NHỮNG BÀI VĂN MẪU NHỮNG SO SÁNH TRONG CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ VÀ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ - Pdf 39

VĂN MẪU 11: CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – NGUYỄN TUÂN
NHỮNG BÀI VĂN MẪU NHỮNG SO SÁNH TRONG CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
VÀ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

Đề số 1: Phân tích những biểu hiện đặc sắc của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
trong tuỳ bút "Người lái đò sông Đà” so sánh với "Chữ người tử tù", nhận xét về
những chỗ thống nhất và chỗ khác biệt trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
trước và sau cách mạng.

"Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa" (Nguyễn Minh Châu).
Toàn bộ cuộc đời cũng như gần 5000 trang viết của ông đã tạo nên một "huyền sử" huyền sử của một người ưu lối chơi "độc tấu". Cung đàn văn chương Nguyễn Tuân được
viết trên cùng một khuông nhạc nhưng với thanh âm trầm bổng khác nhau của các nốt
nhạc. Phong cách Nguyễn Tuân vì vậy mà có sức hấp dẫn người đọc. Những nét thống
nhất và khác biệt ấy thể hiện rõ qua hai tác phẩm "Chữ người tử tù" (1939) và "Người lái
đò sông Đà" (1960).
Sau nhiều lần đến với Tây Bắc đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958 tại nơi đây
Nguyễn Tuân đã viết tập tuỳ bút "Sông Đà". "Người lái đò sông Đà" được coi là một
trong những tác phẩm thành công xuất sắc nhất của tập tuỳ bút này. Với khát khao truy
tìm "chất vàng mười của tâm hồn vùng Tây Bắc" - "thứ vàng mười đã được thử lửa" (Đi
mở đường), Nguyễn Tuân đã viết lên bài ca cuộc sống của con người và thiên nhiên Tây
Bắc với nhiều nét độc sáng mới lạ.
Những nhà văn lớn phải là những nhà phong cách lớn. Sinh thời Nguyễn từng ao
ước khi chết đi sẽ mang theo nguyên cảo của mình và không để lại bất cứ bản sao nào
khác trên cuộc đời. Có lẽ, cái Nguyễn Tuân sợ mất đi nhất chính là phong cách, cá tính
của mình. Phong cách nghệ thuật chính là diện mạo thẩm mĩ độc đáo, riêng biệt của nhà


văn trong cách sáng tác, được tạo thành bởi sự thống nhất của các phương tiện biểu hiện,
phù hợp với cái nhìn riêng biệt của nhà văn về đời sống. Phong cách nghệ thuật được
hình thành nhờ sự lặp đi lặp lại một số yếu tố thuộc phạm trù nội dung và hình thức một
cách có thẩm mĩ, xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của tác giả. Đặc trưng nhất quán đầu tiên

sông Đà, Nguyễn Tuân đã thực sự bị cuốn hút bởi sự khác thường của nó:
"Chúng thuỷ giai Đông tẩu
Đà giang độc Bắc lưu"
Nếu sông Đà cứ chảy xuôi dòng như bao con sông khác thì có lẽ
sẽ chẳng bao giờ Nguyễn Tuân viết về nó, bởi không có gì đặc biệt thì làm sao có thể hấp
dẫn ngòi bút của nhà văn?! Một dòng sông hung bạo và trữ tình, khám phá nó như trèo
lên một cái cây đầy gai, nhưng trên ngọn là quả ngọt, không ít khó khăn nhưng cũng đầy
thú vị. Nguyễn Tuân đã chọn đúng đối tượng miêu tả để mang lại cho người đọc cảm
giác kỳ thú, tò mò khi ở nơi thượng nguồn sông Đà và chợt khoan khoái, yên bình khi về
đến hạ lưu. Màu nước sông cũng rất độc đáo tưởng như những chiếc khăn với màu sắc
khác nhau mà núi rừng Tây Bắc quàng lên mình mỗi khi chuyển mùa: "Mùa xuân dòng
xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông
Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái
màu đỏ giận giữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về".
Nguyễn Tuân cũng có cách cảm nhận về ngoại hình người lái đò rất độc đáo.
Người lái đò ấy dù gần 70 tuổi, nhưng vẫn tráng kiện, có thân hình "cao to và gọn quánh
như chất sừng, chất mun" cùng với "cái đầu quắc thước", "đôi cánh tay trẻ tráng"… Nét
riêng ấy của ông lái đò đã cho ta một cách cảm nhận về những con người lao động khoẻ
khoắn, từng trải nơi rừng núi Tây Bắc. Những vẻ đẹp độc đáo trong văn Nguyễn Tuân đã
gây ấn tượng với người đọc ngay từ những trang đầu tiên, là nét phong cách dễ nhận ra
nhất của ông.


Một nét đặc sắc nữa trong phong cách Nguyễn Tuân là ông thường miêu tả những
cảnh đẹp tuyệt mỹ, tuyệt đích; cái đẹp ấy là sự hội tụ của cái đẹp thi vị trữ tình và vẻ đẹp
hoàng tráng dữ dội đến dữ dằn.
Ta bắt gặp một không khí hừng hực lửa cháy và khói trắng trong đêm cho chữ ở
nhà tù Tỉnh Sơn (Chữ người tử tù). Đây là ấn tượng của Nguyễn Tuân về một "cảnh
tượng xưa nay chưa từng có". Những tưởng sẽ chẳng có cảnh gì đẹp giữa không gian nhà
tù u tối, "chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián".

lưu: "Dòng sông quãng này lững lờ như thương nhớ những hòn thác đá xa xôi để lại trên
thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của
người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải no khác hẳn
những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển dòng trên". Đọc "Chữ người tử tù" ta không
thể nào quên những câu văn đầy chất thơ của ông: "Trong khung cửa sổ có nhiều con
song kẻ những nét đen thẳng lên nền trời lốm đốm, tinh tú, một ngôi sao hôm nhấp nháy
như muốn tụt xuống phía chân giời không định". Cái nhịp điệu buồn buồn, kéo dài văng
vẳng một nỗi tiếc nuối như thấm vào câu văn. Chính câu văn giàu nhịp điệu và âm vang
cho nên Vũ Ngọc Phan có cảm tưởng "Đọc lên nó ngân sâu như những tiếng đàn trầm".
Sự vận động, đổi mới trong phong cách nghệ thuật tồn tại song song với tính
thống nhất, ổn định của phong cách nghệ thuật. Quy luật sáng tạo đòi hỏi người nghệ sĩ
phải biết vượt lên chính mình và không được dẫm lên dấu chân người khác. Phong cách
Nguyễn Tuân cũng có sự vận động theo chiều hướng tích cực ấy. Trước và sau cách
mạng là cả một sự thay đổi kì diệu trong văn ông. Cách mạng đã giải thoát cho tâm hồn
và nghệ thuật Nguyễn, hướng nhà văn tới cuộc sống và nhân dân.
Trước cách mạng, Nguyễn Tuân tách rời cái đẹp khỏi cái có ích, đề cao cái đẹp
thuần tuý, không vụ lợi. Ông nâng niu, trân trọng và khao khát cái đẹp. Nhưng trong đêm
tối trước cách mạng, cái đẹp đâu dễ tìm, vây bủa xung quanh người nghệ sĩ toàn cái xấu
xa, lừa lọc, với xã hội "kim tiền, chó đểu" (Vũ Trọng Phụng). Nguyễn đã quay ngược thời
gian tìm cái đẹp trong quá khá, ít quan tâm đến thực tại mà chỉ chú trọng tới cảm giác chủ


quan của mình. Ông tìm đến những con người mang nét tài hoa thiên về lĩnh vực nghệ
thuật. Ngợi ca cái đẹp nhưng ông vẫn vẽ lên một bức tranh héo úa, tàn tạ, hắt hiu về một
thế giới tàn lụi trong "Chữ người tử tù". Vui say với cái đẹp của nghệ thuật thư pháp, trân
trọng cái thiên lương, trong sáng, nhân cách hơn đời của Huấn Cao nhưng nhà văn vẫn
trầm ngâm nuối tiếc bởi Huấn Cao sẽ phải chịu án và lìa xa cõi đời. Biết bao mến thương,
luyến tiếc khi Nguyễn Tuân để quản ngục "chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ
vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào". Có phải giọt lấp lánh ấy, cái nghẹn ngào kia cũng
chính là của Nguyễn Tuân, cái đau xót của lòng Nguyễn đã tràn ra câu chữ?

của tuỳ bút Nguyễn Tuân. Sự chuyển hướng này phù hợp với cái tôi, bản lĩnh Nguyễn
Tuân. Có thể nói trong thể loại tuỳ bút trong làng văn Việt Nam đã xuất hiện Thạch Lam,
Vũ Bằng, Bàng Sơn… nhưng chưa ai theo kịp được "thể phách Nguyễn Tuân".
Ngôn ngữ nghệ thuật trong "Người lái đò sông Đà" cũng trở nên giản dị, dễ hiểu
hơn dù vẫn rất hàm súc và trau chuốt.
Nếu cần phải minh hoạ cho bản chất sáng tạo của văn học thì phải kể đến Nguyễn
Tuân - người với những trang văn tài hoa, độc đáo đã tạo ra không chỉ một con đường,
một lối đi riêng mà phải nói là một "đại lộ" riêng trên các ngả khai phá của văn học Việt
Nam. Trên "đại lộ" ấy ta bắt gặp nét quen thuộc và cả những điều mới mẻ - cái làm nên
hồn cốt Nguyễn Tuân.


Đề số 2: So sánh người lái đò trong “Người lái đò sông Đà” với nhân vật Huấn Cao
trong"Chữ người tử tù" để thấy sự chuyển đổi phong cách nghệ thật của Nguyễn
Tuân.

1.Hoàn cảnh
* Điểm chung
– Phải đối mặt với một môi trường sống chứa đựng nhiều nguy hiểm, đầy thử
thách.
– Môi trường ấy đồng thời cũng là cơ hội để họ bộc lộ trọn vẹn những vẻ đẹp độc
đáo trong tâm hồn, tính cách, khả năng của họ.
* Điểm riêng
– Huấn Cao
+ Chế độ phong kiến suy tàn, bắt đầu bộc lộ tính chất xấu xa, đen tối.
+ Vì chống lại triều đình phong kiến mà Huấn Cao đã bị bắt, bị xử án tử hình, bị
giam cầm để chờ ngày ra pháp trường chịu án chém. Những ngày cuối cùng của cuộc đời
ông phải sống trong buồng giam tử tù, nơi không có chỗ cho sự tồn tại của thiên lương
hay cái đẹp. Do đó, Huấn Cao luôn phải chuẩn bị tâm thế cho những trò đốn mạt, cạm
bẫy xấu xa của kẻ tiểu nhân.

giúp ông ổn định thế trận, hoá giải sức mạnh của mọi đòn tấn công.
Với sự linh hoạt của động tác, ông lái đò đã đưa chiếc thuyền vượt qua thạch trận.
Lúc thì đè sấn lên sóng thác mà đi, chặt đôi sóng mà tiến,… Con thuyền dưới sự điều
khiển của ông lái đò khi tiến khi thoái, khi công khi thủ. Có lúc nó lao vút như một mũi
tên tre, xuyên nhanh qua nước, vừa bơi, vừa tự dộng lái được, lượn được.


Qua mỗi trùng vi thạch trận, ông lái đò lại đổi tay lái và đổi luôn chiến thuật.
Trong trận chiến trên sông, không phải không có lúc người lái đò méo bệch mặt đi vì
những vết thương bởi sóng đánh đòn âm, đòn tỉa vào chỗ hiểm. Nhưng chính nhờ xự linh
hoạt của động tác, sự biến hoá của chiến thuật đã khiến cho lũ đá nơi ải nước phải tiu
nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng. Con thuyền của ông lái đò đã bỏ lại phía sau mình tiếng
gieo hò của sóng thác để thanh thản hoà mình vào một không gian mới, không khí mới
trên chính con sông vừa mới đây thôi còn là đối thủ trong trận chiến sinh tử.
Khí phách hiên ngang, bất khuất trước những hiểm nguy, thử thách không chịu
đầu hàng, lùi bước mà sẵn sàng đối mặt với một tâm thế bình thản, ung dung nhất có thể.
Thậm chí, họ còn coi những hiểm nguy như một niềm sinh thú trong cuộc sống của mình.
* Điểm chung: Coi những hiểm nguy như một niềm sinh thú trong cuộc sống của
mình
– Huấn Cao: Quản ngục vì lòng cảm mến Huấn Cao, muốn ông được sống những
ngày cuối cùng thoải mái nên đã biệt đãi người tử tù nguy hiểm. Hằng ngày, quản ngục
đều sai người mang rượu thịt vào tận buồng giam tử tù. Do chưa biết rõ về con người
quản ngục nên trong mắt Huấn Cao, rượu thịt đưa vào là một thứ cạm bẫy. Nhưng ông
không hề né tránh mà vẫn đón nhận như một thú bình sinh.
– Ông lái đò: Ông lái đò là người không thích chèo đò ở những quãng sông bằng
phẳng bởi nó tạo cho ông cảm giác dại chân, dại tay và dễ buồn ngủ. Ông coi những
nghềnh thác hiểm nguy chính là tình cảm đậm đà con sông dành cho nhà đò.
* Điểm riêng: Tình thế phải đối mặt
– Huấn Cao: Cái án tử hình, chốn ngục tù dơ bẩn với những trò tiểu nhân thị oai,
với quyền lực xấu xa và cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. Đối mặt với tình thế ấy, Huấn

coi ngục, khiến quản ngục nghẹn ngào, cúi đầu xin bái lĩnh.
Như vậy, cái đẹp do Huấn Cao sáng tạo ra có thể tồn tại bất tử và có ý nghĩa đối
với con người, cuộc đời.


* Ông lái đò
– Gắn bó thuỷ chung với con sông Đà, ông coi sông Đà như một kì phùng địch thủ
để thi thố tài năng. Đồng thời, với ông, con sông Đà lắm tài nhiều tật còn là một người tri
kỉ tâm giao. Chính sự am hiểu đã giúp ông chinh phục được sông Đà.
– Tấm lòng và trách nhiệm đối với quê hương đất nước
+ Quá khứ: Thời chúa đất ngăn sông cắt bến, kẻ thù lùng sục, không thể trực tiếp
chèo đò đưa bộ đội qua sông, những con đò bỏ vắng ven sông cùng với quy ước ngầm
của những người lái đò (anh cán bộ nếu không muốn cho địch biết cái bến mình vừa sang
thì cứ việc thả cho thuyền trôi dọc sông, người bến dưới bắt được sẽ gửi trả lại người phía
trên này) chính là tấm lòng của người lao động với cách mạng, kháng chiến.
+ Hiện tại: Khi đất nước đang trong thời kì dựng xây, ông lái đò lại rất tự hào kể
về việc được chở một đoàn chuyên gia ta và chuyên gia Nga đi khảo sát địa hình, chuẩn
bị cho việc xây dựng nhà máy thuỷ điện. Đây là một ngườiềm tự hào chân chính của một
người công dân khi được đóng góp công sức vào công cuộc xây dựng đất nước.
3.Đánh giá chung
– Cả hai nhân vật đều được xây dựng bằng biện pháp lí tưởng hoá, xuất phát từ cơ
sở của cái nhìn độc đáo về con người của nhà văn Nguyễn Tuân: Nhìn con người ở
phương diện tài hoa nghệ sĩ để có thể làm nổi bật những vẻ đẹp phi thường trong tài
năng, cốt cách của các nhân vật. Nhà văn đã đặt nhân vật vào những tình huống đầy thử
thách, những mối quan hệ nhìn bề ngoài là đối nghịch nhưng bên trong là tri kỉ, tri âm để
các nhân vật vừa bộc lộ khí phách, nhân cách, tài năng xuất chúng hơn người. Đồng thời,
để tạo nên sức thuyết phục của hình tượng nhân vật, Nguyễn Tuân đã huy động kho vốn
kiến thức trên nhiều lĩnh vực kết hợp với trí tưởng tượng độc đáo.
* Chữ người tử tù
Sáng tác trước cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân lúc này là một nhà văn lãng

dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã mang lại cho Nguyễn Tuân nguồn cảm hứng sáng tạo
dồi dào. Phong cảnh Tây Bắc dưới ngòi bút Nguyễn Tuân vừa hùng vĩ uy nghiêm, vừa
tuyệt vời, thơ mộng. Trong bài Người lái dò sông Đà rút từ tập tùy bút Sông Đà, nhà thơ
không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn hết lời ngợi ca vẻ đẹp của con người
Tây Bắc, nhất là những người lái đò trên con sông dữ dội và thơ mộng ấy.
Vẻ đẹp của nhân vật người lái đò trong bài tùy bút này được thể hiện ở nhiều góc
cạnh khác nhau.
Trong tùy bút, hình ảnh sông Đà hiện lên thật hung dữ:
“Lúc này nước sông Đà reo như đun sôi lên một trăm độ muốn hất tưng đi một cái
thuyền đang phải đóng vai một cái nắp ấm của một ấm nước sôi khổng lồ. Ngấn mạn
thuyền thấp hơn ngấn nước tứ vi bên ngoài, cạp mui thuyền cắm ngập dưới ngấn nước
đang sôi trắng lên. Mặt sông cũng có ổ gà như mặt đường cạn, đi vào ổ gà sông là
thuyền bị giật xuống bị dồi lên. Đã gọi là thác, tức là chỗ khúc sông phức tạp đó nhiều
luồng nước. Có luồng nước đi lầm vào thì chết ngay, có luồng nước đi vào đúng luồng
rồi nhưng mà không trúng tim luồng thì cũng vẫn có thể lài thập tử nhất sinh như
thường.. ”.
Những hình ảnh sông Đà hiện lên không kém phần thơ mộng, trữ tình:


“Tôi có bay tạtqua sông Đà mấy lần, và thấy đó cũng là thêm cho mình một góc
độ nhìn một cách nhìn về con Tây Bắc hung bạo và trữ tình.. “Con sông Đà tuôn dài như
một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban
hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa
làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống
dòng nước sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu
xanh canh hến của sông Gấm, sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt
người bầm đi vì rượu bừa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi
độ thu về. Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng sông Đà là đen như thực dân Pháp đã đè ngửa
con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phết
vào bản đồ...”. Hình ảnh con sông Đà vừa “hung bạo và trữ tình” là cái nền để người lái

trong cuộc đi qua cửa ải nước đủ tướng dữ, quân tợn vừa rồi. Đúng như nhà văn Nguyễn
Tuân nhận xét, ông lái đò là một “tay lái ra hoa”.
Còn cô lái đò là một người phụ nữ Việt Nam yêu nước tha thiết, đảm đang, tháo
vát, tâm hồn dạt dào cảm xúc và tràn ngập chất thơ: “..Một buổi chiều Quỳnh Nhai khác,
tôi lại tìm đến một cô lái đò đã từng chở đò dọc đưa gạo kháng chiến từ Quỳnh Nhai về
thác Tà Hè đổ lên kho quân lương. Cô lái đò châu Quỳnh Nhai giảng cho tôi hiểu biết
thêm về ý nghĩa kiến trúc của cái thuyền then vút đuôi én trên sông Đà: “Các eng bảo
thuyền giống con cá, bảo cái thuyền như một con cá nó quẫy mạnh đuôi trên mặt sông thì
cùng được thôi. Chúng em chỉ biết cái đuôi thuyền nó vẫy lên cao như thế để có cái chỗ
mà treo cái bu gà. Gà sống này, con nào đẹp lông và gáy hay, thì phải mua đến mười
đồng bạc mới. Con gà sống là cái đồng hồ của người lái đò sông Đà đấy. Đi đường xa,
qua bờ này bến khác, có tiếng gà gáy đem theo, nó đỡ nhớ nương ruộng bản mường
mình. Hai bên bờ sông Đà, ai ai cũng biết hát cả đấy. Đang phát nương, nhìn xuống
dòng sông Đà mà thấy thuyền các eng đi qua, là người phụ nữ Thái chúng em đều hát
gửi xuống một hai câu và có khi hát cả một bài. Hồi Pháp chiếm đóng, tiếng hát của phụ


nữ đều lánh xa bờ xa bến. Nhiều tiếng hát chạy xa lên tận đỉnh núi. Nay hòa bình, hết
địch rồi tiếng hát mới lại xuống dần tới mặt bến...”.
Nhìn chung, nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Tuân rất tài hoa. Nhà văn
lược bỏ hầu hết các chi tiết về đời tư của ông lái đò, cô lái đò để đi sâu khắc họa ngoại
hình, hành động của nhân vật.
Chúng ta thử so sánh nhân vật người lái đò với nhân vật Huấn Cao (Chừ người tử
tù). Nhân vật Huấn Cao trong truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân là một con người
tài hoa, khí phách hiên ngang bất khuất, “thiên lương” trong sáng. Huấn Cao viết chữ rất
đẹp: “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm(...). Có được chữ ông Huấn mà treo là có
một báu vật trên đời”. Trong thị hiếu thẩm mỹ của cổ nhân, từ Trung Hoa đến Việt Nam,
viết chữ đẹp là một thủ pháp nghệ thuật và chơi chữ đẹp là một thú chơi cao khiết, tao
nhã. Bởi vậy, qua những băn khoăn, tính toán, mưu mẹo, biệt đãi, nhẫn nhục, đau khổ,
hốt hoảng, hi vọng, tuyệt vọng, hồi hộp, lo sợ, thành kính của viên quản ngục thì cái tài

Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo bức lụa
trắng với những nét vuông tươi tắn nó nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con
người. Thỏi mực, thầy mua ở đâu mà tốt và thơm quá vậy. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu
mực bốc lên không?... Tôi bảo thực đây, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy
thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiện
lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi”. Lửa đóm
cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo. Ba
người nhìn bức châm, rồi lại nhìn nhau. Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp
tay nói một câu mà dòng nước mắt rì vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội
này xin bái lĩnh”.
Đoạn văn tả cảnh Huấn Cao cho chữ trên đây bộc lộ tron vẹn nhất vẻ đẹp sáng
ngời của nhân cách Huấn Cao. Trong không khí trang trọng, thiêng liêng, trong cảm hứng
sáng tạo mãnh liệt, mê say, ông Huấn Cao đã quên hẳn gông xiềng, nhà ngục chặt hẹp,
tối tăm, ẩm ướt, quên cả cái chết đang chờ đợi mình. Tâm hồn ông hoàn toàn hướng tới
sự bất tử của cái đẹp, cái “thiện lương” trong sáng. Lời khuyên nhủ của ông đối với quản


ngục đã thể hiện quan niệm biện chứng của ông giữa cái tâm và cái tài, giữa cái đẹp và
cái thiện. Trong nhân sinh quan cao vời của ông, người nghệ sĩ say mê cái đẹp trước hết
phải là người phải biết đặt “thiện lương” lên vị trí tột cùng. Lời di huấn thiêng liêng ấy
của Huấn Cao về nghệ thuật, về đạo lí làm người đã được quan ngục bái lĩnh bằng tất cả
tấm lòng chân thực của mình và người đời trân trọng lắng nghe.
Có thể nói, cảnh ông Huấn Cao cho chữ là sự chiến thắng kiêu hùng của ánh sáng
đối với bóng tối, của “thiện lương” đối với tội ác, của cái chân - thiện - mỹ đối với cái
xấu xa, thô bỉ. Hơn nữa, đó còn là biểu tượng của việc tài hoa lên ngôi trong cảnh lao tù.
Người tử tù đang tiến dần đến cõi chết, nhưng còn tài hoa của họ đang hàng hái, ung
dung bước vào còi bất tử, vĩnh hằng.
Nhìn chung, vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao là vẻ đẹp lãng mạn, có sức chinh
phục, cảm hóa mãnh liệt đối với những con người có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”.
Từ việc tìm hiểu vài nét về vẻ đẹp hình tượng của nhân vật Huấn Cao chúng ta dễ

Qua Người lái đò sông Đà và nhân vật người lái đò, ta thấy nổi lên một Nguyễn
Tuân tài hoa độc đáo, uyên thâm, tâm huyết, có tấm lòng yêu thương, tự hào da diết về vẻ
đẹp của thiên nhiên, con người miền Tây Bắc xa xôi của Tổ quốc. Ca ngợi sự gan góc,
thông minh, dùng cảm, kiên cường, tài hoa nhân hậu của con người Việt Nam trong công
cuộc lao động xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao. Người lái đò sông Đà thật sự là một
bài ca lãng mạn, trong sáng, hào sảng về lao động và về vẻ đẹp của con người trong lao
động.


Đề số 4: Phân tích nhân vật người lái đò trong Người lái dò sông Đà của Nguyễn
Tuân. So sánh nhân vật người lái đò với nhân vật Huấn Cao để thấy chỗ thống nhất
và khác biệt trong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân trước và sau Cách
mạng tháng Tám.

1. Đặt vấn đề: Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và hai cảnh trong hai Tác phẩm:
-Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của văn học VN hiện đại.. Trước
CM, ông được biết đến với tư cách là một nhà văn lãng mạn nổi tiếng với những sáng tác
“Vang bóng một thời” “Thiếu quê hương”… ,
Sau CM,cảm hứng nghệ thuật được khơi nguồn từ hiện thực cuộc sống mới, ông
trở thành một nhà văn khãng chiến, một nhà văn CM, say sưa tìm kiếm, khám phá và
ngợi ca vẻ đẹp của non sông gấm vóc và vẻ đẹp của con người VN trong lao động và
chiến đấu: “tùy bút Sông Đà”, “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”…. Dù ở giai đoạn sáng tác nào,
văn Nguyễn Tuân cũng đem đến cho người đọc sự cuốn hút đặc biệt bởi ngòi bút tài hoa
uyên bác .Trong văn nghiệp của Nguyễn Tuân, truyện ngắn Chữ người tử tù (trong tập
Vang bóng một thời - sáng tác trước CM) và Người lái đò sông Đà (trong tùy bút Sông
Đà- sáng tác trong chuyến đi thực tế lên Tây Bắc 1958) là hai thành công nổi bật, tiêu
biểu cho phong cách nghệ thuật của tác giả ở hai giai đoạn sáng tác. Đặc biệt là cảnh cho
chữ và cảnh vượt thác được xem là những áng văn đẹp nhất trong văn học VN. Qua đó
không những giúp ta cảm nhận được sự tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân mà còn thấy
được nét ổn định và nét mới trong phong cách nghệ thuật của tác giả trước và sau CM

cho chữ là kẻ tử tù chỉ sáng sớm mai đã ra pháp trường, cổ vẫn đeo gông , chân vướng
xiềng đang dậm tô những nét chữ vuông tươi tắn trên tấm lụa bạch trắng tinh còn nguyên
vẹn lần hồ.Những thứ gông xiềng quái ác ấy càng tô đậm lên vẻ đẹp hiên ngang, hành
động nghĩa hiệp, thiêng liêng của người cho chữ. Tương phản với tư thế, hành động này
là người được nhận chữ: viên quán ngục lại khúm núm, thầy thơ lại gầy gò thì run run
bưng chậu mực.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status