Đề cương giảng dạy Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới - Pdf 38

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN LỊCH SỬ ĐẢNG

( Nguồn: )

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
(TỪ NĂM 1986 đến nay)

Người biên soạn: TS NGUYỄN DANH TIÊN

HÀ NỘI 11-2011


A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

1. Mục đích
- Hiểu sâu sắc những nội dung cơ bản của đường lối đổi mới do Đại hội
VI của Đảng (12-1986) đề ra và quá trình bổ sung, phát triển đường lối đổi mới
qua thực tiễn hơn 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới.
- Nắm vững những nội dung Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới từ 1986
đến nay và thành tựu, kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo công cuộc
đổi mới.
2. Yêu cầu
- Nhận thức có hệ thống quá trình tìm tòi, khảo nghiệm và từng bước hoàn
chỉnh đường lối đổi mới; nội dung cơ bản của đường lối đổi mới được đề ra tại
Đại hội Đảng lần thứ VI (12-1986) và sự phát triển đường lối đổi mới qua các
kỳ Đại hội và Hội nghị Trung ương từ khóa VI đến khóa XI.
- Làm rõ tính đúng đắn và những giá trị lý luận - thực tiễn của quá trình
đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam cũng như sự phát triển về lý luận của Đảng trên tất cả các lĩnh vực

lộng quyền, tham nhũng.
- Đời sống của nhân dân, nhất là nông dân, công nhân viên chức gặp
nhiều khó khăn. Nhiều nhu cầu chính đáng của người dân như: ăn, nhà ở, thuốc
men, sinh hoạt văn hóa tinh thần nghèo nàn, thiếu thốn.
- Niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và
quản lý của Nhà nước giảm sút nghiêm trọng. Bởi Đảng và Nhà nước không
đảm bảo được những vấn đề thiết yếu của cuộc sống.

3


Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Người dân chỉ hiểu đúng
nghĩa của độc lập tự khi được ăn no mặc ấm". Người chỉ rõ: "chúng ta tranh được
tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm
gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ" 1.
- Lợi dụng những khó khăn của Việt Nam, các thế lực thù địch tích cực
kích động, lôi kéo người vượt biên trái phép. Trong xã hội xuất hiện làn sóng
người vượt biên trái phép đến Hồng Kông.
⇒ Nền kinh tế - xã hội rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng.
* Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội.
- Về khách quan
+ Hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh.
+ Điểm xuất phát của nền kinh tế thấp: mặc dù đã tiến hành xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc song kinh tế đất nước chủ yếu là kinh tế tiểu nông,
công nghiệp hầu như không có, các ngành dịch vụ không phát triển.
+ Các thế lực thù địch tiến hành bao vây cấm vận về kinh tế. Viện trợ của
các nước xã hội chủ nghĩa: Liên Xô, Trung Quốc giảm sút. Năm 1978, Trung
Quốc và Liên Xô chính thức cắt viện trợ.
+ Xảy ra chiến tranh biên giới phía Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc.
- Về chủ quan

-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Qua tổng kết thực tiễn và nhận thức rõ hơn về lý luận, Đại hội VI của
Đảng đã hoạch định đường lối đổi mới. Đường lối đổi mới là sản phẩm của tư
duy khoa học và thể hiện quyết tâm sửa chữa sai lầm trong nhận thức qui luật
khách quan và cả trong vận dụng và hành động trong thực tiễn.
Từ sau Đại hội VI của Đảng, nhất là từ khi có Cương lĩnh 1991, trong quá
trình lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam không
ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới, cụ thể hóa và thể chế hóa đường
lối, từng bước thực hiện có hiệu quả đường lối đổi mới.
2. Quá trình bổ sung, phát triển đường lối đổi mới
Thực hiện đường lối đổi mới, các kỳ Đại hội Đảng và Hội nghị Trung ương
không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới.
*Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6-1991)
Đại hội khẳng định:
- Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.

8


- Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là một phương
hướng chiến lược lớn.
- Cùng với phát triển kinh tế, phải chú trọng chính sách xã hội vì con
người, kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, xây dựng hệ
thống chính trị vững mạnh.
Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên CNXH và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH xác định
mô hình xã hội XHCN ở Việt Nam với 6 đặc trưng và 7 phương hướng để xây
dựng xã hội XHCN ở Việt Nam. Chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí

nghiệp CNH,HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN,
nhằm xây dựng một nước Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
- Đại hội xác định con đường đi lên CNXH ở nước ta là xây dựng đất
nước theo con đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh. Xác định mô hình kinh tế tổng quát thời kỳ quá độ là kinh tế thị
trường định hướng XHCN.
- Đại hội đề ra Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 10 năm 2001-2010
nhằm đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng nền tảng để đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp.
Đai hội X ( 4-2006)
- Tổng kết 20 đổi mới, Đại hội khẳng định: Nhận thức về CNXH và
con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ; hệ thống luận điểm về công cuộc
đổi mới, về xã hội XHCN và con đường đi lên CNXH Ở Việt Nam đã hình
thành trên những nét cơ bản.
- Đại hội tiếp tục khẳng định chủ trương: Phát huy sức mạnh toàn dân
tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đưa nước ta sớm ra khỏi tình trạng
kém phát triển, vươn lên trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
- Đại hội bổ sung thêm 2 đặc trưng của xã hội XHCN. Đó là, xây dựng
xã hội :dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh và xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dan, do nhân dân, vì nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng.

10


Đại hội XI ( 1-2011)
- Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH và 10 năm thực hiện Chiến lược kinh tế- xã hội 10 năm
( 2001- 2010), Đại hội khẳng định: Công cuộc đổi mới, CNH,HĐH đất nước đã

+ Cương lĩnh 2011 xác định: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên
LLSX hiện đại và QHSX tiến bộ, phù hợp.
- Bổ sung, điều chỉnh một số điểm:
+ Mở rộng biên độ “ do nhân dân làm chủ” thay cho cụm từ “ do nhân
dân lao động làm chủ”.
+ Điều chỉnh đặc trưng con người: bỏ cụm từ “ con người được giải
phóng khỏi áp bức, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động”. Thay
vào đó là: “ con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện
+ Điều chỉnh đặc trưng dân tộc: Thay cụm từ “ Các dân tộc trong nước
phát triển toàn diện”.bình đẳng, đơàn cộng kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”
bằng cụm từ “ Các dân tộc trong đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
và giúp đỡ nhau cùng phát triển”.
+ Trình bày rõ đặc trưng quốc tế: CL 2011 xác định “ có quan hệ hữu
nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”, bỏ cụm từ “nhân dân”.
* Thực hiện nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng, trong quá trình lãnh đạo
công cuộc đổi mới, tùy tình hình thực tế, các nhiệm kỳ Đại hội Đảng đã kịp thời
bổ sung, phát triển đường lối đổi mới, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
- Trong nhiệm kỳ khóa VI, trước những diễn biến phức tạp của tình hình
thế giới và trong nước, các Hội nghị Trung ương đã tập trung giải quyết những
vấn đề cấp bách:
+ Hội nghị Trung ương hai (4-1987), bàn và ra nghị quyết về phân phối
lưu thông.
+ Hội nghị Trung ương ba (7-1987) về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
theo hướng chuyển sang hạch toán và kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
+ Bộ chính trị ra Nghị quyết 10 (5-4-1988) về đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế trong nông nghiệp.

12





vấn đề chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân; về chính sách dân số- kế
hoạch hóa gia đình; về công tác thanh niên trong tình hình mới.
+ Hội nghị Trung ương năm (6-1993) ra Nghị quyết về đổi mới và
phát triển kinh tế nông nghiệp và xã hội nông thôn đến năm 2000.
+ Hội nghị Trung ương bảy (7- 1994) ra Nghị quyết về phát triển
công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng CNH, HĐH đất nước
và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới
+ Hội nghi Trung ương tám (11-1995) ra Nghị quyết về tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính nhà nước.
+ Trong số các Hội nghị Trung ương trong nhiệm kỳ khóa VII, Hội
nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ có vị trí đặc biệt quan trọng. Hội nghị đã
chỉ ra 4 nguy cơ trong quá trình tiến hành sự nghiệp đổi mới. Đó là:
Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, nguy cơ chệch hướng XHCN, nguy cơ
về nạn tham nhũng và tệ quan liêu, nguy cơ “ diễn biến hòa bình”. Hội
nghị xác định, đất nước ta bước vào thời kỳ mới- thời kỳ đẩy tới một
bước CNH, HĐH đất nước.
- Trong nhiệm kỳ khóa VIII, Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối
đổi mới trên các lĩnh vực:
+ Hội nghị Trung ương hai ( 12 -1996) ra Nghị quyết về định hướng
chiến lược phát triển giáo dục- đào tạo và khoa học- công nghệ trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước.
+ Hội nghị Trung ương ba ( 6 – 1997) ra Nghị quyết Về phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh; Nghị quyết Về Chiến
lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH.
+ Hội nghị Trung ương năm (7-1998) bàn và Nghị quyết Về xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

+ Hội nghị Trung ương ba (7-2006) ra Nghị quyết về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng lãng
phí.

15


+ Hội nghị Trung ương bốn (2- 2007) ra Nghị quyết về định hướng
đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
chính trị - xã hội; Về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh
tế phát triển nhanh, bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ
chức Thương mại thế giới.
+ Hội nghị Trung ương năm (7- 2007) ra các nghị quyết: Về công
tác tư tưởng, lý luận, báo chí; Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị; Về công tác
kiểm tra, giám sát của Đảng; Về đẩy mạnh cải cách hành chính.
+ Hội nghị Trung ương sáu (7- 2008) ra các nghị quyết: Về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy
mạnh CNH,HĐH; Về xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước.
+ Hội nghị Trung ương bảy ra nghị quyết: Về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn.
Qua các kỳ Đại hội Đảng và Hội nghị TW, đường lối đổi mới không
ngừng được bổ sung và phát triển để phù hợp với tình hình thực tiễn của
đất nước. Qua đó, khẳng định sự trưởng thành và vai trò lãnh đạo của
Đảng trong công cuộc đổi mới, CNH,HĐH đất nước.
3. Quá trình Đảng chỉ đạo công cuộc đổi mới
* Trên lĩnh vực kinh tế.
Các kỳ Đại hội Đảng, từ Đại hội VI đến Đại hội X và các Hội nghị Trung
ương đã bước đầu làm rõ những vấn đề lý luận kinh tế trong thời kỳ đổi mới. Đó là:

số vốn đăng ký mới và tăng thêm đạt khoảng 146,8tỷ USD, gấp 2,7 lần kế hoạch
đề ra và gấp 7 lần giai đoạn 2001-2005.
- Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được
hình thành. Nhà nước từng bước tạo ra khung pháp lý cho các yếu tố thị trường
bằng các luật như: Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật
Khuyến khích đầu tư nước ngoài, đồng thời thể chế hóa các chính sách về đất
đai, tín dụng, ưu đãi thuế...

17


- Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đẩy mạnh. Phát triển
mạnh mẽ các khu công nghiệp (cả nước có khoảng 280 khu công nghiệp) và
hình thành các vùng kinh tế trọng điểm.
- Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu GDP tăng nhanh từ 28,8% năm
1995 lên 41,1% năm 2010. Tỷ trọng các ngành dịch vụ tăng từ 33,1% năm 1988
lên 38% năm 2005 và 38,3% năm 2010. Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm
xuống còn 20,6% năm 2010.
- Kinh tế Việt Nam hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới Đến năm
2005, Việt Nam quan hệ thương mại với 221 nước và vùng lãnh thổ, ký 90 hiệp
định thương mại song phương.
*Về văn hóa, xã hội và con người
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
và các kỳ Đại hội Đảng VII, VIII, IX, X, XI, đặc biệt là NQTW4 (KII),
NQTW5(KVIII) và Kết luận NQTW10(KIX), Đảng đã từng bước đổi mới tư
duy lý luận và đường lối văn hóa.
- Văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu,
vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là nguồn lực nội sinh quan
trọng của phát triển.

những thành công trong thực tế.
- Đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình
quân đầu người tăng từ 200 USD năm 1990 lên 600 USD năm 2005 và 1.168
USD năm 2010. Năm 2011, thu nhập trên đầu người đạt khoảng hơn 1.200
USD.
- Công tác giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo đạt được những kết
quả tốt: Tỷ lệ nghèo đói giảm từ 30% năm 1992 xuống dưới 7% năm 2005 (theo
chuẩn cũ); từ 58% năm 1993 xuống còn 18,7% năm 2004 (theo chuẩn mới) và
từ 58% năm 1993 xuống còn 20% năm 2008 (theo chuẩn quốc tế). Tỷ lệ lao
động qua đào tạo đạt gần 40%. Đến năm 2010, Việt Nam đã hoàn thành trên 2/3
mục tiêu thiên niên kỷ.

1

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.101.

19


- Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới: Năm 2000 cả nước đạt
chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; đến giữa năm 2004,
20 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Tỷ lệ người lớn biết chữ
đạt 90,39%, trong khi các nước thu nhập thấp chỉ đạt 69%.
- Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở trẻ em giảm. Tuổi thọ trung bình của người
dân tăng từ 63 tuổi năm 1990 lên 71,3 tuổi năm 2005 và 73 tuổi năm 2010.
Chỉ số phát triển con người của Việt Nam tăng từ 109/171 nước năm 2001
lên 108/177 nước năm 2005 và 116/182 nước năm 2009.
Về hệ thống chính trị
Qua nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng và các nghị quyết Hội nghị

của giai đoạn hiện nay như vai trò của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ,
vấn đề toàn cầu hóa, kinh tế tri thức...
- Nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về chủ nghĩa tư bản, khẳng định khả
năng vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ
chính trị - xã hội khác nhau.
- Xác định mục tiêu, hoạt động đối ngoại là góp phần củng cố môi trường
quốc tế để phát triển kinh tế, kết hợp ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế.
- Đổi mới nhận thức về vấn đề đối tượng, đối tác theo tinh thần "thêm
bạn, bớt thù", "Việt Nam muốn là bạn và là đối tác tin cậy với tất cả các nước
trong cộng đồng thế giới".
- Thực hiện phương châm đối ngoại: Bảo vệ lợi ích dân tộc chân chính;
giữ vững độc lập, tự chủ, tự cường đi đôi với đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng
hóa quan hệ đối ngoại.
* Hoạt động đối ngoại giành được những thắng lợi to lớn.
- Phá thế bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa
phương hóa, đa dạng hóa; giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia.
Tham gia giải pháp chính trị vấn đề Campuchia (1989), bình thường hóa
quan hệ với Trung Quốc (năm 1991), với Hoa Kỳ (năm 1995); gia nhập ASEAN
(năm 1995); gia nhập WTO (năm 2006). Đến năm 2005, Việt Nam có quan hệ
với 167 nước trong số hơn 200 nước trên thế giới.
- Xác lập quan hệ ổn định với các nước như: Trung Quốc, Nhật Bản. Ký
Hiệp định hợp tác với EU năm 1995; tăng cường hợp tác với Trung Quốc theo

21


phương châm 16 chữ, tuyên bố quan hệ hợp tác chiến lược với Nga năm 2001 và
Nhật Bản năm 2008.
- Giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ biển, đảo với các
nước liên quan như Trung Quốc và các nước ASEAN.

"diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ; vô hiệu hóa hoạt động của các đối tượng
phản động trong và ngoài nước lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân
quyền, để gây mất ổn định.
- Quan tâm xây dựng, phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất
nước; xây dựng lực lượng vũ trang, đặc biệt là quân đội và công an theo hướng
chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
- Xây dựng được thế trận quốc phòng toàn quốc gắn với thế trận an ninh
nhân dân.
Về xây dựng Đảng
Lý luận về công tác xây dựng Đảng có những đổi mới quan trọng:
- Làm rõ hơn yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng cầm quyền trong điều kiện
mới.
- Khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng
tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng.
- Khẳng định nhiệm vụ xây dựng Đảng là then chốt; tự đổi mới, chỉnh đốn
là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng.
- Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, nâng cao trình độ trí tuệ, trong
sạch về phẩm chất đạo đức; có phương thức lãnh đạo khoa học.
- Chủ động đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái;
thường xuyên đấu tranh với các biểu hiện giáo điều và chủ nghĩa cơ hội dưới
mọi hình thức.
- Khẳng định sự cần thiết phải bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng; không
chấp nhận "đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập".
- Bổ sung và từng bước làm sáng tỏ lý luận về vai trò lãnh đạo của
Đảng trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Công tác xây dựng Đảng đạt được một số thành tựu quan trọng.

23


24


- Chậm đổi mới tư duy lý luận trên một số vấn đề quốc tế và trong công
tác đối ngoại. Khả năng dự báo về tình hình thế giới còn hạn chế.
- Lý luận về chiến tranh nhân dân trong điều kiện công nghệ cao và toàn
cầu hóa, hội nhập quốc tế chưa được cụ thể hóa.
- Lý luận về Đảng cầm quyền trong điều kiện kinh tế thị trường, dân chủ
và mở cửa, hội nhập quốc tế chưa được làm sáng tỏ.
* Trong thực tiễn
Những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước.
- Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên
thế giới ngày càng hiện hữu.
- Kinh tế phát triển chưa bền vững, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp.
- Việc huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho phát triển còn hạn chế.
- Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng
còn hạn chế.
- Những tiêu cực và tệ nạn xã hội ngày càng diễn biến phức tạp, phân hóa
giàu nghèo ngày càng tăng.
- Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc chưa
được phát huy cao độ.
- An ninh chính trị còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị xã hội, đe dọa chủ quyền quốc gia.
- Hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước và chính quyền các
cấp chưa cao, gây bức xúc trong nhân dân.
- Trong Đảng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, tư
tưởng và đạo đức, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu; tha hóa về lối
sống, quan liêu, xa rời quần chúng.
- Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí đang gây bất bình trong xã hội, làm
suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước.
4. Bài học kinh nghiệm 25 năm đổi mới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status