Nhận thức của người dân về hôn nhân cùng giới (qua phân tích số liệu điều tra quốc gia về quan điểm của người dân đối với hôn nhân cùng giới năm 2013) - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ

NHẬN THỨC CỦA NGƢỜI DÂN VỀ HÔN NHÂN CÙNG GIỚI
(QUA PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ĐIỀU TRA QUỐC GIA VỀ QUAN ĐIỂM
CỦA NGƢỜI DÂN ĐỐI VỚI HÔN NHÂN CÙNG GIỚI NĂM 2013)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI, năm 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ

NHẬN THỨC CỦA NGƢỜI DÂN VỀ HÔN NHÂN CÙNG GIỚI
(QUA PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ĐIỀU TRA QUỐC GIA VỀ QUAN ĐIỂM
CỦA NGƢỜI DÂN ĐỐI VỚI HÔN NHÂN CÙNG GIỚI NĂM 2013)

Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Đức Vinh



MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÔN NHÂN CÙNG GIỚI ................... 17
1.1. Một số khái niệm nghiên cứu................................................................. 17
1.2. Lý thuyết và hƣớng tiếp cận .................................................................. 20
1.2.1. Lý thuyết kỳ thị xã hội ..................................................................... 20
1.2.2. Lý thuyết xã hội hóa vai trò giới ..................................................... 22
1.3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu và các quan điểm chính sách .................. 23
1.3.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu .............................................................. 23
1.3.2. Hôn nhân cùng giới và các quan điểm đa chiều ............................ 26
Chƣơng 2 NHẬN THỨC VÀ QUAN ĐIỂM CỦA NGƢỜI DÂN VỀ HÔN
NHÂN CÙNG GIỚI ...................................................................................... 34
2.1. Thông tin chung về mẫu nghiên cứu .................................................... 34
2.2. Nhận thức về ngƣời đồng tính và hôn nhân cùng giới ....................... 36
2.3. Quan điểm của ngƣời dân về những tác động của hôn nhân cùng
giới .................................................................................................................... 44
2.3.1. Tác động đến cá nhân ..................................................................... 45
2.3.2. Tác động đến gia đình .................................................................... 47
2.3.3. Tác động đến xã hội ........................................................................ 49
2.4. Quan điểm của ngƣời dân về việc hợp thức hóa hôn nhân cùng giới.52
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 62
1. Kết luận ....................................................................................................... 62
2. Khuyến nghị ................................................................................................ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 66


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bảng 4: Quan điểm của ngƣời dân về tác động của hôn nhân cùng giới lên xã
hội phân theo mức độ quen biết ngƣời đồng tính (%) .................................... 50
Bảng 5: Tỷ lệ ủng hộ pháp luật công nhận HNCG tƣơng quan với mức độ biết
về việc hai ngƣời cùng giới sống chung với nhau (%) ................................... 53
Bảng 6: Quan điểm của ngƣời dân về việc pháp luật nên có những quy định
nào về kết hôn cùng giới phân theo nhóm tuổi và mức độ quen biết ngƣời
đồng tính (%) ................................................................................................... 54
Bảng 7: Quan điểm của ngƣời dân về việc pháp luật nên có những quy định
nào về kết hôn cùng giới phân theo trình độ học vấn (%) .............................. 57


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Tỷ lệ ngƣời dân biết về ngƣời đồng tính và hai ngƣời cùng giới có
quan hệ tình cảm (%) ...................................................................................... 37
Biểu đồ 2: Tỷ lệ ngƣời dân biết việc hai ngƣời cùng giới sống chung nhƣ vợ
chồng phân theo khu vực (%) ......................................................................... 40
Biểu đồ 3: Nguồn thông tin về hiện tƣợng hai ngƣời cùng giới tính chung
sống với nhau nhƣ vợ chồng (%) .................................................................... 41
Biểu đồ 4: Quan điểm của ngƣời dân về tác động của hôn nhân cùng giới đến
bản thân họ ở nông thôn và đô thị (%) ............................................................ 47
Biểu đồ 5: Quan điểm của ngƣời dân về tác động của hôn nhân cùng giới đến
gia đình phân theo khu vực (%) ...................................................................... 48
Biểu đồ 6: Quan điểm của ngƣời dân về tác động của hôn nhân cùng giới lên
xã hội phân theo nhóm tuổi (%) ...................................................................... 51
Biểu đồ 7: Quan điểm của ngƣời dân về việc pháp luật nên có những quy định
nào về kết hôn cùng giới phân theo vùng miền (%) ....................................... 56
Biểu đồ 8: Quan điểm của ngƣời dân về việc pháp luật nên công nhận những
quyền nào của các cặp đôi cùng giới (%) ....................................................... 58
Biểu đồ 9: Quan điểm của ngƣời dân về việc pháp luật nên công nhận những
quyền nào của các cặp đôi cùng giới phân theo nhóm tuổi (%) ..................... 59

1


vấn đề sống chung và có hay không nên hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới là
các luồng ý kiến trái chiều của dƣ luận xã hội.
Một bộ phận ngƣời dân đánh giá quan hệ hôn nhân giữa những ngƣời
cùng giới tính là không phù hợp với chức năng xã hội của hôn nhân. Đây
cũng là một trong những vấn đề xã hội nhạy cảm, liên quan đến quan niệm
truyền thống về hôn nhân và gia đình, làm ảnh hƣởng đến thiết chế gia đình
truyền thống, có thể gây rối loạn cuộc sống, khó khăn trong công tác quản lý.
Lập luận đƣợc đƣa ra trong quan điểm phản đối này xuất phát từ các lý do
nhƣ: quan hệ hôn nhân giữa những ngƣời đồng tính không thể sinh con để
duy trì nòi giống; làm tăng quan hệ tình dục đồng giới – một loại quan hệ tình
dục đƣợc coi là không an toàn; ảnh hƣởng xấu đến quyền lợi của trẻ em; vi
phạm các chuẩn mực đạo đức trong xã hội; đi ngƣợc với quy luật tự nhiên,
không phù hợp với đa số dân số trong xã hội [15].
Nhóm khác nhìn nhận vấn đề này trên phƣơng diện quyền con ngƣời và
cho rằng hôn nhân là quyền cơ bản, việc kết hôn giữa hai ngƣời cũng giới
cũng không ảnh hƣởng tiêu cực đến xã hội và quan hệ gia đình [13]. Theo
quan điểm của nhóm này, quyền con ngƣời của ngƣời đồng tính phải đƣợc
Nhà nƣớc, xã hội và gia đình tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Cần chấp nhận
hôn nhân đồng giới đầy đủ và ngang bằng với hôn nhân của những ngƣời
khác giới vì đồng tính luyến ái là hiện tƣợng bẩm sinh, nhu cầu kết hôn của
ngƣời đồng tính là một nhu cầu tự nhiên giống nhƣ những ngƣời dị tính (có
xu hƣớng tính dục khác giới). Việc cấm kết hôn có thể tiếp tục dẫn tới sự kỳ
thị, ngƣời đồng tính dễ có những suy nghĩ hoặc hành động tiêu cực cho chính
bản thân họ, gia đình và xã hội.
Nhiều ngƣời khác lại có quan điểm trung lập, họ hiểu và không kì thị
ngƣời đồng tính cũng nhƣ mối quan hệ cùng giới và thừa nhận quyền chung


3


vấn đề rằng “hôn nhân” có thực sự bao gồm các cặp cùng giới không? Các lý
do khác đƣợc đƣa ra là vấn đề con cái, giá trị truyền thống và những tác động
trực tiếp và gián tiếp của hôn nhân đồng giới đến cá nhân, gia đình, xã hội.
Ấn bản “Same-sex marriage and the constitution” của tác giả Evan
Gerstmann (2008) đề cập đến sự bảo hộ về mặt pháp lý lâu dài đối với quyền
kết hôn của các cặp đôi đồng tính ở Mỹ. Theo đó, Hiến pháp Mỹ sẽ đảm bảo
cho hôn nhân đồng tính của các cặp đôi bởi “độc tôn dị tính” trong hôn nhân
là một lập luận không hợp lý. Nhóm đồng tính nam hay đồng tính nữ là những
nhóm nên đƣợc bảo vệ cao vì họ là nhóm thiểu số, nếu vì khuynh hƣớng tính
dục mà bị kì thị thì đây thực sự là một hình thức trá hình của sự phân biệt giới
tính. Tác giả cũng đã chỉ ra và phân tích lịch sử các quyền cơ bản để kết hôn
và cho thấy kết hôn là một trong những quyền đƣợc công nhận lâu đời nhất.
Tác giả đã tổng hợp lý do giải thích cho việc loại trừ hôn nhân đồng tính ra
khỏi quyền kết hôn, đó là: (1) Việc kết hôn trong một mô hình gia đình truyền
thống bao gồm sinh sản và nuôi dạy con cái, (2) Con cái là vấn đề cốt lõi của
cuộc hôn nhân, (3) Hôn nhân đƣợc định nghĩa trên cơ sở hai giới. Mặc dù vẫn
có rất nhiều ngƣời có thể không đồng ý với những giá trị của hôn nhân đồng
tính và có những phản ứng thô bạo với những tuyên bố của các cặp đồng tính,
song điều đó không thay thế đƣợc cho lý tƣởng tất cả đều bình đẳng trƣớc
pháp luật [22].
Nghiên cứu “Same-sex marriage and negative externalities” của Laura
Langbein và Mark Yost (2009) nhằm mục đích đánh giá xem việc công nhận
về mặt pháp lý hoặc cấm hôn nhân đồng tính có bất kỳ ảnh hƣởng xấu nào
đến xã hội, đặc biệt là tới các giá trị gia đình truyền thống hay không. Sử
dụng dữ liệu từ năm 1990-2004 tại các tiểu bang của Hoa Kỳ, nhóm tác giả
đã kiểm định giả thuyết của Hội đồng Nghiên cứu Gia đình rằng hôn nhân
đồng tính sẽ có tác động tiêu cực đến tỷ lệ kết hôn, ly hôn, phá thai, tỷ lệ trẻ



quả xã hội” tại 6 thành phố Hà Nội, Thái Nguyên, Đà Nẵng, Nha Trang, TP.
Hồ Chí Minh và Cần Thơ với mục tiêu nhận diện thực trạng kì thị và hậu quả
của sự kì thị đối với nhóm đồng tính nam (ĐTN). Qua phân tích số liệu định
tính và định lƣợng của nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân
lớn nhất dẫn đến sự kì thị với ngƣời ĐTN là do gia đình ngƣời ĐTN và ngƣời
dân trong cộng đồng hầu hết thiếu thông tin, kiến thức về tình dục đồng giới
nam. Chỉ có khoảng 1/3 ngƣời đƣợc hỏi (bao gồm ngƣời dân và cán bộ địa
phƣơng) trả lời là có biết mặt hoặc biết tên một ngƣời ĐTN nào đó. Phần lớn
ngƣời dân và cán bộ chính quyền ban ngành có rất nhiều ý kiến khác nhau về
nguyên nhân của tình dục ĐTN dựa trên sự cảm nhận và suy luận thiếu căn cứ
của mình. Nhìn chung, đa số ngƣời dân và cán bộ địa phƣơng coi đồng tính
nam là trái với tự nhiên (68%) và gần một nửa coi đó là “bệnh hoạn” (48%).
Có 36% ngƣời đƣợc hỏi cho rằng tình dục đồng giới là “tệ nạn xã hội” cần
xóa bỏ, 27% coi đó là kết quả của sự đua đòi, hƣ hỏng; khoảng 1/3 ngƣời
đƣợc hỏi tin rằng có thể “lây” ĐTN nếu chơi với họ. Song đối với những
ngƣời có quen biết ai đó là ĐTN thì họ thƣờng thông cảm hơn với nhóm này
và cho ý kiến về nguyên nhân của ĐTN gần với ý kiến của những ngƣời ĐTN
hơn so với những ngƣời chỉ đƣợc nghe thông tin mà chƣa có dịp tiếp xúc. Kết
quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng nguyên nhân thứ hai dẫn đến sự kì thị với
ngƣời ĐTN là do gia đình và cộng đồng còn có nhiều định kiến về giới và vai
trò giới mà sâu xa là từ quan niệm về khuôn mẫu giới với hai hệ thống giá trị
trong đó các đặc điểm nam tính nữ tính đƣợc đặt ở hai thái cực riêng biệt.
Quan niệm trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào trong tƣ tƣởng, mặc định vai trò
duy trì nòi giống, nối dõi tông đƣờng cũng nhƣ là trụ cột trong gia đình của
nam giới. Gia đình và cộng đồng nhìn thấy sự tồn tại của tình dục đồng giới
nam nhƣng lại không chấp nhận nó, coi đó là một điều trái với tự nhiên và trái
với thuần phong mỹ tục [18].


7


thông đại chúng đem lại. Những thông điệp mang tính định kiến sẽ tạo ra hay
củng cố những nhận thức sai lệch và thái độ kỳ thị [8].
Nghiên cứu “Sống chung cùng giới” do Viện Kinh tế, Xã hội và Môi
trƣờng thực hiện năm 2013 đi sâu tìm hiểu thực trạng mối quan hệ đồng giới
ở Việt Nam, bản chất mối quan hệ chung sống của ngƣời đồng giới và nhu
cầu hôn nhân của họ. Dựa trên những thông tin thu thập đƣợc từ phỏng vấn
sâu và điều tra trực tuyến trên các diễn đàn dành cho ngƣời đồng tính ở Việt
Nam, nghiên cứu đã khắc họa một bức tranh về cuộc sống của những cặp đôi
cùng giới. Theo đó, về nhu cầu của các cặp đôi cùng giới và cộng đồng đồng
tính – song tính – chuyển giới nói chung đối với việc hợp pháp hóa hôn nhân
cùng giới có 66% ngƣời trả lời trực tuyến cho biết sẽ lựa chọn hình thức kết
hôn với ngƣời cùng giới nếu đƣợc pháp luật công nhận. Có 97,4% ngƣời tham
gia trả lời mong muốn pháp luật có những hình thức công nhận sự tồn tại và
cung cấp bảo hộ đối với quan hệ cùng giới. Điều này xuất phát từ hai lý do:
thứ nhất, đó là nhu cầu cuộc sống thực tế của rất nhiều ngƣời đồng tính khi họ
muốn đƣợc chung sống, công khai cặp đôi của mình và đƣợc bảo đảm mọi
quyền lợi và nghĩa vụ trong hôn nhân. Thứ hai, luật hóa hôn nhân đồng giới
mang ý nghĩa đem lại sự bình đẳng cho mọi cá nhân trƣớc pháp luật [11].
Tuy nhiên một số kết quả nghiên cứu thực địa lại cho thấy nhìn chung,
quan niệm của xã hội về đồng tính cũng nhƣ hôn nhân cùng giới vẫn chƣa
đƣợc thay đổi một cách đáng kể.
Cuốn sách tổng luận các nghiên cứu “Người đồng tính, song tính và
chuyển giới ở Việt Nam” của Phạm Quỳnh Phƣơng (2013) nêu lên những
quan niệm khác nhau về hiện tƣợng đồng tính và nguyên nhân của đồng tính.
Theo tác giả, thái độ của cộng đồng xã hội với vấn đề này đều tỏ ra khoan
dung, không kì thị và phân biệt đối xử. Tuy nhiên có nhiều ý kiến tỏ ra quan



9


dung nhƣng không nên có thái độ và hành động mang tính chấp nhận hay
khích lệ cho các quan hệ đồng tính luyến ái nói chung và hôn nhân đồng tính
nói riêng. Theo tác giả, đứng về phƣơng diện luật pháp không thể cho phép
hôn nhân đồng tính. Hôn nhân đồng tính là bƣớc đi xa hơn rất nhiều so với
quan hệ đồng tính. Chƣa nói tới khía cạnh thuần phong mỹ tục, văn hóa xã
hội và truyền thống gia đình Việt Nam, hôn nhân đồng tính là điều khó chấp
nhận đƣợc vì các khía cạnh luật pháp và hậu quả xã hội mà nó để lại là rất
phức tạp [5, tr.78-79].
Báo cáo quốc gia Là người đồng tính, song tính và chuyển giới ở châu
Á (UNDP,USAID. 2014) đã chỉ ra rằng quan điểm truyền thống về giới tính
và tính dục trong văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa Á Đông nói chung
vẫn còn nặng nề và bảo thủ. Phần lớn cha mẹ của ngƣời đồng tính vẫn quan
niệm rằng giới tính, hôn nhân gia đình cần phải tuân thủ theo các giá trị
truyền thống. Vì vậy họ rất khó chấp nhận khi con cái mình có xu hƣớng tính
dục và biểu hiện lệch lạc so với chuẩn mực xã hội, từ đó có những hành động
phản đối gay gắt [20, tr.48]. Gia đình và xã hội nói chung thƣờng không đƣợc
tiếp cận với thông tin đúng về cộng đồng ngƣời đồng tính-song tính-chuyển
giới (LGBT) hoặc tiếp cận những thông tin tiêu cực từ truyền thông giải trí, vì
thế họ không hiểu về xu hƣớng tính dục và bản dạng giới nên khó thể đồng
cảm và chấp nhận.
Bài viết Nghi lễ, chuẩn mực và tính linh hoạt trong đời sống gia đình
của người Công giáo ở Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai
(2013) cho biết, đối với ngƣời Công giáo “Hôn nhân là sự kết hợp bất khả
tháo gỡ giữa một ngƣời nam và một ngƣời nữ, là nói đến sự kết hợp chặt chẽ
giữa hai ngƣời với nhau đã đƣợc chính tạo hóa se kết”. Đây có thể coi là một
chuẩn mực trong hôn nhân đối với những tín đồ Thiên Chúa giáo, họ quan

vấn đề hôn nhân cùng giới từ đó có thể cung cấp một số thông tin cần thiết
cho quá trình hoạch định chính sách trong tƣơng lai.

11


3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Nghiên cứu lý luận và tìm hiểu nhận thức, quan điểm của ngƣời dân đối
với thực trạng hôn nhân cùng giới, phát hiện và phân tích vấn đề, góp phần
cung cấp một số thông tin cần thiết cho quá trình hoạch định chính sách.
Mục tiêu cụ thể:
Nghiên cứu lý luận, tìm hiểu nhận thức và quan điểm của ngƣời dân về
ngƣời đồng tính vàhôn nhân cùng giới.
Tìm hiểu quan điểm của ngƣời dân về việc hợp pháp hóa hôn nhân
cùng giới, tác động của hôn nhân cùng giới tới cá nhân, gia đình, xã hội
Góp phần cung cấp một số thông tin cần thiết cho quá trình hoạch định
chính sách
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Nhận thức và quan điểm của ngƣời dân về hôn
nhân cùng giới
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung đánh giá nhận thức, quan điểm
của ngƣời dân về vấn đề hôn nhân cùng giới dựa trên số liệu nghiên cứu từ
cuộc khảo sát Trƣng cầu ý kiến ngƣời dân về hôn nhân cùng giới năm 2013

12


Khung phân tích nhận thức, quan điểm của người dân về vấn đề hôn nhân
cùng giới

xã/phƣờng thuộc 8 tỉnh/thành phố ở cả 3 miền của Việt Nam nhằm tìm hiểu
nhận thức, thái độ và quan điểm của ngƣời dân về hôn nhân cùng giới trong
bối cảnh Quốc hội chuẩn bị bổ sung chỉnh sửa Luật Hôn nhân và Gia đình.
Bản thân tác giả cũng đã trực tiếp tham gia cuộc nghiên cứu với tƣ cách là
điều tra viên, trực tiếp phỏng vấn lấy ý kiến ngƣời dân về các vấn đề trong nội
dung nghiên cứu.
Cuộc điều tra này nhấn mạnh sự tham gia và tham vấn lấy ý kiến ngƣời
dân về hôn nhân cùng giới nhằm hiểu rõ hơn quan điểm xã hội về hình thái
hôn nhân này và những tác động xã hội có thể có nếu hôn nhân cùng giới
đƣợc pháp luật thừa nhận.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, đề tài chỉ sử dụng các số liệu
từ cuộc điều tra có liên quan đến quan điểm, nhận thức của ngƣời dân về
ngƣời đồng tính, về việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới (bao gồm quan
điểm về việc pháp luật nên có những quy định nào về kết hôn cùng giới cũng
nhƣ nên công nhận những quyền nào cho các cặp đôi cùng giới) và quan điểm
về những tác động của hôn nhân cùng giới lên cá nhân, gia đình và xã hội.
Phương pháp phân tích tài liệu
Bên cạnh việc phân tích và xử lý số liệu từ Cuộc điều tra về Quan điểm
của ngƣời dân đối với hôn nhân cùng giới (sau đây gọi tắt là KSĐG 2013), đề
tài cũng tiến hành thu thập, tổng quan và phân tích các tài liệu thứ cấp có liên
quan đến ngƣời đồng tính và hôn nhân cùng giới.
Phƣơng pháp phân tích tài liệu là phƣơng pháp thu thập thông tin thứ
cấp thông qua các tài liệu có sẵn. Tài liệu trong điều tra xã hội học là vật chứa
đựng thông tin bằng ngôn ngữ, chữ viết, hiện vật, hình ảnh.
Sở dĩ đề tài sử dụng phƣơng pháp phân tích tài liệu bởi nó cung cấp cho
nhà nghiên cứu nhiều thông tin. Đặc biệt, những số liệu có đƣợc từ thống kê
14


có độ chính xác cao nên có thể sử dụng nhiều. Hơn nữa, sử dụng tài liệu có

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
đƣợc chia làm 2 chƣơng tƣơng ứng với 2 nội dung chính
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÔN NHÂN CÙNG GIỚI
1.1. Một số khái niệm làm việc
1.2. Lý thuyết và hƣớng tiếp cận
1.3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu và các quan điểm chính sách
Chƣơng 2: NHẬN THỨC VÀ QUAN ĐIỂM CỦA NGƢỜI DÂN VỀ HÔN
NHÂN CÙNG GIỚI
2.1. Thông tin chung về mẫu nghiên cứu
2.2. Nhận thức về ngƣời đồng tính và hôn nhân cùng giới
2.3. Quan điểm của ngƣời dân về những tác động của hôn nhân cùng giới
2.4. Quan điểm của ngƣời dân về việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới

16


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÔN NHÂN CÙNG GIỚI
1.1. Một số khái niệm nghiên cứu
Khái niệm nhận thức:
Theo quan điểm Triết học Mác-Lênin, nhận thức đƣợc định nghĩa là
quá trình phản ánh biện chứng hiện thức khách quan vào trong bộ óc của con
ngƣời, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nhận thức là quá trình biện chứng
của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con ngƣời, nhờ đó con
ngƣời tƣ duy và không ngừng tiến đến gần khách thể.
Theo Từ điển Triết học: Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở
trong tƣ duy của con ngƣời, đƣợc quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và
gắn liền với thực tiễn, nó phải là mục đích của thực tiễn, phải hƣớng tới chân
lý khách quan.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status