Quản lý chất thải rắn tại tp. Hồ chí minh những thuận lợi và khó khăn - Pdf 38

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN

GS.TS. Lâm Minh Triết,
KS. Nguyễn Thanh Hùng,
ThS. Nguyễn Thị Thanh Mỹ
Viện Môi trường và Tài nguyên – Đại học Quốc gia TPHCM TÓM TẮT:
Báo cáo này giới thiệu những vấn đề chính yếu liên quan đến quản lý chất thải rắn đô thị tại Thành
phố Hồ Chí Minh (TPHCM). Xuất phát từ các sự cố xảy ra liên tục trong các tháng 6 và tháng
7/2000 tại bãi rác Đông Thạnh, một bức tranh về thực trạng quản lý vận hành bãi rác được mở ra
và cũng chính từ đó, hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị TPHCM được xem xét lại một cách toàn
diện. Sự cần thiết phải quản lý thống nhất và tổng hợp chất thải rắn đô thị TPHCM và những định
hướng chiến lược quản lý chất thải rắn đô thị được đưa ra ở phần cuối của báo cáo là những vấn
đề cần được trao đổi và thảo luận tại hội thảo.

I. MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa tại TPHCM đã gia tăng
mạnh mẽ và đang có xu hướng tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới, gây ra nhiều áp lực
nặng nề đối với môi trường và cộng đồng. Nhiều vấn đề nan giải, những thách thức lớn
được đặt ra trong công tác bảo vệ môi trường nhằm phát triển ổn định và bền vững thành
phố. Bên cạnh nhiều khó khăn, tồn tại trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến nước
thải và ô nhiễm không khí, vấn đề chất thải rắn đang thật sự là một thách thức lớn, một mối
đe dọa khủng khiếp đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng. Vào thời điểm hiện nay
(8/2000), với dân số trên 5 triệu người; 12 Khu công nghiệp tập trung đang hoạt động,
khoảng 700 xí nghiệp công nghiệp có qui mô trung bình và lớn, khoảng 28.000 cơ sở sản
xuất công nghiệp nhỏ và tiểu thủ công nghiệp; 530 cơ sở y tế (trong đó có 35 bệnh viện),
67.000 căn nhà lụp xụp xây cất trên kênh rạch, và nhiều loại hình hoạt động khác… hàng
ngày TPHCM phải đối mặt với vấn đề giải quyết một khối lượng lớn chất thải rắn đô thị

chiều hôm trước đến
5
h
sáng hôm sau. Ban đêm, nơi đây là một công trường rất sôi động với một lực lượng khá
đông dân sống bằng nghề nhặt rác. Rác được chôn tại đây từ gần 10 năm qua, đến nay đã
trở thành một “núi rác” khổng lồ, cao đến trên 10m, cao hơn tường bao 2 ÷ 3 lần, đứng trên
đỉnh bãi rác có thể nhìn thấy một phần bao quát của thành phố.
Kỹ thuật chôn lấp rác tại đây hiện nay được tiến hành theo các bước: xe đổ rác xuống hố,
mỗi ngày sau khi đổ xong rác, xe nén rác được vận hành để trãi đều rác và nén chặt rác, kế
đó dùng xe rắc vôi bột lên bề mặt nhằm mục đích tẩy trùng, sau đó dùng 2 xe bồn để phun
chế phẩm EM nhằm hạn chế mùi hôi với lượng EM sử dụng mỗi ngày khoảng 1.000 lít,
cuối cùng dùng xe phủ cán một lớp đất mỏng (khoảng 3 ÷ 4 cm) lên trên bề mặt.

2.2. Những vấn đề liên quan được đặt ra
Với kết cấu và kỹ thuật chôn lấp rác như trên, bãi rác Đông Thạnh đang nảy sinh nhiều vấn
đề nhức nhối: nguy hiểm về mặt vệ sinh môi trường, khó khăn trong khâu quản lý, phức tạp
về mặt kinh tế – xã hội:
 Đang tiếp nhận quá tải lượng rác thải hàng ngày của thành phố;
 Nguy hiểm về mặt vệ sinh môi trường với các yếu tố đặc thù:
- Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc từ bãi rác (mặc dù đã có giảm đáng kể so với trước
đây khi chưa phun chế phẩm EM) và mùi do những người nhặt rác phơi bao bì
nylon dọc 2 bên đường nhựa;
- Các khí độc hại do rác phân hủy không có lối thoát, phun trào tự nhiên trên khắp bề
mặt bãi rác;
- Phát sinh ruồi nhặng, muỗi, các loài côn trùng và các động vật gặm nhấm khác, là
mầm gây bệnh là lây lan rất nguy hiểm (dân quanh vùng phải giăng mùng để ăn
cơm do có quá nhiều ruồi);
- Do không được chống thấm nên nước dò rỉ từ rác thấm xuống đất gây ô nhiễm các
tầng nước ngầm. Rất nhiều giếng đào và giếng khoan của dân xung quanh vùng này
không còn sử dụng được vì nước rất đen và bốc mùi hôi thối;

nữa) bằng cách đầu tư dẫn đường nước sạch của thành phố đến, lắp đồng hồ nước cho
các hộ dân và không thu tiền nước với yêu cầu người dân không sử dụng nước sạch
vượt quá mức qui định nhằm tránh lãng phí;
 Đã thực hiện chế độ bồi dưỡng thiệt hại cho dân với mức từ 25.000 ÷ 60.000 đồng mỗi
người/tháng trong cự ly khoảng cách đến 300m so với bờ bao quanh bãi rác;
 Đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải dò rỉ từ bãi rác với kinh phí 1,4 tỷ đồng, góp phần
giảm mức độ ô nhiễm COD từ 40.000 ÷ 50.000 mg/l xuống còn 4.000 ÷ 5.000 mg/l
trước khi xử lý bổ sung ở các hồ chứa (tuy nhiên từ tháng 3/2000 đến nay hệ thống xử
lý này tạm ngưng hoạt động vì lý do kinh phí và lý do chuẩn bị đầu tư đồng bộ với dự
án mở rộng bãi rác thêm 130 ha);
 Đã thử nghiệm xử lý bổ sung nước thải từ các hồ chứa bằng chế phẩm GWC (Grandy
Water Cleaner) do Công ty xử lý chất thải Grandy International (Canada) chuyển giao
công nghệ và kỹ thuật cho Công ty Dịch vụ Thương mại tổng hợp Thái Dương (Long
An) sản xuất chế phẩm này. Việc thử nghiệm đã được tiến hành tại hồ số 6 (một trong
số 11 hồ chứa nước thải tại bãi rác) có dung tích 58.500 m
3
, diện tích 13.000 m
2
, sâu 5
÷ 7 m và cao hơn nhà dân 5m; với liều lượng chế phẩm 0,6 ÷ 1 kg/m
3
nước thải. Kết
quả xét nghiệm (do Viện Môi trường và Tài nguyên thực hiện) bước đầu cho thấy hiệu
quả giảm COD từ 672 mg/l xuống còn 132 mg/l; BOD
5
giảm từ 200 mg/l → 60 mg/l;
SS giảm từ 400 mg/l → 83 mg/l. Giá thành xử lý 1 m
3
nước thải bằng chế phẩm này là
8.000 đồng ở tải trọng hữu cơ thấp như nêu trên.

 Chuẩn bị sẵn các bao cát và cừ tràm tại các nơi xung yếu để có thể gia cố ngay, không
để tiếp tục xảy ra sự cố;
 Lắp đặt 2 chòi canh tại góc hồ số 9, 6 và hệ thống đèn chiếu sáng dọc theo tường vào
các góc bãi rác;
 Thuê lao động thời vụ 20 ÷ 30 người tăng cường cho việc gia cố và bảo vệ các bờ bao
từ ngày ra thông báo đến hết tháng 8/2000;
 Thi công hoàn chỉnh hồ pha loãng tại ô số 8 và đặt thêm một tuyến ống thải nước mưa
ra sông;
 Nhanh chóng đấu thầu hệ thống xử lý nước thải giai đoạn II.
Ngoài ra, UBND Thành phố cũng đã yêu cầu Sở Giao thông Công chánh và UBND huyện
Hóc Môn nhanh chóng di dời các hộ dân bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường và nước rác
gây ra trong khu vực bờ bao đến bờ Rạch Tra, đồng thời thực hiện việc điều tra, bồi hoàn
thiệt hại, đền bù giải tỏa. Trước mắt, kinh phí đền bù giải tỏa và di dời lấy từ nguồn kinh
phí kế hoạch năm 2000 của Dự án cải thiện môi trường TPHCM.

III. TỪ SỰ CỐ BÃI RÁC ĐÔNG THẠNH – NHÌN LẠI VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CHẤT
THẢI RẮN TẠI TPHCM
Sự cố bãi rác Đông Thạnh gã gây xôn xao dư luận trong nước và kể cả ngoài nước, dấy lên
một hồi chuông cảnh báo cho các nguy cơ tương tự có thể xảy ra ở các bãi rác đô thị khác
của TPHCM nói riêng và Việt Nam nói chung. Không chỉ dừng lại ở khâu xử lý rác, mà
phải xem xét lại toàn bộ các khía cạnh có liên quan trong hệ thống quản lý chất thải rắn đô
thị, từ việc giảm thiểu chất thải tại nguồn, đến việc thu gom, phân loại, vận chuyển và xử
lý/tái chế chất thải rắn. Trong trường hợp quản lý chất thải rắn đô thị của TPHCM, một số
vấn đề trọng yếu sau đây cần được tiếp tục xem xét:

3.1. Nguồn thải và khối lượng chất thải rắn đô thị
Cũng giống như tại một số đô thị khác, chất thải rắn đô thị TPHCM là loại chất thải đa
thành phần có nguồn gốc chủ yếu từ các hoạt động: dân sinh và thương mại, công nghiệp và
y tế. Tùy thuộc vào qui mô dân số, mức sống và điều kiện sống; qui mô và ngành nghề sản
xuất công nghiệp, qui mô giường bệnh…, có thể tính toán và dự báo mức phát thải chất thải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status