Seediscussions,stats,andauthorprofilesforthispublicationat:
/>
ĐánhgíanguycơSứckhoẻmôi
trường-Nghềnghiệp
Book·May2013
CITATIONS
READS
0
1,815
1author:
Tuyet-HanhThiTran
HanoiSchoolofPublicHealth
30PUBLICATIONS95CITATIONS
SEEPROFILE
Availablefrom:Tuyet-HanhThiTran
Retrievedon:11October2016
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ
SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG
NGHỀ NGHIỆP
GIÁO TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỊNH HƯỚNG SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG – NGHỀ NGHIỆP
BÀI 1. GIỚI THIỆU VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ NGUY CƠ
SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG - NGHỀ NGHIỆP
I. GIỚI THIỆU MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1. Khái niệm nguy cơ và yếu tố nguy cơ
2. Khái niệm đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường-nghề nghiệp
(Environmental health risk assessment)
3. Khái niệm quản lý nguy cơ
II. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ NGUY CƠ SỨC KHỎE
1
1
1
6
8
8
1. Tổng quan về các mô hình đánh giá và quản lý nguy cơ sức khỏe 8
2. Thực trạng công tác đánh giá và quản lý nguy cơ sức khỏe môi
trường-nghề nghiệp trên thế giới, trong khu vực và ở Việt Nam 10
3. Áp dụng khung đánh giá và quản lý nguy cơ
12
III.KHUNG ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG-NGHỀ NGHIỆP 13
1.
2.
3.
4.
5.
Giới thiệu
31
32
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG NGHỀ NGHIỆP
A
III. ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ LIỀU-ĐÁP ỨNG
1.
2.
3.
4.
Giới thiệu chung
35
Một số khái niệm
35
Các phương pháp đánh giá liều – đáp ứng
38
Vai trò của dịch tễ học và độc chất học trong đánh giá nguy cơ sức
khỏe môi trường – nghề nghiệp
42
BÀI 3. ĐÁNH GIÁ PHƠI NHIỄM
1.
2.
3.
4.
77
V.MÔ TẢ NGUY CƠ ĐỊNH LƯỢNG
81
1. Đánh giá định lượng đối với các nguy cơ hóa học và vật lý
2. Đánh giá định lượng đối với các nguy cơ vi sinh vật
VI. SỰ KHÔNG CHẮC CHẮN
81
82
87
BÀI 5. TRUYỀN THÔNG NGUY CƠ VÀ NHẬN THỨC NGUY CƠ SỨC KHỎE
MÔI TRƯỜNG-NGHỀ NGHIỆP
93
I. KHÁI NIỆM TRUYỀN THÔNG NGUY CƠ SKMT-NN VÀ CÁC YẾU Tố
QUYẾT ĐỊNH NGUY CƠ SKMT-NN
1. Giới thiệu
2. Nhận thức nguy cơ
93
93
94
II.TRUYỀN THÔNG NGUY CƠ SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG – NGHỀ NGHIỆP 100
1. Các khái niệm truyền thông nguy cơ SKMT-NN
2. Các cách tiếp cận truyền thông nguy cơ SKMT-NN
II.NỘI DUNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
116
1. Bối cảnh
116
III. VAI TRÒ GIẢ ĐỊNH
117
IV. HOẠT ĐỘNG
117
1. Hoạt động 1
2. Hoạt động 2
3. Hoạt động 3
117
119
120
V.ĐÁNH GIÁ
122
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 2
126
128
129
130
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG NGHỀ NGHIỆP
C
BÀI 1. GIỚI THIỆU VỀ ĐÁNH GIÁ
VÀ QUẢN LÝ NGUY CƠ
SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG NGHỀ NGHIỆP
Ths. Trần Thị Tuyết Hạnh, TS. Nguyễn Thúy Quỳnh
ÂÂMỤC TIÊU
Khi học xong phần này, sinh viên cần có khả năng:
1. Trình bày được khái niệm nguy cơ, yếu tố nguy cơ, đánh giá nguy cơ,
quản lý nguy cơ.
2. Mô tả được các mô hình đánh giá nguy cơ khác nhau và vai trò của
đánh giá nguy cơ trong quản lý nguy cơ.
3. Trình bày được các bước chính của Khung đánh giá nguy cơ Sức khỏe
môi trường-nghề nghiệp.
I. GIỚI THIỆU MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1. Khái niệm nguy cơ và yếu tố nguy cơ
Theo Ropeik và Grey (2002): “nguy cơ được định nghĩa là xác suất mà việc phơi
nhiễm với yếu tố nguy cơ sẽ để lại một hậu quả xấu”. Một khái niệm tương tự khác
nguy cơ của người dân, ví dụ, “khả năng (xác suất) một tai nạn xảy ra tại một
nhà máy điện nguyên tử là rất thấp, nhưng nó vẫn tiềm ẩn một nguy cơ do có
thể dẫn đến những hậu quả thảm khốc nếu điều đó xảy ra” hay “khả năng bị
tử vong do amip ăn não người ở Việt Nam là thấp, tuy nhiên mọi người vẫn lo
sợ khi nghe một vài trường hợp tử vong được đăng tải trên các phương tiện
truyền thông đại chúng”. Vì vậy, với nhiều nguy cơ, mặc dù xác suất là khá thấp
nhưng hậu quả lại khá nghiêm trọng và mọi người vẫn nhận thức chúng tiềm
ẩn những nguy cơ cao. Do vậy, “hậu quả” là một yếu tố quan trọng tạo nên
nguy cơ. Hậu quả có thể có nhiều cấp độ khác nhau, ví dụ từ không đáng kể,
nhỏ, không nghiêm trọng, nghiêm trọng cho đến thảm khốc.
Yếu tố nguy cơ (Hazard) là một chất, một vi sinh vật, một yếu tố… có khả năng
gây ra tác động tiêu cực lên sức khỏe nếu có sự tiếp xúc. Ví dụ, “loài vi rút này
là một yếu tố nguy cơ vì có thể gây bệnh sốt xuất huyết Dengue ở người; hay
phẩy khuẩn tả là một yếu tố nguy cơ vì có thể gây ra dịch tả ở người; dioxit Silic
(SiO2) hoặc Silic tự do dạng tinh thể là yếu tố nguy cơ vì có khả năng làm hình
thành các hạt xơ ở phổi, gây tổn thương ở mô kẽ, gây xơ hóa lan tỏa ở phổi
và dẫn đến bệnh bụi phổi Silic ở công nhân do tiếp xúc nghề nghiệp v.v.”. Tuy
nhiên, nếu chúng ta không phơi nhiễm với một tác nhân nào đó, thì cho dù
yếu tố nguy cơ này có thể tạo ra những mối nguy hiểm tiềm ẩn nhưng nguy
cơ hiện hữu là tối thiểu. Ví dụ, một người sẽ không mắc bệnh sốt xuất huyết
Dengue nếu không bị muỗi Aedes nhiễm vi rút Dengue đốt, không bị bệnh bụi
phổi Silic nếu không hít phải bụi chứa dioxit Silic hay Silic tự do dạng tinh thể.
2
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG NGHỀ NGHIỆP
Bảng 1 và Hình 1 dưới đây mô tả một số yếu tố nguy cơ vi sinh vật phổ biến
trong thực phẩm và nước.
Achromobacter, Pseudomonas,
Flavobacterium.
Xúc xích, thịt xông khói,
giăm bông v.v.
Micrococcus, Lactobacillus, Streptococcus,
Debarmyces, Penicillium
Thịt gia cầm (chất đạm và
chất béo)
Achromobacter, Pseudomonas,
Flavobacterium, Micrococcus, Salmonella.
Cá, tôm (chất đạm)
Achromobacter, Pseudomonas,
Flavobacterium, Vibrio
Sữa và các sản phẩm từ sữa
Streptococcus, Lactobacillus, Microbacterium,
Achromobacter, Pseudomonas,
Flavobacterium, Bacillus
Trứng (chất đạm, chất béo)
Pseudomonas, Cladosporium, Penicillium,
Sporotrichum.
Aedes không lưu hành ở Châu Âu;
• Nguy cơ mắc bệnh ung thư của người dân sống tại Hà nội do phơi
nhiễm với 2,3,7,8 TCDD – chất độc nhất thuộc nhóm dioxin- là tối thiểu
bởi vì họ không phơi nhiễm với 2,3,7,8 TCDD trong môi trường, trong
khi nguy cơ của người dân địa phương sống tại các điểm nóng dioxin
ở Việt Nam là khá cao nếu họ tiêu thụ các thực phẩm có nguy cơ cao
được nuôi trồng tại địa phương;
• Nguy cơ bị bệnh tiêu chảy nếu sử dụng nước sạch trong ăn uống sinh
hoạt, thực hiện tốt vệ sinh cá nhân và đảm bảo an toàn vệ sinh thực
phẩm là rất thấp;
• Nguy cơ bị bệnh bụi phổi silic đối với những người làm nghề diễn viên là
rất thấp, trong khi đó nguy cơ bị bụi phổi silic ở công nhân khai thác than
và công nhân xây dựng ở Việt Nam thường là khá cao vì thường xuyên
phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ ở mức cao trong môi trường làm việc với
thời gian phơi nhiễm dài;
• Nguy cơ bị điếc nghề nghiệp ở công nhân làm việc trong lĩnh vực chế
biến thực phẩm là khá thấp, còn nguy cơ bị bệnh điếc nghề nghiệp ở
công nhân đóng tàu là khá cao do thường xuyên phải phơi nhiễm với
tiếng ồn ở nơi làm việc...
Như vậy, thông thường một nguy cơ SKMT-NN được quyết định bởi bốn yếu tố
đã mô tả ở trên. Ví dụ, nguy cơ mắc bệnh ung thư nếu phơi nhiễm với dioxin có
trong thực phẩm ở liều lượng 1-4 pg/kg/ngày trong suốt cuộc đời là một phần
triệu. Trong đó, xác suất là “một phần triệu”, hậu quả là “bệnh ung thư”, yếu tố
nguy cơ là “dioxin” và phơi nhiễm là “ăn thực phẩm nhiễm bẩn dioxin trong
suốt cuộc đời”. Tương tự, giả sử nguy cơ mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue nếu
sống tại Việt Nam là xấp xỉ một phần nghìn. Ở đây, xác suất là “một phần nghìn”,
hậu quả là “mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue”, yếu tố nguy cơ là “vi rút Dengue”
và phơi nhiễm là “sống ở Việt Nam, nơi bạn có thể bị muỗi Aedes đốt”. Khi bất kỳ
một trong bốn yếu tố ở trên bằng 0, thì khi đó sẽ không có nguy cơ. Giảm bất
kỳ hoặc tất cả bốn yếu tố trên sẽ giúp làm giảm mức độ nguy cơ.
sức khỏe có thể ở nhiều mức độ khác nhau, từ những tác hại ở mức không quá
nguy hiểm (có thể chữa trị được, không làm suy nhược cơ thể và không đe dọa
đến tính mạng) như da nổi mụn, ho, đau đầu, đau họng, buồn nôn, chóng mặt
v.v. đến các ảnh hưởng nghiêm trọng hơn (làm suy nhược cơ thể, thậm chí có
thể đe dọa đến tính mạng), chẳng hạn như tiêu chảy, nhiễm vi rút H5N1, sốt
xuất huyết Dengue, dị tật bẩm sinh, ung thư, bệnh HIV/AIDS v.v.
2. Khái niệm đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường-nghề
nghiệp (Environmental health risk assessment)
Đánh giá nguy cơ SKMT-NN (Environmental health risk assessment, hay còn
gọi là Lượng giá nguy cơ SKMT-NN) là một quy trình đánh giá nguy cơ một
cách có hệ thống những ảnh hưởng sức khoẻ do phơi nhiễm với các yếu tố
nguy cơ hóa học, sinh học, vật lý, hay tâm lý xã hội. Quy trình này bao gồm
6
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG NGHỀ NGHIỆP
đánh giá định lượng ví dụ: xác định mức độ phơi nhiễm tối đa cho phép với
một chất hóa học, hay xác định xác suất xảy ra một tác động có hại (ví dụ xác
suất mắc bệnh ung thư là 1 phần 1.000.000 v.v.) hoặc đánh giá bán định lượng
hoặc đánh giá định tính. Có nhiều khái niệm khác nhau về đánh giá và quản lý
nguy cơ. Dưới đây là những khái niệm được sử dụng phổ biến.
Đánh giá nguy cơ được tiến hành nhằm đánh giá những ảnh hưởng sức khoẻ
do phơi nhiễm với một yếu tố nguy cơ xác định để từ đó đề xuất các giải pháp
quản lý nguy cơ (American Chemical Society 1998). Đánh giá nguy cơ sức khỏe
môi trường được định nghĩa như là “Một quy trình có tổ chức nhằm mô tả và ước
lượng khả năng của việc phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ sức khỏe môi trường sẽ để
lại hậu quả xấu cho sức khỏe. Quy trình này bao gồm 4 bước chính, đó là: xác định
7
được sử dụng để: (1) Đề ra các hướng dẫn về nộng độ cho phép đối với các
chất/yếu tố gây ô nhiễm có trong nước và thực phẩm; (2) Đánh giá các tác hại
liên quan đến sức khỏe do phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp; (3)
Đánh giá nguy cơ sức khỏe do các tác nhân hóa học và vi sinh khi các nghiên
cứu dịch tễ học cho thấy có nguy cơ tiềm ẩn; và (4) Đánh giá nguy cơ mắc bệnh
ung thư do phơi nhiễm với một chất gây ô nhiễm trong môi trường.
3. Khái niệm quản lý nguy cơ
Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý nguy cơ. Theo Tiêu chuẩn
của Ôxtrâylia, quản lý nguy cơ là “Quy trình và hệ thống được tạo ra nhằm quản
lý một cách hiệu quả các cơ hội tiềm năng và các tác động tiêu cực”– AS4360.
Trong khi theo enHealth (2004), đây là “Quy trình đánh giá các phương án hành
động, lựa chọn và triển khai các giải pháp phù hợp để kiểm soát nguy cơ SKMT-NN
dựa trên kết quả đánh giá nguy cơ. Quá trình ra quyết định sẽ sử dụng các thông
tin chính trị, kinh tế, xã hội, kỹ thuật, khoa học. Quá trình này đòi hỏi sự cân nhắc
các giá trị và chi phí”. Tương tự, khái niệm do Ủy ban Quốc hội Hoa Kỳ về Đánh
giá nguy cơ và Quản lý nguy cơ (1997) đưa ra như sau “Quản lý nguy cơ là quá
trình xác định, đánh giá, lựa chọn và đưa ra các hành động nhằm làm giảm nguy
cơ đối với sức khỏe con người và hệ sinh thái. Giá trị cốt lõi của quản lý nguy cơ là
phải dựa trên cơ sở khoa học, hiệu quả về mặt chi phí, các hành động có tính kết
nối nhằm làm giảm hoặc ngăn ngừa nguy cơ đồng thời cân nhắc các yếu tố văn
hóa xã hội, đạo đức, chính trị và luật pháp”. Để có được một cái nhìn tổng quan
hơn nữa về các khung khác nhau sử dụng cho đánh giá và quản lý nguy cơ sức
khỏe và nguy cơ SKMT-NN, sinh viên nên đọc thêm bài báo phân tích về vấn đề
này của tác giả Jardine và cộng sự đăng tải năm 2003.
II. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ NGUY CƠ SỨC KHỎE
án thích hợp làm giảm nhẹ nguy cơ. Quản lý nguy cơ thường bao gồm ba cấu
phần: (1) Đánh giá nguy cơ; (2) kiểm soát phát thải và phơi nhiễm; và (3) quan
trắc nguy cơ. Cuối những năm 1990, nhiều mô hình khác nhau đã được đưa ra
tập trung vào các loại nguy cơ khác nhau bao gồm các nguy cơ về sức khỏe
con người, môi trường, sinh thái, nghề nghiệp và tài chính v.v. Những mô hình
đánh giá, truyền thông và quản lý nguy cơ áp dụng ở từng quốc gia khác nhau
có tên gọi, mục đích và cấu trúc khác nhau, như liệt kê dưới đây:
• Xác định Nguy cơ Sức khỏe: Thách thức trong công tác bảo vệ Sức khỏe
(Health and Welfare Canada, 1990),
• Luật Bảo vệ Môi trường Canada: Đánh giá nguy cơ Sức khỏe con người
liên quan tới các chất ưu tiên (Health Canada, 1994),
• Mô hình Quản lý Nguy cơ Sức khỏe Môi trường (Ủy ban Quốc hội về
Đánh giá và Quản lý Nguy cơ - US Presidential/Congressional Commission on Risk Assessment and Risk Management, 1997),
• Đánh giá nguy cơ Sức khỏe Môi trường (Ủy ban Sức khỏe môi trường
Ôxtrâylia – Australian enHealth Council 2004),
• Mô hình Đánh giá nguy cơ Sinh thái (CCME, 1996),
• Hướng dẫn Đánh giá nguy cơ Sinh thái (US EPA, 1998b),
• Đề xuất mô hình Đánh giá và Quản lý Nguy cơ Sức khỏe Nghề nghiệp
(Rampal & Sadhra, 1999).
Tuy nhiên, những khung đánh giá nguy cơ này nhìn chung có các bước tương
đối giống nhau, chủ yếu bao gồm ba giai đoạn như trong mô hình của NRC.
Jardine và cộng sự (2003) đã phân tích 12 mô hình quản lý và đánh giá nguy cơ
được áp dụng phổ biến trên thế giới và xác định được các bước/đặc tính căn
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG NGHỀ NGHIỆP
9
bản cần có trong một mô hình hoàn chỉnh nhằm đánh giá và quản lý các nguy
một đối tượng nào đó (con người, đất, nước, thực phẩm, không khí…) hay (3)
theo những chủ đề (như các khu vực ô nhiễm, các chất ưu tiên; xây dựng các
tiêu chuẩn, an toàn thực phẩm, thiết bị y tế, sử dụng thuốc theo đơn, đáp ứng
với tình huống khẩn cấp, giao thông vận tải và truyền thông nguy cơ). Một
cách tổng thể, WHO, USEPA và enHealth Council (Ôxtrâylia) đã phát triển và
đưa ra những mô hình, khung và hướng dẫn về quản lý nguy cơ có thể áp dụng
10
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG NGHỀ NGHIỆP
trên phạm vi quốc tế. Ví dụ, US EPA đã xuất bản một bộ gồm năm hướng dẫn
đầu tiên về đánh giá nguy cơ sức khỏe (liên quan đến ung thư, đột biến gen, các
tác động lên sự phát triển, đánh giá phơi nhiễm và các hỗn hợp hóa chất) năm
1986 và các hướng dẫn về đánh giá nguy cơ sinh thái (EPA 1992, 1998) cùng với
nhiều phiên bản chỉnh sửa trong những năm tiếp theo. Nhiều tổ chức cũng đưa
ra hướng dẫn đánh giá định lượng nguy cơ vi sinh vật trong nước và thực phẩm.
Nhìn chung, nhiều nước phát triển đã áp dụng khung đánh giá nguy cơ như
là một cơ sở giám sát có tính chuẩn mực với đầy đủ những hướng dẫn và quy
định hỗ trợ. Ở các nước đang phát triển, việc áp dụng khung đánh giá nguy cơ
vẫn còn khá hạn chế do không có đủ những điều kiện cơ sở vật chất, số liệu và
cán bộ được đào tạo trong lĩnh vực đánh giá nguy cơ. Tuy nhiên, nhiều nước,
chẳng hạn như ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đã triển khai các hoạt
động liên quan đến bảo vệ sức khỏe và môi trường như tiến hành các nghiên
cứu, đưa ra các văn bản pháp lý, quy định và thiết lập hệ thống quản lý môi
trường v.v.
Tương tự như ở các nước đang phát triển khác trong khu vực, công tác đánh
giá và quản lý nguy cơ SKMT-NN ở Việt Nam chưa được thực hiện một cách
bài bản và khoa học. Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Luật Bảo vệ
vệ Môi trường Mỹ đã đưa ra những tài liệu cụ thể liên quan đến lĩnh vực này
như: Sổ tay về yếu tố phơi nhiễm (US EPA 1989); Hướng dẫn đánh giá nguy cơ
sức khỏe đối với các hỗn hợp chất hóa học (U.S. EPA, 1986, 2000); Hướng dẫn
đánh giá nguy cơ đối với các chất gây ung thư (US EPA 1986a, 1999a, 2001b)
và nhiều tài liệu hướng dẫn khác cụ thể cho từng nhóm tuổi và giới tính hay
cho các loại chất cụ thể như chì, dioxin v.v.; Quy trình đánh giá và quản lý các
nguy cơ sức khỏe liên quan đến thực phẩm (ANZFA, 1996, 2001), Hướng dẫn
về Nước uống Ôxtrâylia (NHMRC and ARMCANZ, 1996); Đánh giá an toàn vi
sinh vật đối với nước uống – Cải thiện phương pháp đánh giá và cách tiếp cận
(OECD, WHO 2003) và nhiều tài liệu khác do Tổ chức Y tế thế giới và các tổ chức
khác phát hành. Trong lĩnh vực Y học lao động, phương pháp đánh giá và quản
lý nguy cơ cũng được áp dụng rộng rãi tại một số nước, đặc biệt là trong công
tác quản lý nguy cơ ở các nhà máy nhằm giảm nguy cơ sức khoẻ cho công
nhân do phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp. Khung đánh giá nguy
cơ SKMT-NN cũng thường được áp dụng để đánh giá nguy cơ cho các tình
huống sẽ xảy ra trong tương lai, ví dụ đánh giá nguy cơ sức khỏe nghề nghiệp
của công nhân ở một nhà máy dự kiến chuẩn bị xây dựng, dựa trên số liệu của
các nhà máy tương tự đang vận hành.
Đánh giá nguy cơ hiện chủ yếu tập trung vào các yếu tố nguy cơ là các chất
hóa học và các vi sinh vật. Quy trình trên lý thuyết cho đánh giá nguy cơ đối với
hóa chất và vi sinh vật là như nhau, tuy nhiên, yếu tố nguy cơ vi sinh vật khác
với yếu tố nguy cơ hóa chất ở một vài điểm cơ bản sau đây: (1) khả năng biến
đổi của các dạng khác nhau của một mầm bệnh trong khả năng gây bệnh;
(2) mức độ nguy hiểm có thể tăng lên khi mầm bệnh truyền qua nhiều cá thể
mắc bệnh khác nhau; (3) các mầm bệnh nhìn chung không phân bố đều trong
môi trường nước, không khí, đất, hay thực phẩm; (4) các mầm bệnh có thể
truyền từ một người sang nhiều người khác, từ người lành mang mầm bệnh
hay những đối tượng đang ốm yếu; và (5) xác suất một cá thể bị nhiễm mầm
bệnh hay ốm tùy thuộc không chỉ vào tình trạng sức khỏe của người đó mà
còn phụ thuộc vào lượng mầm bệnh và khả năng miễn dịch đã có (Hunter &
khỏe do phơi nhiễm với chất hóa học, sản phẩm hay hoạt động cụ thể. EHRA
cũng được ứng dụng trong các tình huống thực tế, tình huống giả định (ví dụ
đánh giá nguy cơ sức khỏe liên quan đến một nhà máy dự kiến sẽ được xây
dựng), hay được thực hiện như một cấu phần của quy trình đánh giá tác động
sức khỏe. Mặc dù khung Đánh giá nguy cơ SKMT-NN này được đưa ra nhằm
đánh giá các loại yếu tố nguy cơ khác nhau bao gồm sinh vật, hóa chất, yếu tố
vật lý hay tâm lý xã hội, nhưng trong khuôn khổ giáo trình này, nội dung chủ
yếu tập trung đánh giá những yếu tố nguy cơ hóa học và vi sinh vật. Khung
đánh giá nguy cơ SKMT-NN được xây dựng dựa vào mô hình đánh giá và quản
lý nguy cơ sức khỏe của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Mỹ (U.S. NRC 1983) và
của Ủy ban Quốc hội Mỹ về Đánh giá và Quản lý Nguy cơ (P/CCRARM 1997).
Khung đánh giá này gồm bốn bước chính như sau: xác định vấn đề (Issue
identification); đánh giá yếu tố nguy cơ, bao gồm xác định yếu tố nguy cơ
và đánh giá liều-đáp ứng (Hazard assessment: Hazard identification và Dose
– respone assessment); đánh giá phơi nhiễm (Exposure assessment); và mô
tả nguy cơ (Risk characterization) (Hình 4). Ngoài bốn bước chính này còn có
truyền thông nguy cơ, sự tham gia của các bên liên quan và tham vấn cộng
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG NGHỀ NGHIỆP
13
đồng là cấu phần quan trọng cần được tiến hành trong suốt quá trình quản lý
và đánh giá nguy cơ. Phần này trình bày một cách ngắn gọn nội dung chính
của từng bước trong khung đánh giá nguy cơ SKMT-NN. Các bài từ Bài 2 đến
Bài 5 trong giáo trình này sẽ mô tả chi tiết nội dung của các bước này và Bài 6
sẽ trình bày khái niệm về nhận thức nguy cơ (risk perception) và truyền thông
nguy cơ (risk communication).
Sự tham gia của cộng đồng, các bên liên
Các yếu tố
khoa học,
kỹ thuật,
văn hóa,
xã hội,
chính trị
Đánh giá
nguy cơ &
phân tích
phương án
và quyết
định
Xử lý
nguy cơ
Xem xét,
và kiểm
tra tính
thực tiễn
Giám sát
và đánh
giá
Mô tả nguy
cơ
a. Xác định vấn đề
yếu tố nguy cơ bao gồm hai bước là xác định yếu tố nguy cơ và đánh giá liềuđáp ứng.
3.1. Xác định yếu tố nguy cơ
Bước này nhằm mục đích xác định những tác hại sức khỏe liên quan tới yếu tố
nguy cơ và các tác hại này có thể tiến triển như thế nào (Health Canada 1999).
Các cán bộ làm công tác đánh giá nguy cơ có thể sử dụng kết quả từ nhiều
nghiên cứu khác nhau ở trong nước và trên thế giới cho bước xác định yếu tố
nguy cơ, bao gồm các nghiên cứu dịch tễ học trên người (các nghiên cứu dịch
tễ học dựa trên bệnh án và quan sát, các điều tra cộng đồng…), các nghiên
cứu trên động vật (các nghiên cứu độc học trên các động vật thí nghiệm khi
cho phơi nhiễm với các liều lượng độc chất khác nhau và quan sát đánh giá
các tác động sức khoẻ), các nghiên cứu trong ống nghiệm... Các vấn đề khác
cần xem xét trong bước này gồm có: khoảng thời gian kéo dài các tác động
có hại; sự hấp thụ, phân bố và đào thải các chất trong cơ thể và tác động sức
khoẻ của các sản phẩm phụ trong quá trình chuyển hoá. Ví dụ, khi đánh giá
nguy cơ ô nhiễm atrazine ở các nguồn nước, chúng ta cần phải xem xét các sản
phẩm chuyển hóa của atrazine gồm có desethylatrazine, desisopropylatrazine,
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG NGHỀ NGHIỆP
15