BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
HÀ VĂN LỰC
THỰC TRẠNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TỈNH HÒA BÌNH TRONG LỊCH SỬ ĐẾN NĂM 1945
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
HÀ VĂN LỰC
THỰC TRẠNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TỈNH HÒA BÌNH TRONG LỊCH SỬ ĐẾN NĂM 1945
Chuyên ngành: Lịch sử địa phƣơng
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Lực
SƠN LA, NĂM 2015
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận này, em xin cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy
1.1.2.1 Địa hình ..................................................................................................... 6
1.1.2.2 Khí hậu ..................................................................................................... 7
2.1.2.3 Sông ngòi................................................................................................... 8
1.1.3.1. Tài nguyên đất đai .................................................................................... 9
1.1.3.2. Tài nguyên khoáng sản............................................................................. 9
1.1.3.3. Tài nguyên rừng ..................................................................................... 10
1.2. Tình hình dân cư, kinh tế văn hóa, xã hội .................................................... 10
1.2.1 Tình hình dân cư ........................................................................................ 10
1.2.1.1 Dân số ...................................................................................................... 10
1.2.1.2 Dân tộc .................................................................................................... 11
1.2.2 Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Hòa Bình trước năm 1945 ......... 11
1.2.2.1 Kinh tế ..................................................................................................... 11
1.2.2.2 Văn hóa, xã hội........................................................................................ 12
1.2.2.3 Truyền thống lịch sử ............................................................................... 12
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HÒA BÌNH
TRONG LỊCH SỬ ĐẾN NĂM 1858 ............................................................... 15
2.1 Dân tộc Mường ............................................................................................. 15
2.1.1 Nguồn gốc lịch sử ...................................................................................... 15
2.1.2 Địa vực cư trú ............................................................................................. 16
2.1.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội ............................................................................ 16
2.1.4. Đặc trưng văn hóa ..................................................................................... 20
2.2. Dân tộc Thái ................................................................................................. 21
2.2.1. Nguồn gốc lịch sử ..................................................................................... 21
2.2.2. Địa vực cư trú ............................................................................................ 23
2.2.3. Đặc điểm kinh tế, xã hội ........................................................................... 23
2.2.4. Đặc trưng văn hóa ..................................................................................... 25
2.3. Dân tộc Tày .................................................................................................. 28
2.3.1. Nguồn gốc lịch sử ..................................................................................... 28
3.4.3. Đặc trưng văn hóa ..................................................................................... 55
3.5.1. Địa vực cư trú ............................................................................................ 56
3.5.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội ........................................................................... 56
3.5.3. Đặc trưng văn hóa ..................................................................................... 58
Tiểu kết ................................................................................................................ 59
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngay từ khi hình thành dân tộc ở thời đại Hùng Vương, Việt Nam đã là
quốc gia có đa thành phần dân tộc. Cho đến nay Việt Nam có 54 dân tộc anh em
sinh sống trải rộng ở khắp mọi miền của đất nước từ Bắc đến Nam, từ miền xuôi
đến miền ngược.
Dân tộc Việt Nam có bề dày truyền thống đoàn kết, thương yêu đùm bọc
giúp đỡ lẫn nhau, kiên cường bất khuất trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và lao
động xây dựng đất nước, đúng như Hồ Chủ tịch đã khẳng định:“Đồng bào Kinh
hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc
thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống
chết có nhau, sướng khổ cùng nhau. No đói giúp nhau”.
Có thể nói, đất nước Việt Nam đẹp như một bức tranh khảm hay như một
tấm thảm dệt màu sắc hài hòa của 54 dân tộc anh em. Quả đúng như vậy một
tấm thảm không biết đan dệt bằng bao nhiêu đường chỉ ngang dọc, bao nhiêu sợi
chỉ pha màu sắc khác nhau. Tấm thảm văn hóa Việt Nam được dệt bằng 54 sợi
màu chủ đạo, bằng hàng ngàn, hàng vạn thành tố văn hóa của mỗi dân tộc. Chất
liệu dệt nên tấm thảm đó là lịch sử, là ngôn ngữ, là hoạt động kinh tế, các phong
tục tập quán liên quan đến vai trò thiết yếu của con người, 54 dân tộc anh em
cùng sinh sống tạo nên một đất nước đa dạng về truyền thống văn hóa, mỗi dân
tộc đều có truyền thống nét văn hóa đặc sắc riêng nhưng có mối liên hệ chặt chẽ
+ Cuốn: “Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam” tác giả Nguyễn Văn
Huy là bức tranh toàn cảnh về tất cả các dân tộc Việt Nam, về đời sống văn hóa
trong đó có các dân tộc thiểu số trong tỉnh Hòa Bình. [6]
+ Cuốn: “Văn hóa truyền thống một số tộc người Hòa Bình” của PGS TS Nguyễn Thị Thanh Nga (NXB văn hóa dân tộc 2007) có những nghiên cứu
đến đời sống văn hóa các dân tộc ở Hòa Bình. Tuy nhiên chưa nói được đầy đủ
tất các dân tộc thiểu số trong tỉnh. [11]
+ Cuốn: “Địa chí Hòa Bình” do Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban
nhân dân tỉnh Hòa Bình ( NXB Chính trị 2005) có nghiên cứu đến nguồn gốc
cũng như đời sống văn hóa của các dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình nhưng một
cách khái quát và chưa thật sự đầy đủ. [14]
2
+ Cuốn: “Các tộc người ở Tây Bắc Việt Nam” của Ban dân tộc Khu Tây
Bắc, xuất bản 1975. Đây là công trình có liên quan nhiều nhất đến đề tài, cuốn
sách bước đầu đã đề cập đến một số vấn đề về kinh tế - xã hội, địa bàn cư trú,
truyền thống lịch sử văn hoá các dân tộc ở Tây Bắc trong đó có người Mường.
Riêng đối với người Mường, ngoài việc vắn tắt về đặc điểm kinh tế xã hội, công
trình cũng đã đề cập đến cả về lĩnh vực tôn giáo, chữ viết và mối quan hệ giữa
các dân tộc ở Tây Bắc - Việt Nam… Tuy nhiên, sự đề cập đó còn rất sơ lược,
chung chung; thậm chí một số thuật ngữ, nhận định, sự kiện vẫn cần phải được
trao đổi thêm. [16]
+ Cuốn: “Các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam (dẫn liệu nhân
chủng học)”. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1976. Đây cũng là công
trình có liên quan nhiều nhất đến đề tài, cuốn sách bước đầu đã đề cập đến một
số vấn đề về kinh tế - xã hội, địa bàn cư trú, truyền thống lịch sử văn hoá các
dân tộc ở miền Bắc trong đó có người Mường. Đối với cộng đồng dân tộc
Mường, ngoài việc vắn tắt về đặc điểm kinh tế xã hội, công trình cũng đã đề cập
đến cả về lĩnh vực tôn giáo, chữ viết và mối quan hệ giữa các dân tộc ở Tây Bắc
3.2. Mục đích, ý nghĩa và nhiệm vụ của đề tài
+ Tái hiện một cách cụ thể, chi tiết hoàn chỉnh từ nguồn gốc ra đời đến đời
sống kinh tế, văn hóa, địa vực cư trú của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình.
+ Vai trò và vị trí của đời sống kinh tế, văn hóa của các dân tộc thiểu số ở
Hòa Bình nói riêng và Việt Nam nói chung.
+ Làm đa dạng và phong phú thêm bức tranh văn hóa của cộng đồng dân
tộc Việt Nam.
+ Bổ sung nguồn tài liệu của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình vào kho
tàng văn hóa Việt Nam.
+ Làm tài liệu để biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương, trong các
trường phổ thông, đại học, cao đẳng ở Tây Bắc.
+ Góp phần giáo dục ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân
tộc thiểu số.
4 . Cơ sở tài liệu và và phƣơng pháp nghiên cứu.
4.1. Cơ sở tài liệu
Đề tài dựa vào các tài liệu lưu trữ ở Trung ương và địa phương, bằng tiếng
Việt, tiếng nước ngoài và các loại tài liệu điền dã ở địa phương…
4
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ chí Minh, đề tài
chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic. Ngoài ra còn kết hợp
các phương pháp khác như: phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, đánh giá tư
liệu, sưu tầm tư liệu…
5. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phục lục, tài liệu tham khảo đề tài có kết
cấu 3 chương.
Chƣơng 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, truyền
thống lịch sử, văn hóa các dân tộc tỉnh Hòa Bình
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
1.1.2.1. Địa hình
Nhìn chung, địa hình của tỉnh Hòa Bình nổi bật với những đặc điểm sau:
Hòa Bình là một tỉnh miền núi điển hình. Hầu như toàn bộ diện tích của
tỉnh là núi và cao nguyên. Giữa núi và cao nguyên là những thung lũng sông
suối, không có một đồng bằng nào đáng kể và đúng nghĩa của nó. Núi đều thuộc
kiểu núi trung bình, không đâu có độ cao tuyệt đố tới 1500m. Độ cao đa số là
6
dưới 1000m, tập trung chủ yếu các huyện phía tây của tỉnh như Đà Bắc, Mai
Châu, Tân Lạc. Rải rác có một số đỉnh núi cao xấp xỉ 1400m như Phu Canh
(1420m), Pà Cò (1343m), Núi Biên (1198m)… chỉ có một diện tích rất nhỏ bé
của các bề mặt đồng bằng, thung lũng là có độ cao tuyệt đối từ 20 đến 40m, tập
trung ở Lạc Thủy và Yên Thủy.
Địa hình Hòa Bình thấp dần từ Tây sang Đông. Phía tây của tỉnh là các đỉnh
núi có độ cao trung bình trên 500m, một số đỉnh núi cao trên 100m như Hang
Kia (1044m), dải núi đá vôi Pà Cò (1343m) Phu Canh (1420m). Khu vực trung
tâm của tỉnh có độ cao giảm xuống 300m. Khu vực phía đông giáp với Hà Nội,
độ cao trung bình chỉ còn dưới 100m. [13, tr.84]
Hướng chủ yếu của địa hình là tây bắc – đông nam. Hầu hết các dãy núi
hay thung lũng đều chạy theo hướng tây bắc – đông nam. Các dãy núi phía tây
thuộc hệ Trường Sơn, nằm ở tả ngạn sông Đà, kéo dài từ Mai Châu qua Tân Lạc
và kết thúc ở nam Yên Thủy.
Do ảnh hưởng của đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, ở vùng núi quá
trình xâm thực chia cắt địa hình diễn ra mạnh mẽ, mạng lưới thủy văn dày, độ
dốc lớn, mật độ chia cắt địa hình cao, quá trình xâm thực, lở đất đất trượt phát
triển mạnh. Ở các khu vực đá vôi hình thành các dạng địa hình cacxtơ độc đáo
như động Thác Bờ, động Cô Tiên, hang Luồn (Yên Bồng – Chi Nê); nhiều lòng
chảo cacxtơ rộng thuận lợi cho việc tập trung dân cư và phát triển nông nghiệp.
xuất và đời sống.
2.1.2.3. Sông ngòi
Hòa Bình có mạng lưới thủy văn tương đối dày đặc. Trong tỉnh có 11 con
sông chính, thuộc các hệ thống sông Đà, sông Bưởi… có sông Đà là sông lớn
nhất nằm trong hệ thống sông Hồng chảy qua các huyện Mai Châu, Tân Lạc, Đà
Bắc, thành phố Hòa Bình, Kì Sơn với tổng chiều dài lên đến 100km. Sông Đà có
đặc điểm tương đối dốc và chảy siết vì vậy có tiềm năng thủy điện lớn, đồng
thời còn có giá trị về giao thông. Ngoài sông Đà trong tỉnh còn có nhiều sông
như sông Bôi (125km), sông Bưởi (130km), sông Bùi (32km). Ngoài ra trong
tỉnh còn có hệ thống suối, hồ, ao, đầm… đa dạng tạo điều kiện cho việc cung
cấp tưới tiêu đồng ruộng. Hệ thống sông suối mang lại nguồn thủy sản và phát
triển du lịch.
8
1.1.3. Tài nguyên thiên nhiên
1.1.3.1. Tài nguyên đất đai
Nguồn gốc tạo nên các loại đất trên địa bàn tỉnh Hòa Bình là các loại đá
trầm tích, mác ma và đá biến chất. Trên mỗi loại đá phát triển một loại đất với
những tính chất khác nhau. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa nóng ẩm và
lạnh khô khác biệt khá rõ rệt là một trong những điều kiện hình thành đất feralit,
lọai đất điển hình của tỉnh.
Hòa Bình có 7 nhóm đất chính với 23 loại đất khác nhau. Gồm nhóm đất
phù sa, nhóm đất dốc tụ, nhóm đất đen trên sản phẩm phong hóa đá vôi, nhóm
đất bạc màu, nhóm đất feralit có diện tích lớn nhất.
Nhìn chung nhóm đất feralit là nhóm đất điển hình của tỉnh chiếm phần lớn
diện tích và gấp khoảng 18 lần đất phù sa. Đại bộ phận đât feralit có tầng trung
bình và dày, phát triển trên địa hình dốc dưới 300, nhiều khả năng thâm canh lâm
nghiệp và trồng cây công nghiệp lâu năm, một phần để trồng cây công nghiệp
1.2.1.1. Dân số
Đến năm 1999 dân số tỉnh Hòa Bình đạt 757.645 người. So với năm 1975
khi còn là một bộ phận của tỉnh Hà Sơn Bình dân số Hòa Bình khi đó mới có
432.200 người đã tăng thêm 325.445 người, bình quân mỗi năm tăng 3,01%.
Cùng với thời gian này (1975 – 1999), mức tăng dân số cả nước là 2,4%. Tuy
vậy hiện nay dân số Hòa Bình mới xếp thứ 46 và bằng 0,99% dân số cả nước.
Hòa Bình là tỉnh có biến động dân số vào loại mạnh và kéo dài hàng ¼ thế
kỉ qua. Sự biến động nảy sinh trong điều kiện kinh tế lịch sử đặc biệt. Đó là việc
xây dựng nhà máy thủy điện Hòa Bình đã bắt đầu giai đoạn nhập cư lao động
với quy mô chưa từng có, đồng thời với việc phân bố dân cư khi quần cư vùng
lòng hồ ngập chìm trong nước. Mức tăng dân số cao liên tục suốt thập kỉ 80:
1980 – 1985 là 3,1%, 1986 – 1990 là 4,25%. Bước sang thập kỉ 90, dân số tăng
bình quân trung bình 1,39%. Tuy vậy từ năm 1996 đến nay, mức tăng dân số đã
hạ thấp. [13, tr. 91]
Mật độ dân số trung bình của tỉnh năm 1999 là 152 người/km2. Như vậy so
với các tỉnh vùng núi và trung du phía Bắc thì Hòa Bình có mật độ vào hàng
trung bình, nhưng so với vùng Tây Bắc thì có mật độ dân số cao hơn hẳn (Sơn
La: 61 người/km2, Lai Châu; 35 người/km2). [13, tr. 96] Đến nay dân số của tỉnh
10
ngày càng tăng cung cấp nguồn lao động tạo điều kiện thuận lợi để phát triển
kinh tế.
1.2.1.2. Dân tộc
Hòa Bình là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, trong đó đồng bào Mường
chiếm số đông nhất (trên 60% dân số). Người Mường chiếm đại bộ phận dân số
các huyện Lương Sơn, Kim Bôi, Tân Lạc, Kì Sơn, Lạc Sơn, Yên Thủy. Ngoài ra
còn sống đan xen với các dân tộc khác ở các huyện, thị còn lại. Người Mường
Hòa Bình chiếm 43,3% số người thuộc dân tộc Mường cả nước. [13, tr. 94]
một đổi thay và có sự phát triển kinh tế đáng kể. Nhân dân Hòa Bình đang cùng
nhân dân cả nước góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh,
văn minh.
1.2.2.2. Văn hóa, xã hội
Hòa Bình là một tỉnh có bề dày lịch sử văn hóa, với nền văn hóa bản địa
phong phú và đa dạng. Là trung tâm của nền văn hóa Hòa Bình, với sự ra đời
của nghề nông trồng lúa nước. Các cư dân trong tỉnh đã đoàn kết trong quá trình
sinh sống và lao động tạo nên một nền văn hóa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Sau khi thực dân Pháp xâm lược đã thực hiện chính sách ngu dân nô dịch,
chúng khuyến khích các phong tục mê tín dị đoan trong nhân dân, du nhập và
bắt nhân dân tiếp nhận các tệ nạn xã hội… trường học không được mở, chỉ có
một vài trường chỉ dành cho con các nhà Lang. Chính sách của thực dân Pháp đã
làm cho 90% dân số trong tỉnh bị mù chữ. Thêm nữa đó là chính sách cai trị, bóc
lột hà khắc, của thực dân pháp cùng chế độ nhà Lang làm cho đời sống nhân dân
vô cùng cực khổ.
Sau khi đất nước được giải phóng, với cách chính sách của Đảng và Nhà
nước về văn hóa, xã hội đời sống văn hóa tinh thần được cải thiện, số người
được đi học và biết chữ tăng lên. Hiện nay với sự đoàn kết của nhân dân trong
tỉnh đã cũng nhau xây dựng quê hương Hòa Bình ngày càng giàu mạnh.
1.2.2.3. Truyền thống lịch sử
Hòa Bình là tỉnh có truyền thống lịch sử lâu đời, nhân dân các dân tộc trong
tỉnh có truyền thống yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê
hương đất nước. Ngay từ những năm đầu công nguyên, trước sự thống trị tàn
bạo của phong kiến phương Bắc nhân dân câc dân tộc tỉnh Hòa Bình đã cùng
12
nhau hưởng ửng cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng đánh đuổi sự đô hộ của quân
Đông Hán.
sống mạnh mẽ nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước, làn song cách mạng
đó là cách mạng Tháng Tám năm 1945, là cuộc kháng chiến trường kì chống
thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mĩ, làm nên chiến thắng Lê Lợi, chiến
dịch Hòa Bình tạo tiền đề cho chiến dịch Tây Bắc, chiến dịch Điện Biên Phủ
lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
Trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước, nhân dân Hòa Bình ra sức thi đua
sản xuất, chi viện sức người, sức cử cho nhân dân Miền Nam. Đồng thời cùng
với nhân dân Miền bắc nhân dân Hòa Bình đã góp phần làm thất bại hai cuộc
chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, hoàn thành tốt nghĩa vụ hậu phương lớn
với tiền tuyến lớn, góp phần quan trọng vào chiến thắng trên chiến trường chính
Miền Nam, buộc Mĩ phải kí hiệp định Pari, rút hết quân về nước, đập tan ngụy
quyền Sài Gòn, đưa lại nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc.
Ngoài truyền thống đấu tranh yêu nước, nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa
Bình còn có truyền thống cần cù, sáng tạo, truyền thống đoàn kết, nhân ái giúp
đỡ tương trợ lẫn nhau… tạo nên một cộng đồng có nét văn hóa truyền thống
riêng, góp phần vào truyền thống văn hóa toàn thể dân tộc Việt Nam.
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, đất đai, sông ngòi của Hòa Bình thuận lợi
cho con người sinh sống và hội tụ các cộng đồng cư dân trong vùng và từ nơi
khác đến làm ăn sinh sống làm ăn trên mảnh đất này. Sự hòa huyết giữa các
cộng đồng cư dân Hòa Bình hình thành nên một cộng đồng cư dân thống nhất,
họ cùng nhau lao động xây dựng quê hương đất nước và góp sức cùng cả dân
tộc Việt Nam đấu tranh bảo vệ Tổ quốc.
14
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HÒA BÌNH TRONG
LỊCH SỬ ĐẾN NĂM 1858
16
Tháng 7 lúa lên xanh, tháng 8, 9 lúa ra đòng và tháng 10 bông lúa đã chín vàng.
Và cũng từ đấy người Mường thoát khỏi cuộc sống săn bắt có gạo để ăn. Trong
truyện còn có một chi tiết về việc dân làng đi lấy giống lúa giống ở Mường
Búng, Mường Bống.
Đẻ đất đẻ nước còn cho thấy một quy trình từ chọn giống lúa, đến gieo mạ,
cấy lúa và gặt hái của người Mường như sau: các loại giống lúa ở Mường gồm
có lúa vàng, lúa dé, nếp nghè, nếp trứng khe, chăm ốc, nếp củ ong (nếp hoa
vàng), nếp củ đen (nếp hạt cau); cách làm ruộng, đắp mương: “đi chặt cọc đắp
bai, chặt cây đắp mương, đốn cây gỗ to làm chống, gióng cây mương làm máng
dài dài”; cách làm cày để cấy: “Chặt cây nang nách làm ách, dây rạch làm ướng,
dây sen tướng làm chão, cây bông bái, bông báo làm bừa, cây chò chỉ làm cày”;
quy trình gieo mạ và gặt hái: tháng tư, vãi mạ xuống nắc (ruộng để gieo mạ), gieo
mạ xuống nà (ruộng), tháng bảy lúa non lên, tháng 8 lúa chửa đòng đòng, tháng 9
đòng cong trổ lúa, tháng 10 lúa chín đỏ; gặt lúa đem phơi và gác trên gác bếp; rồi
xay làm gạo. Từ đó mọi người trong làng không bị đói nữa. [14, tr. 176]
Sống ở khu vực miền núi người Mường đã biết khai thác đất tự nhiên để có
đất canh tác. Họ biết tận dụng những khu đất có mặt bằng tương đối bằng phẳng
trong thung lũng và khắp mọi nơi để làm ruộng, cho nên mặc dù không có
những cánh đồng rộng lớn như người Việt ở đồng bằng sông Hồng, nhưng
người mường ở Hòa Bình cũng không thiếu đất canh tác. Với kinh nghiệm làm
thủy lợi được tích lũy từ thế hệ này qua thế hệ khác, dựa vào nước ven sông và
những con suối chảy, họ biết cách thiết lập hệ thống mương, bai, xe nước, ống
nước dẫn nước tự tạo chạy ngang dọc trên các cánh đồng, nhằm đưa nước lên
chân ruộng cao và đi khắp mọi nơi một cách đều đặn phục vụ cho việc trồng lúa
nước. Ruộng thường được trồng lúa nếp dùng làm cây lương thực chính, làm
nguyên liệu để nấu rượu cần và cơm lam khá ngon. Tập quán trồng lúa nước đã
thâm nhập vào tín ngưỡng cuẩ người Mường. Trong các dịp lễ hội rửa lá lúa, lễ
Mường thường mang theo to bằng đầu ngón tay có tên là trống Dạ Dần.
Về xã hội tổ chức xã hội người Mường từng tồn tại nhiều tên gọi khác nhau
như: tù trưởng, thổ tù, quan lang, thổ lang, thứ lang hay thổ đạo, nhà lang. Trên
thực tế còn nhiều tên gọi khác nhau để chỉ tổ chức xã hội nguyên thủy người
Mường. Tuy nhiên các tên gọi trên đều phản ánh quan hệ xã hội Mường. Một số
cách gọi ban đầu, về ý nghĩa chưa thật sự phản ánh xã hội Mường. Cách gọi sau
18
này: lang đạo - nhà lang mang ý nghĩa tổng quát, phản ánh tương đối khách
quan xã hội Mường truyền thống.
Một mường nhỏ có thể có vài làng đến chục làng, thường ở trung tâm
mường được người Mường gọi là chiềng. Trong tổ chức xã hội Mường cổ – nhà
lang trước kia tự phân thành hai tầng lớp khép kín, không chuyển hóa lẫn nhau
về mặt con người. Tất nhiên đẳng cấp người Mường không như đẳng cấp ở Ấn
Độ. “Đẳng cấp” thống trị nhà lang tập hợp thành những tông tộc phụ hệ. Mỗi tông
tộc như vậy chiếm giữ một Mường. Mường đó bao gồm một thung lũng hẹp giữa
chân núi hay gồm nhiều thung lũng chạy dài nối liền nhau như Mường Bi. Địa
giới cũng để phân định mường này với mường kia, tộc này với tộc khác. Ngoài ra
mỗi tông nhà lang còn có sự phân biệt ở tộc dang riêng – ví dụ họ Đinh Thế, Đinh
Công, họ Quách, Quách Đình, Bạch Công, Hoàng… theo tập quán người Mường
Hòa Bình, “đẳng cấp” thống trị cha truyền con nối làm lang. Dĩ nhiên, không loại
trừ những trường hợp đặc biệt, ngoại lệ. Khi nhà lang chống lại triều đình trung
ương, bị tiêu diệt hay thất bại trong cuộc chiến tranh giành quyền lợi tông tộc, hay
ức hiếp nhân dân trong mường quá mức sẽ bị nhân dân hạ bệ, thay thế. “Đẳng
cấp” bị trị là Mol hay Mol Mường (người Mường), họ không tập hợp nhau thành
tông tộc mà ở phân tán trong nhiều mường thành các gia đình nhỏ, hoặc các gia
đình cùng tông tộc nhưng lại cư trú ở các mường khác nhau.
Tổ chức thống trị nhà lang được thiết lập trong từng mường, từng làng
thuộc chiềng hay mường cũng phỏng theo tổ chức tông tộc nhà lang trên danh