt động kinh tế. Nguồn tiền của ngân hàng cũng được hình thành
dưới nhiều hình thức khác nhau. Mỗi loại đều có tính chất và vai trò riêng trong
tổng nguồn vốn hoạt động của NHTM.
1.2.2.1. Nguồn vốn tự có:
Vốn tự có của NHTM là bộ phận vốn riêng của ngân hàng, nó thuộc quyền
sở hữu của ngân hàng. Cũng như mọi tổ chức kinh tế khác. Đây là một yêu cầu
bắt buộc khi thực hiện việc kinh doanh. Vốn tự có bằng phần chênh lệch giữa
tổng tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng, vốn tự có của ngân hàng thường
được đầu tư vào các tài sản có thời hạn dài như: tài sản cố định (TSCĐ), các
khoản cho vay trung và dài hạn, các khoản đầu tư chứng khoán dài hạn...
Vốn tự có của NHTM được chia thành các khoản mục: Vốn điều lệ, vốn tự
có bổ sung và các quỹ của ngân hàng, trong đó:
- Vốn điều lệ: là vốn tự có ban đầu khi thành lập ngân hàng. Đối với mỗi
loại hình sở hữu ngân hàng, vốn điều lệ có nguồn gốc khác nhau: vốn điều lệ do
ngân sách Nhà nước cấp đối với các NHTM quốc doanh, do các bên đóng góp
đối với các NHTM liên doanh, do các cổ đông đóng góp đối với các ngân hàng
10
cổ phần... vốn điều lệ của ngân hàng mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng
nguồn vốn hoạt động của NHTM nhưng nó còn thể hiện năng lực và xu thế phát
triển của ngân hàng.
11
1.2.2.2. Nguồn vốn huy động:
Đây là nguồn vốn chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn
của một NHTM, thông thường tỷ lệ này là 70%- 80%. Nguồn vốn huy động là
nguồn vốn không thuộc sở hữu của ngân hàng, được huy động qua tiền gửi của
các tổ chức kinh tế,cá nhân nhưng ngân hàng có quyền sử dụng tạm thời khoản
vốn này và cho vay đối với khách hàng để hưởng lãi, đồng thời ngân hàng phải
trả lãi cho người gửi tiền, khách hàng mua trái phiếu, kỳ phiếu một khoản tiền
bằng lãi suất huy động tính trên số tiền huy động. Ngoài ra ngân hàng phải có
trách nhiệm hoàn trả đúng hạn các khoản vốn này theo thoả thuận giữa khách
hàng và ngân hàng. Nguồn vốn huy động có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng vì đây là nguồn vốn cơ bản để ngân hàng dùng
cho vay, qua đó thu lợi nhuận. Chính nguồn vốn huy động qui định nét đặc trưng
của kinh doanh ngân hàng so với các thành phần kinh tế khác. Nhưng nếu nguồn
vốn huy động không chiếm được tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn thì trung
gian tài chính này sẽ chuyển sang một hình thức khác biệt. Ví dụ Công ty tài
chính có vốn bằng cách đóng góp vốn của các cổ đông hoặc phát hành kỳ phiếu,
trái phiếu, đó là những khoản tiền lớn. Hay công ty bảo hiểm có vốn bằng phí
bảo hiểm... ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính huy động vốn theo cách
riêng của mình, điều này được quy định qua pháp luật về các loại hình kinh
doanh tiền tệ. Vì vậy nghiệp vụ huy động vốn cũng là nghiệp vụ quan trọng và
đặc trưng của NHTM.
1.2.2.3. Nguồn vốn đi vay:
Đây là nguồn vốn được hình thành bởi các mối quan hệ giữa các tổ chức tín
dụng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín dụng với NHTW. Nguồn vốn này bao
12
Nguồn vốn đi “vay nóng” này chỉ phát sinh khi ngân hàng tạm thời thiếu
vốn, chứ khoản đi vay này không phải là thường xuyên. cho nên trong thực tế
khoản vốn này chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh
của NHTM.
1.2.2.4. Nguồn vốn trong thanh toán:
Nguồn vốn trong thanh toán được ngân hàng tạo lập khi thực hiện làm trung
gian thanh toán giữa các đối tượng trong nền kinh tế, khi vốn tiền tệ nhàn rỗi
dưới các hình thức: Như chênh lệch giữa các thời điểm trích tài khoản người trả
và thời điểm nhập số tiền đó vào tài khoản người được hưởng, do khách hàng
phải lưu ký một lượng tiền nhất định để đảm bảo thanh toán với người được
hưởng trong một số hình thức thanh toán: séc bảo chi, thư tín dụng.
1.2.2.5. Nguồn vốn khác:
Ngoài các nguồn vốn trên NHTM còn có các nguồn vốn khác như:
- Vốn tài trợ, uỷ thác là khoản vốn ngân hàng nhận được từ Chính phủ, các
tổ chức chính trị, các ngân hàng lớn... tài trợ cho các dự án phát triển. Đối với
BIDV thì nguồn vốn này chiếm tỷ lệ đáng kể. Hiện nay, BIDV Việt Nam đã
thành lập một chi nhánh Sở giao dịch III để quản lý và cấp phát nguồn vốn này.
Việc giành một khoản vốn này làm đa dạng hoạt động ngân hàng và nâng cao tỷ
trọng cho vay trung và dài hạn. Mặt khác ngân hàng cũng nhận được khoản
chênh lệch lãi suất ngay cả khi ngân hàng đóng vai trò là người giải ngân. Điều
đó đòi hỏi các ngân hàng phải tăng cường mở rộng các mối quan hệ đối nội, đối
ngoại, tăng cường uy tín của mình để có thể tiếp nhận được nhiều nguồn vốn
này.
Tóm lại, mỗi loại vốn trong cơ cấu vốn của NHTM đều có tầm quan trọng
riêng và không thể thiếu được trong hoạt động kinh doanh và sự tồn tại của ngân
14
phạm vi cho vay ra trong vùng, trong cả nước, thậm chí ra thị trường quốc tế, thì
các ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi hẹp, chủ yếu là các hợp đồng
nhỏ lẻ. Hơn nữa, do khả năng về huy động vốn hạn hẹp nên các ngân hàng này
không phản ứng nhạy bén được với sự biến động của lãi suất đã ảnh hưởng đến
khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế.
Nếu khả năng vốn dồi dào thì chắc chắn ngân hàng sẽ có đủ điều kiện mở rộng
thị trường tín dụng và các dịch vụ ngân hàng.
1.2.3.3.Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân
hàng trên thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và phát triển vững mạnh, đ ̣i hỏi
các ngân hàng phải có uy tín lớn. Điều đó được thể hiện đầu tiên ở khả năng sẵn
sàng thanh toán, chi trả cho mọi nhu cầu của khách hàng. Khả năng thanh toán
của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn. Vì vậy, loại
trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn tự
có của ngân hàng. Với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng sẽ mở rộng được quy mô
hoạt động kinh doanh, nâng cao uy tín, thu hút được nhiều khách hàng đến gửi
tiền, thanh toán, và sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng.
1.2.3.4. Vốn quyết định năng lực cạnh tranh
Quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật hiện đại là tiền đề cho
việc thu hút nguồn vốn huy động, đồng thời có được nguồn vốn lớn lại là điều
kiện thuận lợi để ngân hàng mở rộng quan hệ kinh tế với các thành phần kinh tế
cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay,
thậm chí cả về lãi suất cho vay. Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng,
doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ có
16
nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Đây cũng là điều kiện để ngân hàng tăng
vốn tự có, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và quy mô hoạt động của ngân
thị trường của ngân hàng.
Có quan niệm cho rằng: Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được và
chi phí bỏ ra và chỉ khi nào đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện chi phí
thấp nhất mới được coi là có hiệu quả. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định kết
quả nào là cao nhất với chi phí thấp nhất là rất khó. Để đánh giá xem hoạt động
huy động vốn có hiệu quả hay không, các ngân hàng không chỉ quan tâm đến
việc đó huy động được bao nhiêu vốn mà còn quan tâm đến nhiều vấn đề khác
chẳng hạn: ngân hàng đó sử dụng những cách nào để huy động được số vốn đó?
chí phí huy động bao nhiêu? khả năng khai thác số vốn này để tài trợ cho các
hoạt động kinh doanh của ngân hàng như thế nào? tỷ trọng các loại vốn có hợp
lý không, có phù hợp với kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng không? Lợi
nhuận và rủi ro của ngân hàng khi tiến hành huy động ra sao?...
Từ nhận thức trên một định nghĩa đầy đủ hơn về hiệu qủa huy động vốn đã
được đưa ra đó là: Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại chính là
huy động vốn mà ngân hàng đạt được, phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn, đảm
bảo được mục tiêu an toàn và sinh lời cao của ngân hàng trong từng thời kỳ.
Như vậy, muốn đạt hiệu quả huy động vốn cao, ngân hàng cần bám sát
nhu cầu sử dụng vốn, huy động vốn không những đủ đáp ứng nhu cầu mà còn
phù hợp về cơ cấu kỳ hạn và loại tiền, với chi phí huy động thấp nhất. Đồng thời,
phải duy trì được tính ổn định cao của các nguồn tiền huy động. Có như vậy mới
hạn chế được rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất, và gia tăng lợi nhuận cho ngân
hàng. Đánh giá hiệu quả huy động vốn là việc làm cần thiết và quan trọng đối
18
với mỗi ngân hàng thương mại, nhất là trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay
gắt như hiện nay. Việc làm này giúp cho các ngân hàng thương mại thấy được
những điểm mạnh, điểm yếu của mình trong công tác huy động vốn, từ đó có
những điều chỉnh thích hợp nhằm phát huy thế mạnh, khắc phục điểm yếu và