Phân tích bài đây thôn vĩ dạ hàn mặc tử - Pdf 38

Phân tích bài Đâ y thôn V ĩ D ạ- Hàn M ặc T ử
Posted by Thu Trang On Tháng Tám 23, 2016 0 Comment
Phân tích bài Đây thôn Vĩ Dạ- Hàn Mặc Tử
Hướng dẫn phân tích :
Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ do thi sĩ Hàn Mặc Tử (1912-1940) sáng
tác vào khoảng năm 1938, in lần đầu trong tập Thơ Điên (về sau
đổi tên thành Đau thương).Hiện nay, bài thơ này được nhiều người
cho là một kiệt tác của Hàn Mặc Tử và cũng là một trong những
thi phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam hiện đại.
Theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của
Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở thôn Vĩ Dạ .
GS. Nguyễn Đăng Mạnh cho biết: Hồi làm nhân viên ở sở đạc điền
Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử có thầm yêu trộm nhớ đơn phương một cô
gái người Huế tên là Hoàng Thị Kim Cúc, con ông chủ sở. Một thời
gian sau, nhà thơ vào Sài Gòn làm báo, khi trở lại Quy Nhơn thì cô
gái đã theo gia đình về Vĩ Dạ (Huế). Một buổi kia, cô Cúc do sự gợi
ý của một người em thúc bá, bạn của Hàn Mặc Tử, gửi vào cho
nhà thơ một tấm bưu ảnh chụp một phong cảnh sông nước có
thuyền và bến, kèm theo mấy lời thăm hỏi để an ủi nhà thơ lúc
này đã mắc hiểm nghèo (bệnh phong).
Lời thăm hỏi không ký tên, nhưng bức ảnh và những dòng chữ kia
đã kích thích trí tưởng tượng, cảm hứng, và đã gợi dậy những gì
thầm kín xa xưa của Hàn Mặc Tử…
Theo Nguyễn Bá Tín, em ruột nhà thơ Hàn Mặc Tử, thì: Năm 1939,
Hoàng Cúc nhận được hung tin nói trên từ Hoàng Tùng Ngâm.
Nàng chuẩn bị một số tiền định gửi cho Hàn Mặc Tử uống thuốc
nhưng không dám gửi. Nàng bèn gửi cho Hàn Mặc Tử một bức ảnh
chụp cảnh nàng mặc áo lụa dài trắng đứng dưới vòm cây xanh
mát. Nhận được ảnh, Hàn Mặc Tử rất vui. Chàng liền làm ngay bài
thơ Đây thôn Vĩ Dạ gửi ra Huế cho Hoàng Cúc…
Lưu ý :Những thông tin trên chỉ mang tính tham khảo, là chìa

về kịp tối nay ? thể hiện sự băn khoăn, khắc khoải và hi vọng
mong manh trong tâm trạng thi sĩ.
Câu hỏi thứ ba: Ai biết tình ai có đậm đà? chất chứa một mối hoài
nghi.
Tâm trạng của thi sĩ diễn biến theo chiều hướng: ao ước đắm say –
hoài vọng phấp phỏng – mơ tưởng hoài nghi. Càng về sau càng có
phần u uẩn và sầu muộn. Đó là những cung bậc khác nhau của
một mối tình vô vọng. Tuy nhiên, đằng sau mối tình ấy vẫn là một
niềm thiết tha gắn bó với đời. Những câu hỏi này là hình thức để
nhà thơ tỏ bày tâm trạng. Âm điệu bài thơ càng về sau càng da
diết, sâu lắng và nhờ đó mà ba khổ thơ tưởng như tách biệt lại


liên kết với nhau một cách tự nhiên, tạo thành một bài thơ hoàn
chỉnh có vẻ đẹp khác thường.
Câu thơ mở đầu: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? chứa đựng nhiều
sắc thái biểu cảm khác nhau. Nó có thể là lời mời mọc dưới dạng
hờn trách nhẹ nhàng, rất đáng yêu của một cô gái Huế. Nếu vậy
thì phải nghe câu thơ ấy cất lên bằng chính cái giọng Huế ấm áp,
ngân nga, ta mới cảm nhận được hết vị dịu ngọt đến nao lòng của
nó. Hiểu cách khác, nó là một câu hỏi tu từ. Nhà thơ lòng tự hỏi
lòng: Liệu có còn dịp nào mình được về thăm thôn Vĩ mảnh đất
gắn bó với bao kỉ niệm dấu yêu của mối tình đầu? Tự hỏi cũng là
để nhắc nhỏ mình và kín đáo lồng vào trong đó nỗi khát khao,
nhung nhớ.
Ba câu sau tả vẻ đẹp vườn cây thôn Vĩ:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Bức tranh chỉ đơn sơ vài nét chấm phá nhưng sinh động và đặc

của thôn Vĩ: cảnh tươi đẹp và con người duyên dáng. Thiên nhiên
và con người hài hòa với nhau tạo thành vẻ đẹp đặc trưng của
Huế.
Bức tranh thôn Vĩ tuyệt đẹp đã để lại ấn tượng khó quên trong
lòng thi sĩ. Trên cái nền phong cảnh đầy hương sắc ấy có một cuộc
hội ngộ tuy không nói ra mà niềm vui như thấm vào vạn vật.
Thoảng đâu đây tiếng thì thầm mơ hồ xao xuyến của tình yêu.
Khổ thơ thứ hai vẫn tiếp tục tả cảnh nhưng hầu như không ăn
nhập gì với khung cảnh tươi vui ở khổ thơ đầu. Cảm xúc thơ chợt
lắng xuống, đượm buồn. Linh cảm chia lìa hiện ra trong từng câu,
từng chữ và từng hình ảnh:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay ?
Thông thường thì gió thổi, mây bay theo cùng một hướng. Còn ở
đây, gió, mây đôi ngả. Gió ở cây lá, còn mây lãng đãng tận trên
cao. Ngẫu nhiên chăng hay dụng ý? Câu thơ ngắt làm đôi. Gió
đóng khung trong gió (Gió theo lối gió), mây cuộn trong mây (mây
đường mây). Mạch thơ chợt như đứt đoạn. Có cái gì đó xót xa,
nghẹn ngào, hụt hẫng trong cảm xúc của nhà thơ.
Ở Vĩ Dạ, bước ra sau vườn đã là bến nước với dăm ba bậc dẫn
xuống sông. Dòng nước sông Hương lặng lẽ, im lìm, buồn thiu như
không muốn trôi. Hoa bắp (ngô) vật vờ, lắt lay trong gió nhẹ. Đâu
đâu cũng đượm một nỗi buồn.
Khung cảnh thật vậy chăng? Đúng vậy! Trên kia thật mà ở đây
cũng thật, bởi tươi tắn hay ủ ê cũng đều là Huế cả. vườn tươi sớm
mai, sông ủ buổi chiều. Nỗi buồn phơn phớt, nhè nhẹ mà thấm tận
đáy lòng. Nét trầm tư không nơi nào có được ấy là đặc trưng của
Huế. Bức tranh phong cảnh thứ hai này có đủ gió thổi, mây bay,

Nhà thơ ao ước thuyền chở trăng về như mong một tri âm tri ki
đến với mình. Dòng nước hóa thành dòng trăng hay ánh trăng
đang tan ra thành nước?! Thuyền chở trăng về cập bến thời gian
huyền ảo. Song, đó chi là bề nổi của ý thơ. Có một chữ tâu nay bị
bỏ quên bởi lẽ nó khiêm nhường, không cầu kì hoa mĩ nhưng lại
mang nhiều sắc thái tu từ, ấy là chữ lập. Chữ kịp chứa đựng bi
kịch của tâm hồn thi sĩ. Nó phản ánh tâm trạng khắc khoải đợi
trông cùng chút hi vọng mong manh của nhà thơ đang chơi vơi
trên bờ vực của đau thương, tuyệt vọng. Chữ kịp cho ta thấy cảm
nhận của thi sĩ về hiện tại ngắn ngủi và hé mở một khao khát
sống cháy bỏng, muốn giao hòa, chia sẻ tâm sự với mọi người. Thi
sĩ muốn níu kéo sự sống và chạy đua với thời gian.
Thuyền em đang đậu ở bến sông trăng như đời em sáng láng đầy
xuân tươi, có chở trăng về kịp tối nay cho lòng anh vui lên một


chút! Nỗi ước mong thầm lặng mà tha thiết. Tha thiết mà mong
manh. Càng mong manh lại càng tha thiết.
Thuyền đậu, thuyền đi trên sông Hương trong đêm trăng là
chuyện bình thường, nhưng bến sông trăng thì chi có trong thơ
Hàn Mặc Tử. Thuyền chở trăng về kịp tối nay thì cuộc hẹn hò sẽ
trọn vẹn. Có rượu, có trăng, có những người yêu nhau thì đời đẹp
biết bao! Bù lại cảnh tượng ngăn cách, buồn bã ở hai câu trên,
đây là hi vọng của cuộc gặp gỡ hòa hợp mát lành, cho dù hi vọng
ấy cũng chẳng khác chi sương khói.
Có chở trăng về kịp tối nay là câu thơ của cõi mộng. Đến đây, nhà
thơ không nhìn ra cảnh vật nữa mà nhìn vào chính lòng mình. Quỹ
thời gian đang vơi đi từng ngày, từng khắc, cuộc chia li vĩnh viễn
đang tới gần. Thi sĩ rơi vào cõi đau thương, tuyệt vọng.
Bốn câu thơ khổ này là bức tranh tâm cảnh. Gió, mây chia đường,

tha và có phần tội nghiệp.
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà ?
Hai câu thờ cuối dẫn ta vào cõi hoài niệm của nhà thơ. Sương khói
làm mờ nhân ảnh không phải là sương khói ngoài đời mà là sương
khói trong mối tình đương nhen nơi lòng thi sĩ, là cái khoảnh khắc
nhà thơ đắm đuối trong cơn mộng tưởng.
Đâu còn nắng hàng cau, vườn mướt quả Đâu còn xanh như ngọc,
mặt chữ điền Cũng chẳng còn gió mây, dòng nước buồn, hoa bắp
lay, sông trăng và con thuyền chở trăng về… Chỉ còn sương khói
che khuất bóng người.
Không chỉ hình bóng em mờ mà thân xác anh cũng mờ tan trong
sương khói lạnh lẽo. Còn lại may có chữ tình, nhưng nhà thơ vẫn
băn khoăn, khắc khoải: Ai biết tình ai có đậm đà ?
Hai khổ thơ đầu nói đến cái đẹp của xứ Huế, khổ cuối nói vẻ đẹp
của cô gái Huế. Tả cảnh đẹp xứ Huế, Hàn Mặc Tử đắm say đến
mức hòa nhập vào cảnh. Nói đến vẻ đẹp của cô gái Huế, nhà thơ
lại lùi ra xa, giữa nhà thơ với cô gái là một khoảng cách mịt mờ
sương khói. Vì thế mới có câu thơ cuối mang chút hoài nghi mà lại
chan chứa niềm thiết tha với cuộc đời : Ai biết tình ai có đậm đà ?
Nhà thơ đã sử dụng rất tài tình đại từ phiếm chi Ai để mở ra hai ý
nghĩa của câu thơ: Làm sao biết được tình người con gái thôn Vĩ
có đậm đà không? Hay cũng mờ ảo, chóng tan như làn sương khói
kia? Người xứ Huế có biết chăng tình cảm của nhà thơ đối với
cảnh vật Huế, con người Huế hết sức thắm thiết, đậm đà ? Dù
hiểu theo nghĩa nào thì câu thơ cũng chi làm tăng thêm nỗi cô
đơn, trống vắng trong một tâm hồn tha thiết yêu thương con
người và cuộc đời.
Khổ thơ thứ ba tiếp nối và đi sâu vào bên trong mối tình, từ nỗi
cách ngăn gió mảy chia đường đến sự đứt gãy. Từ cảnh thiên

hoài vọng phấp phỏng – mơ tưởng hoài nghi. Càng về sau càng có
phần u uẩn và sầu muộn. Đó là những cung bậc khác nhau của
một mối tình vô vọng. Tuy nhiên, đằng sau mối tình ấy vẫn là một
niềm thiết tha gắn bó với đời. Những câu hỏi này là hình thức để
nhà thơ tỏ bày tâm trạng. Âm điệu bài thơ càng về sau càng da
diết, sâu lắng và nhờ đó mà ba khổ thơ tưởng như tách biệt lại
liên kết với nhau một cách tự nhiên, tạo thành một bài thơ hoàn
chỉnh có vẻ đẹp khác thường.
Nhận xét bao quát: ở bài thơ này, mỗi câu thơ đều ôm chứa một
chất thơ hoàn chỉnh, có thể trích độc lập mà vẫn có vị. Mỗi khổ là
một bài tứ tuyệt. Nhưng gộp cả lại thì tất cả lại ràng buộc với
nhau, không thể tháo bỏ, không cần thêm ý, không thể đảo lộn vị
trí từng câu, không thể thay thế các từ. Bài thơ thật trong sáng.
Hình như ai cũng cảm nhận được vẻ đẹp của nó nhưng phân tích


mãi, vẻ đẹp ấy vẫn còn bí ẩn. Nỗi buồn của bài thơ trong sáng và
thấm thía.
Đây thôn Vĩ Dạ trước hết là một bài thơ về tình yêu. Thấp thoáng
trong màn sương khói hư ảo của tình yêu đôi lứa là tình yêu thiết
tha, đằm thắm đối với quê hương đất nước. Vì khơi gợi và làm
rung động tình cảm chung của nhiều người như thế nên bài thơ
vốn diễn tả tâm trạng riêng của tác giả lại tạo được sự cộng
hưởng rộng rãi và lâu bền trong tâm hồn của nhiều thế hệ yêu thơ
Hàn Mặc Tử.
Nguồn bài viết : http:// tailieuvan.net /.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status