kinh tế phát triển bất bình đẳng giới ở việt nam - Pdf 39

MỤC LỤC


CÁC TỪ VIẾT TẮT


LỜI MỞ ĐẦU
Đảng và Nhà nước ta luôn coi vấn đề bình đẳng giới(BĐG) và khuyến khích sự
tiến bộ của phụ nữa là một mục tiêu quan trọng.Việt Nam được Liên hợp quốc
đánh giá là quốc gia có nhiều thành tựu trong nỗ lực hướng tới BĐG.Tuy nhiên,sự
khác biệt trên cơ sở giới,đông thời việc còn tồn tại những cách hiểu chưa đúng về
BĐG vấn đang là rào cản đối với sự tiến bộ và phát triển của phụ nữa.Trong nhiều
liinhx vực của đời song sxax hội vẫn còn thể hiện sự bất BĐG,ngay cả trong cách
đối xử của những bậc cha,mẹ đối với các bé trai và bé gái trong gia đình.Trong thời
gian gần đây vấn đề bình đẳng giới đang được cả cộng đồng quốc tế đặc biệt quan
tâm. Bởi vì thực tế tình trạng bất bình đẳng giới đã và đang diễn ra phổ biến, đây là
một trong những nguyên nhân hạn chế quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Bất bình
đẳng giới cũng là nguyên nhân làm tăng đói nghèo, cản trở việc chăm sóc sức khỏe
dân cư, hạn chế các cơ hội tăng thu nhập và gây nên hàng loạt tổn thất khác cho xã
hội. Những nước tích cực thúc đẩy bình đẳng giới thường đạt được tốc độ phát
triển kinh tế xã hội cao và phát triển bền vững hơn. Theo Báo cáo đánh giá tình
hình giới ở Việt Nam, tháng 12/2006 của Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng
phát triển châu Á (ADB), Vụ phát triển quốc tế Anh (DFID) và cơ quan phát triển
quốc tế Canađa thì “Việt nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỉ lệ phụ
nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước nước tiến bộ hàng đầu
về bình đẳng giới, là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xóa bỏ
khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á [20, 61]. Tuy nhiên không
phải vì những thành tựu đó mà Việt Nam đã đạt được mục tiêu bình đẳng giới thực
sự. Thực tế cho thấy thực trạng bất bình đẳng giới, khoảng cách giới, phân biệt đối
xử về giới ở Việt Nam vẫn đang tồn tại trong đời sống xã hội, tiêu biểu như: định
kiến giới, bạo lực gia đình, bất bình đẳng về vị trí, vai trò của phụ nữ so với nam

+ Tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội...
+Thụ hưởng những thành tựu của sự phát triển.
- Theo Liên Hiệp Quốc:
Bình đẳng giới là nam giới và nữ giới, trong đó gồm cả cộng đồng người đồng
tính luyến ái và người chuyển giới cần nhận được những đối xử công bằng trong


tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội và quyền con người như: giáo
dục, y tế, văn hóa, hôn nhân, gia đình, việc làm, các chính sách phúc lợi...
1.3.Bất bình đẳng giới
Bất bình đẳng giới là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện và cơ hội
bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người đóng góp và hướng thụ
từ sự phát triển của gia đình của đất nước.
- Hay nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam giới và phụ
nữ tạo nên các cơ hội khác nhau, sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụ
hưởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
2. Bất bình đẳng và các thước đo bất bình đẳng giới
Bất bình đẳng giới được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và được đo bằng
các chi tiêu khác nhau. Trong báo cáo phát triển con người của chương trình phát
triển Liên hiệp quốc (UNDP) đã đưa ra 2 chỉ số:
- Chỉ số phát triển giới (GDI). Chỉ số này phản ánh những thành tựu trong các khía
cạnh tương tự như HDI (tuổi thọ bình quân, giáo dục, thu nhập) nhưng lại điều
chỉnh các kết quả đó theo bất bình đẳng giới. Trong mỗi nước, nếu giá trị của GDI
càng gần với HDI thì sự khác biệt theo giới tính càng ít (trường hợp của Na Uy và
Singapore-Bảng 4.9). Nếu thứ hạng GDI thấp hơn thứ hạng HDI cho thấy sự phân
phối không bình đẳng và phát triển con người giữa nam và nữ (Lucxămbua và Ai
Cập Xê út). Ngược lại, nếu thứ hạng GDI là cao hơn, cho thấy một sự phân phối
bình đẳng hơn về phát triển con người giữa nam và nữ.
Bảng 1. So sánh giá trị và xếp hạng theo HDI và GDI Một số nước chon lọcnăm 1999
Tên nước

1
26
19
58
89

- Thước đo vị thế giới (GEM).
Thước đo này tập trung xem xét cơ hội của phụ nữ chứ không phải là khả năng
(năng lực) của họ. Nó chỉ ra sự bất bình đẳng giới trên 3 khía cạnh:


+ Tham gia hoạt động chính trị và có quyền quyết định – được đo bằng tỷ lệ có
ghế trong quốc hội của phụ nữ và nam giới.
+Tham gia hoạt động kinh tế và có quyền quyết định – được đo bằng tỷ lệ các vị trí
lãnh đạo, quản lý do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm và tỷ lệ các vị trị trong nghành
kỹ thuật, chuyên gia do phụ nữ và nam giới đảm nhiệm.
+ Quyền đối với các nguồn kinh tế - đo bằng thu nhập ước tính của phụ nữ và nam
giới (PPP-USD).
Các nghiên cứu của UNDP về GDI và GEM của các nước đã chỉ ra rằng:
- Sự bình đẳng về giới cao hơn trong phát triển con người không phụ thuộc vào
mức thu nhập hoặc giai đoạn phát triển.
- Thu nhập cao không phải là điều kiện tiên quyết để tạo ra các cơ hội cho phụ nữ.
- Trong những thập niên qua, tuy đã có những tiến bộ vượt bặc về sự bất bình đẳng
giới nhưng sự phân biệt giới vẫn phổ biến trong mọi mặt của cuộc sống và ở các
nước trên thế giới.
Vì vậy bình đẳng giới được coi là vấn đề trung tâm của phát triển, là mục tiêu của
phát triển, đồng thời là một yếu tố để năng cao khả năng tăng trưởng của quốc gia
và xóa đói giảm nghèo.
Bằng chứng thực tế cho thấy, phát triển kinh tế thế giới và phát triển của các nước
đang phát triển đang mở ra nhiều hướng đi để nâng cao sự bình đẳng giới trong dài


Giai đoạn

Tổng điều tra dân số
2009: số sinh trong
12 tháng trước khi
điều tra
Số sinh tại các cơ sở
y tế
Điều tra hằng năm:
số sinh trong năm
trước
Tổng điều tra dân số
2009: trẻ em dưới 12
tháng tuổi
Ước lượng TSGTKS

110,6

4/2008-3/2009

Số ca
sinh sống
247.603

110,8

2008

1.458.537

tổng số sinh 247.603 do các bà mẹ báo cáo trong mẫu TĐTDS, TSGTKS của Việt
Nam là 110,6 tính cho giai đoạn 1 năm từ 4/2008 đến 3/2009. Khi xem xét khoảng


biến thiên của TSGTKS theo cỡ mẫu cho thấy TSGTKS thực tế dao động trong
khoảng từ 109,7 đến 111,5.
Như trình bày trong Bảng 1, TSGTKS này tương tự những ước lượng trước đây
được rút ra từ các nguồn số liệu khác. Đặc biệt, TSGTKS gần như tương đương với
mức 110,8 rút ra từ số liệu của Bộ Y tế dựa trên số sinh tại các cơ sở y tế trên cả
nước năm 2008. Ước lượng này dựa trên cỡ mẫu lớn hơn, nhưng chỉ hạn chế ở số
ca sinh tại các cơ sở y tế, vì vậy kết quả có thể bị sai số do báo cáo thiếu hoặc sai
số chọn mẫu. Mức 110,6 cũng gần với mức 111 ước lượng cho năm 2007 đã công
bố trong một nghiên cứu trước đây (UNFPA 2009). Ước lượng dựa trên số liệu
điều tra Biến động dân số hàng năm cũng cho giá trị tương tự, mặc dù số sinh được
báo cáo nhỏ hơn nhiều.So với hai nguồn số liệu trên, số liệu mẫu của Tổng điều tra
dân số cung cấp ước lượng mang tính đại diện hơn.
Rõ ràng, theo Bảng , mức TSGTKS hiện nay của Việt Nam là 110,6 cao hơn đáng
kể so với mức chuẩn sinh học bình thường là 105. Khoảng cách giữa giá trị tính
toán được và mức chuẩn sinh học là 5,6 trẻ em trai cho 100 trẻ em gái, tương
đương với 2,6% tổng số sinh hay 5,3% tổng số trẻ em trai. Điều này hàm ý rằng
một sự thay đổi nhỏ của số trẻ em trai sinh ra cũng làm thay đổi đáng kể TSGTKS.
Với mức TSGTKS như hiện nay, cơ cấu giới tính của dân số Việt Nam vẫn chưa bị
mất cân bằng như ở các quốc gia Châu Á khác. Tuy vậy, nếu TSGTKS này giữ
nguyên hoặc tiếp tục tăng sau năm 2010, cơ cấu giới tính của dân số sẽ bị ảnh
hưởng rõ rệt. Đoàn hệ của những bé trai được sinh ra sau năm 2005 và bước vào
tuổi lập gia đình vào năm 2030 sẽ dư thừa so với số phụ nữ cùng lứa tuổi. Đến năm
2035, mức dư thừa nam giới trưởng thành sẽ chiếm 10% tổng số nam giới và thậm
chí còn cao hơn nếu TSGTKS không trở lại mức bình thường trong vòng 20 năm
tới.
So sánh TSGTKS của Việt Nam với các quốc gia và khu vực khác cho thấy các

phải kết hôn sớm hơn, tỷ lệ ly hôn và tái hôn của phụ nữ sẽ tăng cao, tình trạng bạo
hành giới, mua dâm, mua bán phụ nữ sẽ gia tăng,... Vì thế TSGTKS được coi là
một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ bình đẳng giới.
- Theo các nhà khoa học xã hội, tác động chính của hiện tượng mất cân bằng giới
tính sẽ liên quan tới quá trình hình thành và cấu trúc gia đình, đặc biệt là hệ thống
hôn nhân. Nam giới trẻ tuổi sẽ bị dư thừa so với tỷ lệ nữ giới đang giảm dần trong
cùng một thế hệ, và kết quả là họ có thể phải đối mặt với những khó khăn nghiêm
trọng khi tìm kiếm bạn đời.Sẽ diễn ra tình trạng trì hoãn hôn nhân trong nam giới
hoặc gia tăng tỷ lệ sống độc thân. Ðiều này sẽ tác động ngược lại truyền thống gia
đình phụ hệ (theo họ cha) trong tương lai. Một tỷ lệ lớn nam giới độc thân sẽ


không thể duy trì gia đình phụ hệ như trước đây. Nếu không có can thiệp hiệu quả
để giảm mất cân bằng giới tính khi sinh thì sau 20 năm nữa Việt Nam sẽ có 4,3
triệu thanh niên ít có cơ hội lấy được vợ trong nước. Dù làm tốt can thiệp để giảm
mất cân bằng giới tính khi sinh thì con số đó cũng còn tới 2,3 triệu

2. Bất bình đẳng giới trong chính trị
Ngày nay người phụ nữ không chỉ lo việc bếp núc mà phải đi ra ngoài
làm việc, cuộc sống nâng cao thì cả chồng cả vợ mới có thể đủ khả năng
chăm sóc gia đình và nuôi nấng con cái. Tạicông sở, người phụ nữ nếu mà
được những chức vụ cao, những chức vụ khá quan trọng, thì vấn đề bình
đẳng giới tự nhiên bị đặt ra như một rào chắn, hay một vấn đề mà người phụ
nữ đó phải phấn đấu để vượt qua. Để khẳng định được mình trong vị trí lãnh
đạo và quản lý thì thứ nhất bản thân những phụ nữ đó phải có năng lực, phải
có trình độ, được đồng nghiệp tín nhiệm. Thực tế hiện nay nhiều phụ nữ có
năng lực và có trìnhđộ. Nam giới họ cũng khẳng định về năng lực và trình
độ đó. Tuy nhiên do quan niệm cho rằngphụ nữ lãnhđạo thì hiệu quả sẽkhôngcao
bằng nam giới, nên tỷ lệ phụ nữ có chức vụ cao vẫn còn hạn chế
2.1.Khái niệm

mạng Tháng 8 năm 1945 hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ. Tổ chức này với hàng chục triệu hội
viên hoạt động rộng khắp trên cả nước từ trung ương đến địa phương và tận các
thôn, buôn, sóc, bản, làng.
5. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:
a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù
hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;
b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà
nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.
*Chiến lược quốc gia
Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010, trong đó
mục tiêu thứ nhất là: “Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý,
lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị”.
Sau 10 năm thực thi luật và 6 năm thực hiện Chiến lược Quốc gia, mục tiêu bình
đẳng giới trong lĩnh vực chính trị vẫn chưa đạt được.
Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới đề ra mục tiêu: Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham
gia các cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2015 - 2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc
hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2015 từ 30% trở lên và
nhiệm kỳ 2016 - 2021 trên 35%; phấn đấu đến năm 2015 đạt 80% và đến năm
2020 đạt trên 95% bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân
dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ. Theo báo cáo của Chính phủ thì các chỉ
tiêu trên đây đều chưa đạt...


Thực tế cho thấy, thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị đang là một vấn
đề khó hiện nay.Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị tạo điều kiện thuận lợi để
thực hiện bình đẳng giới trong các lĩnh vực khác.Khi phụ nữ được giao các chức
vụ chủ chốt trong hệ thống chính trị thì việc xây dựng và thực thi pháp luật cũng
như việc thực hiện các chủ trương, chính sách liên quan đến bình đẳng giới sẽ

Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao năng lực, vị thế cho phụ nữ là một trong 8
mục tiêu của thiên niên kỷ. Mặc dù chúng ta đã đạt được những thành công đáng
kể về chỉ số sức khỏe, giáo dục, thu nhập và cơ hội nghề nghiệp của phụ nữ, nhưng
vẫn còn một khoảng cách lớn về bình đẳng giới trên hành trình đến với các vị trí
lãnh đạo, quản lý. Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết tập trung mô tả thực trạng
bình đẳng giới trong tham chính và góp phần gợi ý một vài hàm ý chính sách nhằm
từng bước tăng cường hơn nữa vị thế chính trị cho phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.
2.2.Thực trạng về sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý.
Báo cáo toàn cầu về khoảng cách giới năm 2011 (GGG) đã xếp hạng 135 quốc gia.
Điểm nổi bật là hơn 96% khoảng cách giới liên quan đến kết quả y tế và 93%
khoảng cách giới liên quan đến giáo dục được thu hẹp lại. Tuy nhiên, trong việc
tham gia các hoạt động kinh tế chỉ 59% khoảng cách được thu hẹp và trong trao
quyền chính trị tỷ lệ đó chỉ đạt 18%(2). Các nỗ lực của từng quốc gia trong việc
khắc phục những bất bình đẳng giới cũng không được duy trì liên tục, và mức độ
đại diện của phụ nữ trong các tổ chức chính trị, kinh tế và pháp luật còn thấp.
Các nghiên cứu về giới trên phạm vi toàn cầu đã đưa ra nhận định, các đảng chính
trị trên khắp thế giới chủ yếu do nam giới chi phối và điều này tác động tới văn
hóa, quá trình ra quyết sách và ai sẽ được phép tham gia các cơ quan ra quyết sách
chủ chốt.
Tại Việt Nam, sự tăng trưởng kinh tế trong những thập niên gần đây, đặc biệt kể
từ khi đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, đã tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp
cận các cơ hội giáo dục và đào tạo. Theo số liệu thống kê, Việt Nam đã đạt được
những tiến bộ lớn về các mục tiêu bình đẳng giới.Việt Nam đã rất thành công trong
việc nâng cao tỷ lệ học sinh nữ cấp tiểu học và trung học cơ sở. Hiện tại, tỷ lệ nhập
học tiểu học đối với trẻ em gái là 91,5% và trẻ em trai là 92,3%. Tỷ lệ nhập học
trung học cơ sở đối với trẻ em gái là 82,6% và trẻ em trai là 80,1% . Tỷ lệ nhập học
trung học phổ thông đối với trẻ em gái là 63,1% và trẻ em trai là 53,7%. Tỷ lệ phụ
nữ tham gia lực lượng lao động là 73% và nam giới là 82%. Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại
học là 36,24%; thạc sĩ: 33,95%; tiến sĩ: 25,69%. Trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà

gia Ban Bí thư Trung ương Đảng là 20% (2/10 đồng chí). Ở cấp địa phương, tỷ lệ
nữ là đại biểu hội đồng nhân dân tỉnh, huyện và xã ở các giai đoạn đều tăng, đặc
biệt là ở cấp xã.
Phụ nữ Việt Nam đã tham gia tích cực vào lãnh đạo, quản lý và bước đầu được ghi
nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, nếu so với tiềm năng và nguồn lực cán bộ nữ trong
hệ thống chính trị thì tỷ lệ cán bộ quản lý, lãnh đạo nữ còn hết sức khiêm tốn. Tỷ lệ
nữ đại biểu Quốc hội có xu hướng tăng không bền vững và có dấu hiệu giảm trong


2 nhiệm kỳ liên tục (Khóa X đạt 26,2%, khóa XI đạt 27,3%, khóa XII đạt 25,7% và
khóa XIII chỉ còn 24,4%), chưa đạt chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ
của phụ nữ đến 2010 (phấn đấu đạt từ 33% trở lên). Tỷ lệ cán bộ nam và nữ nắm
giữ các vị trí ra quyết định vẫn còn một khoảng cách khá xa, quyền quyết định ở
các cấp vẫn chủ yếu là cán bộ nam. Năm 2008, Việt Nam xếp thứ 89 trên tổng số
93 nước xếp hạng về có các chức danh bộ trưởng là nữ. Đặc biệt, tỷ lệ cán bộ lãnh
đạo nữ ở cấp xã, thôn là rất thấp. Nếu thiếu lực lượng này thì nguồn cán bộ nữ cho
những vị trí cấp cao hơn trong những năm tới sẽ gặp khó khăn.
Phụ nữ là lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đảng cũng hết sức khiêm tốn, chỉ có
8,57% trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và 2/16 nữ là ủy viên Bộ
Chính trị. Xu hướng tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành Trung ương tăng không ổn
định qua các nhiệm kỳ (8,6% nhiệm kỳ 2001 2006; 8,13% nhiệm kỳ 2006 2010;
8,57% nhiệm kỳ 2011 2016). Đối với cấp tỉnh, huyện và xã cũng chưa đạt đến
20% tỷ lệ là nữ trong cấp ủy.Ở cấp đảng bộ cơ sở, tỷ lệ nữ nắm giữ các vị trí chủ
chốt còn thấp.
3. Bất bình đẳng giới trong giáo dục
3.1.Khái niệm
Ta hãy xác định bất bình đẳng về giáo đục theo hai góc độ:
Thứ nhất, bất bình đẳng về giáo đục là sư phấn phối (phấn chia) những thành tựu
giáo đục đạt được cho các thành viên một cách ngẫu nhiên trong xã hội như thế
nào. Theo góc độ này, bất binh đấng về giấo dục được so gánh tương tụ như bất

những cợ sổ xã hội khác nhau như thể nào. Cơ sổ xã hội được xác định qua năm
nhóm chi tiêu của hộ gia đình (các nhóm ngũ phân vị về chi tiêu) và khu vưc cư trú
ổnông thôn hay đô thị. Dưới góc độ này, ta đo lường bất bình đẳng về cợ hội giáo
đục theo tỉ lệ đi học đúng tuổi trong năm của toàn bộ dân số trong độ tuổi đi học và
đượcthể hiện trong bảng sau:


Bảng 2: Tỉ lệ đi học đúng tuổi theo các nhóm chỉ tiêu, đô thị và nông thôn
Cơ sở xã hội

VLSS93

VLSS98
VLSS93
VLSS98

Nhóm 1
(Nghèo)
Nhóm chỉ tiêu 2
Nhóm chỉ tiêu 3
Nhóm chỉ tiêu 4
Nhóm chỉ tiêu 5
(Giàu)
Phân hóa (Lần)
Nhóm 1
(Nghèo)
Nhóm chỉ tiêu 2
Nhóm chỉ tiêu 3
Nhóm chỉ tiêu 4
Nhóm chỉ tiêu 5

81,49
84,96
84,77

27,82
34,90
44,60
54,65

3,74
7,54
14,52
25,57

0,61
0,65
1,90
4,56

1,30
84,80

2,90
35,09

11,50
5,20

0,46


31,8
1,75
81,94
57,18
1,43

12,40
30,16
6,93
4,35
54,92
21,91
2,51

61,20
4,39
1,02
4,30
21,25
21,25
5,38

Trong bảng trên, qua hai năm 1993 và 1998, ta thấy:
-Theo nguồn gốc gia đình, trẻ em sống trong các gia đình thuộc 5 nhóm dân số
(quintile) có mức chi tiêu khác nhau thì có ti lệ đến trường cũng khác nhau. Nhóm
chi tiêu 5 giàu nhất luôn có ti lệ con em đi học cao nhất trong tất cả các cấp học.
Trái lại, nhóm chi tiêu 1 nghèo nhất thì luôn có ti lệ con em đi học thấp nhất trong
tất cảcác cấp học.Theo môi trường (hoàn cảnh) xã hội, trẻ em sống ổ hại khu vưc
nông thôn và đô thị khác nhau thì cũng có ti lệ đến trường khác nhau. Khu vưc đô


năm 1998.


+ Ở độ tuổi cao đẳng đại học:năm 1993 không có thong tin cho nhóm nghèo,nhưng
đến năm 1998 chênh lệch này lên đến 61,2 lần.Nếu thay nhóm nghèo năm 1993
bằng nhóm chi tiêu 2,thì ta thấy chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm thứ 2 là 7,5
lần(4,56/0,61).Nhưng đến năm 1998,chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm thứ 2 đã
tăng lên 37,0 lần(28,13/0,76).Sự chênh lệch này ở Việt Nam là rất lớn.
3.3.Thực trạng
Bình đẳng giới trong giáo dục làm tăng chất lượng nguồn nhân lực trung bình của
xã hội.Nếu chúng ta giả định rằng, trẻ em trai và gái có khả năng thiên bẩm như
nhau và những đứa trẻ có khả năng hơn sẽ được học tập và đào tạo nhiều hơn, thì
việc thiên vị trẻ em trai có nghĩa là những trẻ em trai có tiềm năng thấp hơn trẻ em
gái lại được học hành nhiều hơn, như thế, chất lượng nguồn nhân lực trong nền
kinh tế sẽ thấp hơn mức có thể đạt được và kìm hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế.
Bình đẳng giới trong giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng nguồn nhân
lực của tương lai. Khi mức độ bất bình đẳng giới trong giáo dục giảm đi, tức là ở
mỗi cấp đào tạo, tỷ lệ nữ so với nam tăng lên và khi trình độ và nhận thức của phụ
nữ trong gia đình được cải thiện, số lượng và chất lượng đầu tư cho giáo dục đối
với con cái sẽ được cải thiện trực tiếp thông qua sự dạy dỗ của người mẹ cũng như
khả năng thuyết phục hoặc quyền của người mẹ trong việc đầu tư nhiều hơn cho
giáo dục đối với con cái. Ngoài ra, trình độ của người mẹ cao hơn, đóng vai trò
quyết định trong việc chăm sóc và dinh dưỡng đối với con cái. Về lâudài, các tác
động này sẽ làm cho chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện và năng suất lao
động trung bình của toàn xã hội sẽ được nâng lên.
Tại Việt Nam Phụ nữ và trẻ em gái được tạo điều kiện bình đẳng với nam giới
trong nâng cao trình độ văn hóa và trình độ học vấn. Ngân sách nhà nước chi cho
giáo dục qua các năm không ngừng tăng lên: năm 2002 chiếm 16,7%; năm 2005
chiếm 18%; năm 2008 chiếm 20% so với tổng ngân sách. Mức chi cho giáo dục
của Việt Nam cao ngang bằng với một số nước phát triển. Kết quả của những ưu

biết chữ thấp hơn 29% so với nam giới, số năm đến trường trung bình thấp hơn
45% so với nam giới và tỷ lệ nhập học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ
thông của nữ thấp hơn tương ứng là 9%, 28% và 49% so với nam.
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tự quan trọng về bình đẳng giới. Tuy nhiên,
theo kết quả điều tra chọn mẫu của Ngân hành Thế giới1, năm 1997 – 1998, tỉ lệ
dân số nữ từ 15 tuổi trở lên chưa đến trường là 13,4%, nhiều hơn hai lần tỉ lệ nam:
5,2%. Số năm đi học trung bình của dân số nam từ 6 tuổi trở lên là 6,7 năm, nhiều
hơn số năm đi học của nữ: 5,6%.

1


Biểu đồ và bảng số liệu:
Số lượng học sinh phổ thông tại thời điểm ngày 31 tháng 12 giai đoạn
2000 – 2009 phân theo giới tính


Năm:

2000-

2001-

2002-

2003-

2004-

2005-


Na

Na

Na

Na

Na

Na

m

Nữ m

Nữ m

Nữ m

Nữ m

Nữ m

Nữ m

Nữ m

Nữ m

8

6

4

1

1

312 274 330 295 336 306 343 313 342 319 327 309 341 296 297 283 280 266
THCS

3

1

0

9

8

3

6

4

3

6

9

1

8

1

9

7

8

0

5

5

7

5

3

Số học
sinh

điều này diễn ra ở cả trên thế giới và ở Việt Nam.
Có rất nhiều bằng chứng cho thấy trẻ em chịu thiệt thòi trực tiếp từ việc mẹ
chúng mù chữ hoặc không được đến trường.Không được đi học dẫn đến chất lượng
chăm sóc con cái thấp, điều này lại khiến tỉ lệ tử vong và suy dinh dưỡng ở trẻ em
và trẻ sơ sinh cao. Những bà mẹ có trình độ học vấn cao thường có hành vi bảo vệ
sức khỏe cho con cái phù hợp hơn, chẳng hạn như cho con cái đi tiêm chủng.


Ngoài ra, trình độ của người mẹ cao hơn đóng vai trò quyết định trong việc
chăm sóc và nuôi dưỡng con cái. Về lâu dài, các tác động này sẽ làm cho chất
lượng nguồn nhân lực được cải thiện và năng suất lao động trung bình của toàn xã
hội sẽ được nâng lên.
Mặt khác, kể cả các nước có nền kinh tế mới phát triển như Trung Quốc, Hàn
Quốc, khi vấn đề bình đẳng giới không được giáo dục cũng ảnh hưởng rất lớn khi
những định kiến “trọng nam” trong xã hội cộng với chính sách chỉ đẻ một con của
Trung Quốc đã khiến tỉ lệ tử vong của bé gái cao hơn của bé trai. Theo một số ước
tính, số phụ nữ đang sống hiện nay ít hơn từ 60 – 100 triệu người so với con số khi
không có sự phân biệt đối xử theo giới2.
Bất bình đẳng giới trong giáo dục làm giảm chất lượng nguồn nhân lực trung
bình của xã hội. thực vậy, nếu chúng ta giả định rằng, trẻ em trai và gái có khả
năng thiên bẩm như nhau và những đứa trẻ có khả năng hơn sẽ được học tập và
đào tạo nhiều hơn, thì việc thiên vị trẻ em trai có nghĩa là những trẻ em trai có tiềm
năng thấp hơn, như thế, chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế sẽ thấp hơn
mức có thể đạt được và kìm hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế.
3.5. Một số nguyên nhân của bất bình đẳng giới trong giáo dục
Hiện tượng bất bình đẳng tạo ra những hệ quả xã hội to lớn.Ảnh hưởng từ
quá trình tiếp cận nguồn lực của nam giới và phụ nữ đến sự phát triển của xã hội là
một thực tế đã được chứng minh. Vậy, nguyên nhân tại sao sự phân biệt đó vẫn cứ
tồn tại dai dẳng? Một số kiểu bất bình đẳng giới còn khó thủ tiêu hơn cả các hiện
tượng xấu khác của xã hội?Dưới đây là một số yếu tố ảnh hưởng đến các quan hệ

Như vậy, các thể chế xã hội, thể chế kinh tế, hộ gia đình và các chính
3



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status