văn mẫu hãy làm rõ giá trị hiện thực nhân đạo trong tác phẩm vợ chồng a phủ - Pdf 38

Đề bài: Qua cu ộc đời hai nhân v ật M ị và A
Ph ủ, hãy làm rõ giá tr ị hi ện th ực nhân đạo
trong tác ph ẩm V ợch ồng A Ph ủ
Bài làm 1:
Văn xuôi giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) thực sự là một quá trình thí nghiệm, kiếm tìm
sự phù hợp mới giữa nghệ thuật và đời sống. Thời gian ngắn, số lượng tác phẩm còn lại được đến hôm
nay không nhiều, nhất là ở hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn. Chúng ta đặc biệt trân trọng những
phẩm kết tinh được bước phát triển của chặng đường văn học đặc biệt này, trong đó có truyện ngắn xuất
sắc Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài.
Vợ chồng A Phủ vừa là thành tựu tương đối hiếm hoi của văn xuôi kháng chiến, vừa ghi dấu sự trưởng
thành của ngòi bút Tô Hoài trong sự chiếm lĩnh mảng đề tài miền núi, một đề tài tới nay vẫn còn nhiều
mới lạ với bạn đọc. Truyện được tổ chức chặt chẽ, dẫn dắt rất dung dị, tự nhiên, không cần chạy theo
những chi tiết li kì rùng rợn mà vẫn có sức hút mạnh mẽ. Có được điều đó chính là nhờ ở cái nhìn hiện
thực sắc bén và chủ nghĩa nhân đạo tích cực của nhà văn. Sự thể hiện cuộc đời hai nhân vật trung tâm
từ bóng tối đau khổ, ô nhục vươn ra ánh sáng của tự do và nhân phẩm, đã chứng minh rất rõ điều đó.

Giá trị hiện thực nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ
Cô Mị xinh đẹp, chăm làm nhưng nghèo khổ, có thể nói “khổ từ trong trứng”. Bố mẹ nghèo, cưới nhau
không có tiền phải vay nợ nhà thông lí. Nợ chưa trả hết, người mẹ đã qua đời. Bố già yếu quá, món nợ
truyền sang Mị. Thống lí Pá Tra muốn Mị làm con dâu “gạt nợ”. Mà quan trên đã muốn, kẻ dưới làm sao
thoát được ! Pá Tra xảo quyệt, lợi dụng tục lệ của người Mèo, cho cướp Mị về. Thế là không có cưới hỏi,
không cần tinh yêu mà vẫn hoàn toàn hợp lẽ. Có ai dám bênh vực Mị ! Ngòi bút hiện thực tỉnh táo của Tô


Hoài đã phanh trần bản chất bóc lột giai cấp ẩn sau những phong tục tập quán. Cô Mị, tiếng là con dâu
nhưng thực sự là một nô lệ, thứ nô lệ người ta không phải mua mà lại được tha hồ bóc lột, hành hạ. Mị ở
nhà chồng như ở giữa địa ngục. Không có tình thương, không sự chia sẻ vợ chồng; chỉ có những ông chỉ
độc ác, thô bạo và những nô lệ sống âm thầm, tăm tối. Dần dần rồi Mị cũng quên luôn cả mình là người
nữa.
Suốt ngày “Mị lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, lúc nào cũng có mặt, thế giới của Mị thu hẹp trong
một cái ô cửa sổ “mờ mờ trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”. Kết quả của hoàn cảnh sống

trong xã hội cũ.
Nhưng, nếu nói giá trị hiện thực của lác phẩm Vợ chồng , A Phủ mà chỉ phân tích khía cạnh phơi bày, tố
cáo, phê phán thông qua những cảnh ngộ bi thảm của người dân lao động là còn chưa đủ. Nhiều tác
phẩm hiện thực phê phán sâu sắc vẫn bị xem như có hạn chế trong tầm nhìn và bởi thế, giá trị hiện thực
sẽ không được toàn vẹn. Tô Hoài, trong khi đào sâu vào hiện thực đã phát hiện ra con đường tất yếu mà
các nhân vật của ông đi tới. Sự đè nén quá nặng nề, những đau khổ chồng chất mà bọn thống trị gây ra


tất sẽ dồn những kẻ khốn cùng ấy tới sự chống trả. Và nếu gặp được ánh sáng soi đường, họ sẽ đến
được thắng lợi (Tô Hoài có cái may mắn là viết Vợ chồng A Phù sau Cách mạng tháng Tám). Tất nhiên
nhà văn phải có con đường riêng cho sự thể hiện chân lí đơn giản ấy. Lấy việc miêu tả tâm lí làm điểm
tựa vững chắc, Tô Hoài đã tìm ra được sự phát triển lôgich của các tính cách. Chúng tôi nghĩ đây mới
thực sự là giá trị hiện thực độc đáo của tác phẩm, và là chỗ có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất. Tô Hoài
đã chỉ ra sự hợp lí của quá trình tha hoá nhân cách ở Mị thời kì đầu. Mị làm việc nhiều quá, bị đày đoạ
khổ ải quá, mãi rồi Mị phải “quen”, phải cam chịu, Lúc trước Mị không được quyền tự tử vì sợ liên lụy tới
bố; giờ bố đã chết, nhưng Mị không còn muốn tự tử nữa. Mị như một cái máy không ý thức, không cảm
xúc, ước ao… Liệu cô ta có thể tỉnh thức được nữa không? Nhà văn trả lời: có. Nếu đã có một hoàn
cảnh làm tê liệt lâm hồn con người thì cũng sẽ có một hoàn cảnh đánh thức được nó. Hoàn cành nào
đây? Phép màu nào đây? Kì diệu thay và cũng giản đơn thay, đó chính là tiếng sáo Mị tình cờ nghe được
giữa một ngày mùa xuân đầy hương sắc. Tất cả chợt sống đậy. Mị thấy lòng “thiết tha bồi hồi” và lập tức
nhớ lại cả quãng đời niên thiếu tươi đẹp. Có gì lạ đâu nhỉ? Thanh niên Mèo ai chả yêu tiếng sáo, mà Mị
lại là cô gái thổi sáo giỏi. Hơn nữa, tiếng sáo đang dập dờn ngoài kia lại nhắc đến tình yêu, “gọi bạn yêu”,
nó thức dậy trong sâu thẳm lòng cô khát vọng yêu đương và hạnh phúc. Như vậy tiếng sáo lay động
chính cái sức mạnh bền vững, bất diệt nhất của luổi trẻ. Mị nhớ lại rành rõ “mình vẫn còn trẻ lắm”, rằng
“bao nhiêu người có chồng vẫn đi chơi xuân”. Và bên tai Mị cứ “lững lờ” tiếng sáo! Sự bừng tỉnh từ sâu
xa trong tâm hồn ấy biểu hiện bên ngoài bằng hành động mới nhìn rất lạ: “Mị lén lấy hũ rượu cứ uống
ừng ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đầy”. Có ngọn lửa nào đang cần phải khơi lên hay cần phải
dập tắt đi bằng hơi men vậy? Chỉ biết rằng cô gái đã quả quyết thay váy áo để đi chơi, điều mà bao nãm
rồi, cô không nhớ đến. Có thể coi đây là một bước đột biến tâm lí nhưng là kết quả hợp ư của toàn bộ
quá trình tác động qua lại giữa cảnh với tính cách nhân vật. Sự “vượt rào” của Mị tuy bị đàn áp ngay (A

lắm mới có thể xét đoán tâm hồn người ta tinh tế như vậy. Tôi cứ nhớ mãi hình ảnh cô Mị lần tìm về quỳ
lạy trước mặt bố mà khóc nức nở. Đứa con chưa kịp nói gì, người cha đã biết: “Mày về quỳ lạy lao để
mày chết đấy à? Không được đâu con ơi”. Mị ném nắm lá ngón xuống đất, quay trở lại chốn địa trần
gian. Phải, cô gái ấy vốn có một nhân cách đáng trọng. Cô thà chết khỏi sống khổ sống nhục, nhưng lại
phải chấp nhận sống khổ nhục còn hơn bất hiếu với cha. Chính Mị, khi còn rất trẻ đã biết xin bố: “Con
nay đã lớn rồi, sẽ thay bố làm nương trả nợ. Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Đó là con người biết yêu
quý tự do, biết khẳng định quyền sống. Ngay cả lúc bị hoàn cảnh vùi dập đến mê mụ, trong tro tàn của
lòng cô vẫn còn âm ỉ đốm than hồng của niềm ham sống, khát khao thương yêu. Nếu nhà văn chỉ tuân
theo một thứ hiện thực khách quan lạnh lùng thì làm sao ông có thể đón đợi và nắm bắt tài tình giây phút
sống lại bất ngờ và mãnh liệt đến thế của cô gái. Không, trước sau ông vẫn tin rằng hoàn cảnh dẫu có
khắc nghiệt đến mấy, cũng không thể tiêu diệt hoàn toàn nhân tính. Mị đã sống lại băng luổi trẻ, bằng nổi
day dứt về thân nhân của mình. Chính cái khát vọng sống mãnh liệt không thể chết được ở Mị, làm cho
Mị đồng cảm với cảnh ngộ của A Phủ và đi đến quyết định giải thoát cho A Phủ, giúp Mị tự giải thoát khỏi
cái chốn địa ngục để làm lại cuộc đời, để được sống như một con người.
Tô Hoài đã trân trọng từng bước trưởng thành của Mị và A Phủ. Cái nhìn của ông về hai nhân vật này là
một cái nhìn nhân đạo tích cực. Ông cảm thông nỗi đau của Mị và A Phủ. Cái nhìn của ông về hai nhân
vật này là một cái nhìn tích cực. Ông cảm thông nỗi đau của Mị và A Phủ, mặt khác ông trân trọng ý thức
nhân phẩm, khát vọng giải phóng và tin ở khả năng tự làm chủ trước cuộc đời của hai con người đau khổ
này. Phải chăng, chính cái nhìn đó đã tạo nên giá trị của tác phẩm?.
Bài làm 2:

Giá tr ị nhân đạ o và giá tr ị hi ện th ực c ủa
“V ợ ch ồng A Ph ủ” và “V ợ nh ặt”
1, Với vợ chồng A phủ tác giả Tô Hoài đã vẽ lại chân thực cái không khí ngột ngạt của một vùng quê
Tây Bắc trước cách mạng. Ở đó có đủ cả các giai tàng xã hội: có địa chủ phong kiến (ở đó gọi là thống
lý), có giai cấp lao dộng (A Phủ) và một lớp người trong giai cấp lao động đó là người phụ nữ (tiêu biểu là
nhân vật Mị); có cả ánh sáng cách mạng và một lũ cầm cờ chaỵ hiệu tay sai.Ở đó hiện lên một cái không
khí quánh đặc lại của một màu xámư xin xỉn và tăm tối như cái bóng đêm trong Chị Dậu.
Tô Hoài đã diễn tả được lại những khó khan trong cuộc sống của người lao đông trong xã hội cũ thông
qua diễn biến tâm trạng cua Mị. Cô Mị là nhân vật trung tâm, là cành, là nhánh, là gốc rễ của vợ chồng A


Phân tích giá tr ị hi ện th ực và nhân đạ o c ủa
truy ện ng ắn V ợ nh ặt ( Kim Lân)
Gợi ý làm bài
Các ý chính:
1. Giới thiệu vắn tắt về Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt
Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn đặc sắc cuae nhà văn Kim Lân , in trong tập Con chó xấu xí. Vợ
nhặt có tiền thân là truyện Xóm ngụ cư – viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Bản thảo chưa in thì bị
thất lạc, sau này được tác giả viết lại.
2. Giá trị hiện thực của tác phẩm Vợ nhặt
– Bối cảnh của truyện ngắn Vợ nhặt là khung cảnh nông thôn Việt Nam vào một thời kì ngột ngạt và đen
tối nhất- đó là nạn đói năm Ất Dậu 1945. Bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật buộc người nông dân phải
nhổ lúa và hoa màu để trồng đay, phục vụ cho nhu cầu chiến tranh. Người dân các tỉnh ở đồng bằng Bắc
bộ lâm vào nạn đói khủng khiếp, gần hai triệu người chết đói. Hiện thực đau thương đó đã được phản
ánh trong nhiều truyện của Nguyên Hồng, Tô Hoài và thơ của Văn Cao… Nhà văn Kim Lân cũng góp
tiếng nói tố cáo của mình trong tác phẩm Vợ nhặt.
– Đặc sắc nghệ thuật của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm Vợ nhặt là mặc dù không có một dòng nào tố
cáo trực tiếp tội ác của bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật, hình ảnh của chúng cũng không một lần xuất
hiện, nhưng tội ác của chúng vẫn hiện lên một cách rõ nét. Khung cảnh làng quê ảm đạm, tối tăm. Những
căn nhà úp súp . Những xác chết nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác
rưởi và mùi gây của xác người…


– Cuộc sống của người nông dân bị đẩy đến bước đường cùng. Tính mạng của con người lúc này thật rẻ
rúng, người ta “ nhặt” được vợ giống như nhặt cái rơm, cái rác ở bên đường. Thông qua tình huống
truyện lấy vợ của Tràng, Kim Lân không chỉ nói lên được thực trạng đen tối của xã hội Việt Nam trước
Cách mạng , mà còn thể hiện được thân phận đói nghèo, bị rẻ rúng của người nông dân trong chế độ xã
hội cũ ( Chú ý phân tích cảnh bữa cơm đón nàng dâu mới ở nhà Tràng vào thời điểm đói kém: giữa cái
mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối ăn với cháo…rồi nồi “ chè khoán” nấu bằng
cám.) Ở phần cuối của tác phẩm, những nhân vật nghèo khó này cũng khao khát sự đổi thay về số phận.

Cùng với tiếng sáo thiết tha, câu hát của chàng trai Hmông trong đêm tình mùa xuân càng trở nên bồi hồi


“ Mày có con trai con gái rồi
Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu”
Và những chiếc váy hoa của các cô gái trong các làng Hmông đỏ đem phơi nắng trên những mỏm đá”
xòe như con bướm sặc sỡ”. Chuyện thống lí Pá Tra và bọn chức việc Hồng Ngài xử kiện đánh con
quan… đã cho ta nhiều xúc động khi đọc truyện “ vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài. Truyện ngắn được rút
trong tập “ Truyện Tây Bắc” nó là kết quả của chuyến đi tháng 8/ 1952, khi nhà văn theo bộ đội vào giải
phóng Tây Bắc. Truyện không chỉ đặc sắc về giá trị về nội dung mà còn mang giá trị nhân đạo và hiện
thực rất sâu sắc. Sau sự vùng dậy của những tháng ngày đầy tủi nhục đau khôt cả máu và nước mắt của
Mị và A Phủ.
Trước hết để thấy được sự sâu sắc về giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm thì người đọc phải
hiểu thế nào là giá trị hiện thực và nhân đạo. Hiện thực chính là bức tranh cuộc sông với tất cả những gì
diễn ra như vốn có, còn nhân đạo là sự cảm thông sâu sắc mà ngòi bút của tác giả hướng tới trong tác
phẩm. Đặt trong bối cảnh của tác phẩm “ vợ chồng A Phủ” thì hiện thực được thể hiện rõ nhất trong nỗi
đau khổ đè nặng lên cuộc sống của người dân. Từ đó thấy được bộ mặt tàn ác dã man của chế độ xã hội
phong kiến miền núi. Bởi con người ở đây bị ràng buộc bởi thần quyền và cường quyền. Từ đấy thấy
được sự đấu tranh của con người để giải phóng bản thân, hướng tới hạnh phúc. Chính hiện thực và
nhân đạo như trên đã đem đến nét đặc sắc, giá trị to lớn cho tác phẩm.
Truyện làm xúc động bao người đọc bởi thực trạng nỗi đau khổ đè nặng lên cuộc sống của người dân lao
động nghèo trước cách mạng. Đó là những con người nghèo khổ lạc hậu bị áp bức, bị trà đạp nặng nề.
Trước khi về làm dâu nhà thống lí Pá Tra, Mị là một cô gái Mèo xinh đẹp thổi sáo hát hay có nhiều chàng
trai mê, co chăm chỉ hiếu thảo với cha già, trong cô luôn khát vọng về một cuộc sống tự do hạnh phúc.
Món nợ truyền kiếp do bố mẹ Mị lấy nhau không có tiền vay thống lí Pá Tra năm nào cũng phải trả lãi một
nương ngô, đó là sợ dây truyền oan nghiệt đối với Mị. Hạnh phúc không đến với Mị thời con gái. Mị đã bị
A Sử con trai thống lí Pá Tra bắt cóc về cúng trình ma. Mị trở thành con dâu gạt nợ cho nhà thống lí. Mị
làm dâu nhưng thực chất là nô lệ, vùi dập, chà đạp tước đi mọi quyền sống của con người, từ đây Mị

ách áp bức bóc lột của gia đình thống lí Pá Tra. Những con người giàu sức sống dần dần bị tê liệt sống
cam chịu và chấp nhận số phận. Mị sống âm thầm lặng lẽ thì A Phủ cũng vậy. Từ một chàng trai khỏe
khoắn táo bạo của núi rừng, A Phủ trở thành con người chỉ biết cam tam chịu đựng. Anh như con gnuwja
đóng cương không dám cãi lời chủ
Bên cạnh đó còn thấy được nỗi đau khổ đè nặng lên cuộc sống của người dân thì Tô Hoài còn cho bạn
đọc thấy sự phơi bày được bộ mặt tàn ác của xã hội phong kiến miền núi tiêu biểu đại diện là cha con
nhà thống lí Pá Tra. Sự tàn ác của chế độ phong kiến miền núi mà điển hình là cha con nhà thống lí Pá
Tra, những mảnh đòi bị vùi dập, cuộc sống của con người trở thành địa ngục trần gian. Cả hai nhân vật
Mị và A Phủ đều bị đày đọa, chà đạp bởi nguyên nhân sâu xa vẫn là hình thức cho vay nặng lãi. Mị thì bị
gạt nợ sống kiếp sống của con vật, A Phủ thì bị phạt nợ phải sống làm trâu là ngựa cho nhà thống lí. Cái
nạn cho vay nặng lãi đã cột chặt vào người nông dân mà không sao trốn thoát được. Nó hủy hoại cả
cuộc đời con người họ và là sợi dây oan nghiệt cho những thế hệ sau. Mị bị bắt cóc đem về “ cúng trình
mà”. Mị trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí. Bố Mị chỉ còn biết khóc và cất lời than “ chao ôi! Thế là
cha mẹ ăn bạc của nhà giàu từ kiếp trước, bây giờ người ta bắt bán con trừ nợ. Không thể nào làm khác
được rồi!”. Với danh nghĩa là con dâu hay người ở thì tất cả đều là nô lệ bị bóc lột sức lao động một cách
tàn bạo. Mị phải làm quần quật suốt đêm ngày, lúc hái củi, lúc bung ngô, lúc đi nương, lúc nào cũng gài
một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế! Đau khổ quá,
Mị như kẻ vô cảm vô hồn ngày “ càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Bao mùa xuân đã
trôi qua, Mị trưởng mình cũng là con trâu con ngựa “ chỉ biết ăn cỏ, chỉ biết đi làm mà thôi” như một linh
hồn chết “ Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa”. Hình ảnh Mị cúi mặt quay sợi đay bên tảng đã đầy ám ảnh,
gợi lên trong lòng ta nhiều thương xót mênh mông về một kiếp người on khổ- con dâu gạt nợ. Sự bóc lột
tàn ác ấy đâu chỉ riêng với Mị, còn với A Phủ phải cam chịu với thân phận làm nô lệ. Khi bị bọn thống lí
Pá Tra đánh đập và cúng trình ma, xong anh anh phải cam chịu đi giết lợn làm cỗ để khoản đãi những kẻ
đã hành hạ mình. Với bản chất của anh hùng vùng núi cao vậy mà anh phải chấp nhận làm tất cả công
việc nặng nhọc trong nhà thống lí “đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn
ngựa, quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng” nhưng dường như trong suy
nghĩ của anh không hề có ý định chạy trốn. Trong nhà thống lí Pá Tra, A Phủ bị bọc lột đến tàn nhẫn,
chúng cho anh sống thì được sống, bắt anh chết thì phải chết. Chỉ vì đánh mất con bò mà A Phủ bị trói
đến gần chết. Có lẽ thân phận nô lệ được bộc lộ rõ nhất trong cảnh A Phủ bị trói nhiều ngày trên núi cao
chịu đau, chịu đói, chịu rét. Nếu không có Mị cắt dây trói chắc A Phủ sẽ phải chết trên cái cọc ý.

Tra, Mị không còn cách nào khác chỉ biết sống tiếp “nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi chỉ còn biết đợi
ngày rũ xương ở đây thôi” và từ đấy Mị sống trong danh nghĩa là con dâu nhưng thực chất là thân phận
nô lệ.
Chính nỗi đau bất hạnh của Mị và A Phủ cùng với sự tàn nhẫn độc ác của cha con thống lí Pá Tra đã làm
thức dậy tinh thần phản kháng của người đàn bà yếu đuối. Tình thương tiềm ẩn trong Mị không chết,
cũng như sức sống của Mị không thể bị tê liệt hoàn toàn. Trong đêm đông rẻo cao ấy sức sống của Mị đã
hồi sinh khi Mị bắt gặp dòng nước mắt của A Phủ “ một ngọn lửa sưởi vừa bùng lên Mị né mắt trông
sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước lấp lánh đang bò xuống hai hõm má xám đen
lại”. Giọt nước mắt của người đàn ông tràn đầy sức sống giàu can đảm nhưng ở đây đang ở thết tuyệt
vọng và oan ứ đã có tác động sâu sắc tới Mị. Giọt nước mắt ấy đã khiến Mị từ cõi quên đến cõi nhớ. Nhớ
lại A sử đã trói Mị không quên cảm giác uất hận đau đớn và từ đây trái tim Mị không cô đơn nữa. Mị đã
thấy được kẻ thù “ chúng nó thật độc ác” quá phẫn lộ “ cơ chừng này chỉ đêm mai người kia sẽ chết,chết
đau, chết đói, chết rét, phải chết”. Cách ngắt nhịp ngắn và điệp từ “ chết” đã diễn tả những căm phẫn và
xót thương đang ào ạt dâng lên trong lòng Mị. Bởi hơn ai hết Mị hiểu thế nào là chết đau, chết đói, chết
rét, trên cơ thể kia. Trỗi dậy trong lòng Mị lúc này là tinh thần phản kháng mạnh mẽ, tình thương đã đem
lại chó Mị sức mạnh khiến Mị từ người phụ nữ vô cảm, cam chịu nô lệ trở thành người phụ nữ can đảm
mạnh mẽ. Mị toan định cởi trói cho A Phủ, nhưng Mị nghĩ đến biết đâu A Phủ chạy trốn được Mị bị trói
thay vào đó và chết ở đó thì sao? Nhưng dù nghĩ như vậy nhưng Mị cũng không thấy sợ bởi lòng can
đảm và sức mạnh trong Mị đã trở lại. Nó đã dẫn đến hành động táo bạo rút dao cắt đứt dây trói. Đây là
hành động bất ngờ đến với cô nhưng lại là kết quả tất yếu của sức sống tiềm tàng mãnh liệt trong Mị. Mị
đã chạy băng trong đêm tối theo người đàn ông xa lạ với khát vọng một tương lai tươi sáng hơn. Hành
động quyết liệt và mạnh mẽ của Mị trong đêm ấy không chỉ giải phóng cho A Phủ mà còn giải phóng cho
chính bản thân mình. Cùng lúc đó Mị đã phải vượt lên hai sức mạnh của cường quyền và thần quyền để
có sức mạnh tự do đi theo con đường cách mạng. Điều đó chứng tỏ rằng giai cấp thống trị có thể đày
đọa người lao động nhưng không thể dập tắt được khát vọng sống và khát vọng tự do của họ.


Nửa thế kỉ đã trôi qua, nhưng truyện ngắn này vẫn đứng vững trước thời gian và thử thách của bạn đọc.
Từ sự đổi đời của Mị và A Phủ, Tô Hoài như muốn gửi tới bạn đọc một triết lí: muốn có sự đổi đời, muốn
được sống tron tự do và hạnh phúc thật sự thì phải đấu tranh, phải một lòng đi theo cách mạng và kháng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status