SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG part 7 doc - Pdf 19


189
điều kiện chấy rận. Cải thiện các điều kiện sống (tắm và giặt).
Sốt nổi gai ốc (sất địa phương, sôt do bọ chép

Tác nhân chính: Rickettsia typhi (Rickettsia mooseri)
Cách thức lây truyền: lây nhiễm qua bọ chết ở chuột (thường
là Xenophylla cheopsis), chúng truyền rickettsia trong lúc hút
máu và nhiễm qua các vết cắn và các vết thương ở da.
Tác động lên cơ thể. tiến trình của bệnh sốt nổi gai ốc tuân
theo cách bệnh sốt phát sinh từ chấy rận nhưng nhẹ hơn.
Giai đoạn ấp trứng: thường từ 10 đến 12 ngày; thay đổi từ 6
đến 21 ngày.
Chuối lây nhi
ễm: vật chủ -> tác nhân chính -> ve
Các biện pháp kiểm soát: ngăn chặn sự tiếp xúc với các con
ve truyền bệnh bằng biện pháp phòng ngừa các tác nhân chống
lại vectơ truyền bệnh, bằng cách giặt quần áo và chăn với hoá
chất diệt khuẩn (benzyl benzoate) và áp dụng thuốc trừ rệp.
Phun lindane hoặc malathion.
Muỗi
Muỗi gây sốt vàng da (Aedes aegypti)
Các bệnh lây truyền: bệnh sốt vàng da đô thị, bệnh sốt xuất
huyết, viêm não, bệnh giun chỉ, giun đất.
Các đặc tính sinh học: có 4 giai đoạn trong cuộc đời của tất
cả các loài muỗi: trứng, nhộng, ấu trùng và trưởng thành với 3
giai đoạn đầu xảy ra trong nước.
Muỗi bán thuần chủng có thể sinh sản trong các thùng nhân
tạo xung quanh nơi sống của con người. Tr
ứng được đẻ từng
quả một trên bề mặt các thùng chứa trong hoặc trên các rãnh

nhiễm với các virus viêm não và có thể có vai trò trong việc làm
lây lan bệnh giun chỉ.
Các đặc tính sinh học: trứng của muỗi anophel luôn được đẻ
từng quả một trên bề mặt nước và được hỗ trợ bởi một vật như
chi
ếc phao. Muỗi cái đẻ trứng một đợt 100 quả hoặc hơn. Trứng

191
được ấp trong khoảng từ 2 đến 6 ngày; giai đoạn ấu trùng cuối
cùng từ 6 đến 7 ngày cho tới vài tuần, phụ thuộc vào loài và các
điều kiện môi trường, đặc biệt nhiệt độ nước.
Hầu hết muỗi anophel hút máu người trước khi đẻ trứng vào
mùa đông thường vượt qua bởi việc ngủ đông, muỗi cái ngủ
đông có thể tồn tại từ 4 đến 5 tháng. Một con muỗi cái có th
ể đẻ
tới 3000 trứng trong 12 lần đẻ.
Nhận dạng: khá to, nâu sẫm với 4 chấm đen gần giữa cánh.
Xúc tu và xương cổ chân hoàn toàn đen.
Môi trường thích nghi: việc sinh sản chủ yếu trong các bể
nước sạch các ao và nơi nước cạn. Loài này thể hiện sự ưa thích
nước sạch và tĩnh đó là nước trung tính cho tới kiềm nhẹ. Các
nơi cư trú thường là các ao ngâm nước vôi, lỗ đào, v
ũng nước
mưa, bãi lầy, nhánh sông, các dòng lờ đờ, các bờ cạn, và các nơi
nước đọng của các bể chứa và hồ. Sự sinh sản lớn nhất trong
nước ở các cây mọc dưới nước hoặc các cành trôi nổi, vỏ cây và
lá cây. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển từ 80 đến 900F.
Một cái ao được xây dựng không thích hợp có thể là môi trường
thích hợp đối với loài muối nay.
Các biện pháp kiểm soát:

nghi cho sự phát triển nhanh.
Các biện pháp kiểm soát: cũng giống như các biện pháp đối
với loài Aedes.
Con ve
Ve chó châu Mỹ (Dermacentor variabilis) và ve gỗ
(Dermacentor andersoni)
Các bệnh lây truyền: sốt lốm đốm (sốt sinh ra do con tích),
sốt do con tích Colorado, sốt Q, tê liệt.
Các đặc tính sinh học: có 4 giai đoạn phát triển trong cuộc
đời: trứng, ấu trùng có 6 chân, nhộng 8 chân, trưởng thành. Loài
ve thường cộng sinh chặt chẽ với các động vật chủ. Con cái đẻ
trên bề mặt đất. Con cái đẻ một lượng lớn trứng đôi khi lên đến

193
hàng nghìn quả; nó chết sau khi đẻ trứng. Trứng ấp trong hai
tuần tới vài tháng phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm, và các nhân tố
môi trường khác ấu trùng, hoặc "ve giống" có 6 chân và không
thể phân biệt giới tính. Cơ hội ký sinh trên vật chủ là tạm thời,
đôi khi được tạo được sự kéo dài một cách cưỡng bức. Sau khi
hút máu, các ấu trùng no máu thường rơi vào đất và rụng lông
chuyển thành giai đoạn nhộng 8 chân: Giai đoạ
n này phải chịu
đựng một thời kỳ chờ đợi tới hạn đối với vật chủ thích hợp. Mặc
dù chu trình sống của loài ve có thể hoàn thiện ít hơn một năm,
nhưng nó có thể đòi hỏi hai năm hoặc lâu hơn.
Cả hai con đực và cái đều là những kẻ hút máu và cả hai đều
đòi hỏi được chăm sóc một vài ngày trước khi giao phối. Sau khi
ve đực no đủ, nó thường giao phối v
ới một hoặc nhiều ve cái rồi
chết. Sau quá trình giao phối, ve cái rơi trên mặt đất. Sau một

được kiểm soát trong các khu vực sinh trưởng bằng thuốc diệt
chúng (bụi ho
ặc phun). Chúng có thể được kiểm soát bằng việc
di chuyển các vật chủ như chó. Ve ký sinh trên gia súc có thể
được kiềm chế bằng việc luân chuyển các đồng cỏ. Các loại ký
sinh trên hươu nai (Bonnelia bungdonferi) làm lây lan bệnh bạch
huyết.
Con ghẻ
Bệnh ngứa hoặc bệnh ghẻ (Sarcoptes scabiei)
Các bệnh lây truyền: bệnh ghẻ. Bệnh nấm vảy ở cừu, bệnh
ghẻ Texas của gia súc, bệnh lở ở chó và ngựa, bệnh sốt xuất
huyết, bệnh đậu mùa rickettsial, bệnh viêm não, bệnh viêm da,
bệnh huỷ hoại phổi, các bệnh về đường ruột và tiết niệu.
Các đặc tính sinh học: cái ghẻ đẻ trứng và ấp trứng thành
ấu
trùng trải qua 2 hoặc nhiều hơn các giai đoạn nhộng và cuối
cùng trưởng thành ấu trùng có một cặp chân trong khi giai đoạn
nhộng có 4 cặp. Ghẻ cái đào lỗ bên dưới phía ngoài của lớp da
và đẻ trứng trong những đường ống ngoằn ngoèo mà chúng đào.

195
Trứng được ấp thành ấu trùng. Một số tác giả tin tưởng rằng ghẻ
đực chỉ có giai đoạn nhộng và hoàn thành chu trình sống trong
từ 9 đến 11 ngày; ghẻ cái có 2 giai đoạn nhộng và mất từ 14 đến
17 ngày - có lẽ lâu hơn trong thời tiết lạnh để hoàn thiện chu
trình sống. Ghẻ trưởng thành sống được khoảng 1 tháng.
Nhận dạng: cơ thể của chúng không phân chia thành từng
khúc rõ ràng. Ghẻ cái trung bình dài từ 0,2
đến 0,4 tâm và ghẻ
đực thì nhỏ hơn. Cơ thể giống như chiếc túi ovan; bề mặt cơ thể

ra trong vòng từ 12 đến 24 giờ
trong mùa hè. Giai đoạn ấu trùng
cuối cùng từ 4 đến 7 ngày trong điều kiện thời tiết ấm. Khi sẵn
sàng phát triển thành nhộng, ấu trùng thu nhỏ lại cho tới khi
hình thành vỏ bọc giống như viên thuốc dài khoảng 6 mm. Giai
đoạn nhộng thường kéo dài từ 4 đến 5 ngày. Khi giai đoạn
nhộng hoàn thiện, ruồi phá vỡ lớp vỏ và kết thúc giai đoạn
nhộng và thực hiện các công việc của mình bên ngoài. Cánh
đượ
c mở ra và thân được mở rộng, khô ráo và dần cứng lại.
Những đòi hỏi này mất khoảng 1 giờ trong các điều kiện mùa
hè. Tuổi trưởng thành ban đầu đạt được trong khoảng 15 giờ.
Việc kết giao có thể được diễn ra. Mỗi tháng có hai thế hệ hoặc
nhiều hơn được sản sinh trong điều kiện thời tiết ấm.
Nhận dạng: loài bé, ngực và bụng xám dài 6 đến 9 mm. Ng
ực
có 4 dải tối theo chiều dọc, cạnh bụng thường có màu xanh xám
cơ bản, vân cánh thứ 4 có góc rực rỡ, kết thúc trước đầu cánh.
Râu có ích cu lông mịn giống như lông chim.
Môi trường thích nghi hầu hết bất cứ kiểu khí hậu ấm nào,
vật liệu hữu cơ ẩm cũng có thể cung cấp nguồn thức ăn cho ấu
trùng ruồi nhà. Phân động vật và rác rưởi là những vật trung
gian nuôi dưỡng lý tưở
ng. Ruồi không hoạt động ở nhiệt độ
dưới 450F và bị tiêu diệt ở nhiệt độ thấp dưới 320F, hoạt động
hoàn thiện xảy ra khi nhiệt độ đạt đến khoảng 700F. Ruồi là bức

197
tranh của vùng nhiệt đới.
Các biện pháp kiểm soát: vệ sinh nơi lưu giữ rác và thu dọn
198
Các bênh lây truyền: có thể là một vectơ của bênh sung (bệnh
trùng của ngựa và la) và lây truyền bệnh thiếu máu (virus bệnh
của ngựa) ấu trùng ruồi chuồng ngựa là nguyên nhân gây bệnh
viêm tuỷ ở ngựa và động vật nội địa. Bởi vì tập tính hút máu của
chúng, chúng thì bị nghi ngờ bởi việc truyền một số lớn bệnh
tật.
Các đặc tính sinh học: nó không sản sinh từ phân người và
thườ
ng không bị thu hút bởi phân và rác. Do đó, nó ít có khả
năng mang mầm mống của bệnh ỉa chảy và các bệnh đường ruột
khác ấu trùng phát triển mất một thời gian từ 8 đến 30 ngày hoặc
hơn, phụ thuộc vào nhiệt độ.
Nhận dạng: ngực dài 5 đến 6 mm với màu xám và có 4 dải
tối xếp theo chiều dọc và đốm xanh ở phía sau đầu, bụng nhuộm
màu xám với các chấm tối. Cả con đự
c và cái là những kẻ cắn
hút rất nguy hiểm. Nó tiêu biểu cho tất cả các giống ruồi nội địa
bởi có vòi chích thò ra giống như lưỡi lê ở phía trước đầu.
Môi trường thích nghi: con cái đẻ trứng trong những cây mục
hơn là trong phân, trong thân rơm rạ, trong đống cỏ lên men,
đám cỏ, cỏ lạc, hoặc phân chuồng ngựa đã phối trộn đều với
rơm hay cỏ lạc
Các biện pháp kiểm soát: b
ỏ thải cẩn thận đối với các cây
mục, kiểm soát các đống cỏ lên men, cỏ lạc khô, kiểm soát nơi
mà phân được phối trộn vơi rơm, thực hiện vệ sinh môi trường
tốt.

việc truyền bệnh có tính địa phương đã được biết đến ở miền
Tây như bệnh sốt. Chúng mang vi khuẩn bệnh than từ động vật
nội địa đến người.
Nhận dạng: có chiều dài trung bình từ 6 đến 12 mm, thường
có cánh đốm khoang. Rất giống với các đặc tính của ruồi ngựa.
Môi trường thích nghi: đất
ẩm, trong bóng tối của cây, trong
điều kiện khô ráo của các bãi cỏ thưa nơi hiếm khi có nước đọng
hoặc không bao giờ xuất hiện. Một số ấu trùng phát triển trong

200
điều kiện khô của các bãi cỏ.
Các biện pháp kiểm soát: việc kiểm soát rất khó khăn - thuốc
diệt ruồi chưa có hiệu quả .
Chấy rận
Bản thân (Pediculus humanus humanus)
Các bệnh lây truyền: bệnh sốt, bệnh sốt chiến hào, bệnh sốt
hồi quy do chấy rận.
Các đặc tính sinh học: có 3 giai đoạn trong vòng đời: trứng,
nhộng, trưởng thành. Trứng có màu nâu nhạt, chiều dài 0,8 mm
và chiều rộng 0,3mm. Trứng (được gọi là "trứng chấy") được
gắn kết thành sợi trong quần áo lớt. Trứng được ấp bởi nhiệt từ
cơ thể và ấp trong khoả
ng 1 tuần. Sau khi phát triển từ trứng,
nhộng rụng lông 3 lần trước khi trở thành con trưởng thành về
giới tính. Toàn bộ chu trình hoàn thiện vòng đời của chúng
khoảng 18 ngày. Cơ thể chấy rận trưởng thành khác không nhiều
so với nhộng ngoại trừ kích thước và độ trưởng thành của giới
tính. Con đực nhỏ hơn con cái. Sự kết giao xuất hiện thường
xuyên và bất cứ lúc nào trong đời sống trưởng thành, từ 10 giờ

Môi trường thích nghi: hầu hết phổ biến ở phía sau cổ và sau
tai. Chúng ưa thích nhiệt độ và phổ biến ở trẻ em.
Ruồi nai

Các bệnh lây truyền: ở nhiều nước ruồi nai quan trọng trong
việc truyền bệnh có tính địa phương đã được biết đến ở miền
Tây như bệnh sốt. Chúng mang vi khuẩn bệnh than từ động vật
nội địa đến người.

Nhận dạng: có chiều dài trung bình từ 6 đến 12 mm, thường
có cánh đốm khoang. Rất giống với các đặc tính của ruồi ngựa.
Môi trường thích nghi: đất ẩm, trong bóng tối của cây, trong
điều kiện khô ráo của các bãi cỏ thưa nơi hiếm khi có nước đọng
hoặc không bao giờ xuất hiện. Một số ấu trùng phát triển trong
điều kiện khô của các bãi cỏ.202
Các biện pháp kiểm soát: việc kiểm soát rất khó khăn - thuốc
diệt ruồi chưa có hiệu quả.

Chấy rận
Rận thân (Pediculus humanus humanus)
Các bệnh lây truyền: bệnh sốt, bệnh sốt chiến hào, bệnh sốt
hồi quy do chấy rận.

Các đặc tính sinh học: có 3 giai đoạn trong vòng đời: trứng,
nhộng, trưởng thành. Trứng có màu nâu nhạt, chiều dài 0,8 mm
và chiều rộng 0,3mm. Trứng (được gọi là "trứng chấy") được
gắn kết thành sợi trong quần áo lót. Trứng được ấp bởi nhiệt từ


Cháy rận ở đầu (Pediculus humanus capitis)
Các bệnh lây truyền: bệnh chấy rận
Các đặc tính sinh học: sự biến thái giống như chấy rận trên
người. Loài này sống trên đầu và vùng cổ. Trứng được gắn kết
với tóc của da đầu. Mắn đẻ, đẻ khoảng 4 trứng mỗi ngày với
tổng số 88 trứng trong toàn bộ cuộc đời.

Nhận dạng: dài 1 đến 2 mm, bụng kéo dài không có sự phát
triển của lông bên; có 3 đôi chân tương tự nhau; có màu trắng
xám với mép màu tối.

Môi trường thích nghi: hầu hết phổ biến ở phía sau cổ và sau
tai. Chúng ưa thích nhiệt độ và phổ biến ở trẻ em.

Các biện pháp kiểm soát: cắt tóc; gội đầu; không chia sẻ các
sở hữu cá nhân chẳng hạn như lược và bàn chải; sử dụng DDT
nơi cho phép hoặc 1% lindane; kiểm tra trẻ em thường xuyên. Con chấy Con rận
Hình 8

204
Loài chấy rận thường phát hiện thấy ở người
Rận (Pthirus pubis)

Các bệnh lây truyền: bệnh chấy rận
Các đặc tính sinh học: chu trình sống tương tự như chấy rận
trên thân và trên đầu; trứng dính vào tóc. Không biết rõ chúng

khuẩn cầu chùm là nguyên nhân : gây ra ngộ độc thức ăn. Chúng
thường tiếp xúc với cống rãnh, thùng rác và thức ăn của con
người.
Các đặc tính sinh học: có 3 giai đoạn trong chu trình sống
của loài gián này: trứng, nhộng và trưởng thành. Trứng được đẻ
trứng bao trứng có hình dáng giống như vỏ con trai. Nhộng
không có cánh và rất nhỏ. Sự phát triển xảy ra trong giai đoạn
rụng lông liên tiế
p trong đó cơ thể được bảo vệ và một vài lớp
vỏ bên trong mất đi. Các đặc tính mới, chẳng hạn như đầu cánh
và cuối cùng là cánh sẽ xuất hiện sau sự rụng lông này. Các con
đực trưởng thành nhanh hơn con cái và có sự rụng lông trong
một vài giai đoạn phát triển. Trung bình mất 1 năm để trưởng
thành từ trứng. Con cái đẻ 14 đến 16 trứng mỗi lần.

Nhận dạng: loài có kích thước lớn, có chiều dài từ 35 đến 40
mm, có màu hơi đỏ và nâu thẫm với một sự biến đổi màu vàng
nhạt
Môi trường thích nghi: chúng phân bố hầu như rộng khắp thế
giới và ưa thích khí hậu ấm, môi trường ẩm, như trong cống
rãnh, phòng hơi, tầng hầm và bếp - và trong các khe nứt của nhà,
Cũng có thể phát hiện thấy trên cây rỗng, đống gỗ và nơi để rác
rưởi. Chúng ăn keo hồ và tinh bột, huỷ hoại sách và tranh ảnh.
Các biện pháp kiểm soát: vệ sinh cơ bản đây đi của chúng
thức ăn, nước và nơi ở). Bảo quản rác thích hợp (cho vào túi) và
kiểm soát rác (làm sạch rác). Bảo quản thức ăn hợp lý. Sử dụng
thuốc tiêu diệt chúng.

Các đặc tính sinh học: có 3 giai đoạn phát triển trong chu
trình sống của loài gián này: trứng, nhộng và trưởng thành. Giai

ã được kiểm soát ở
một số nơi. Tuy nhiên, những thành công đã đạt được thường
đem lại những thách thức cho tương lai. Khi tuổi thọ của con
người được kéo dài - sẽ phải đối mặt với các vấn đề về sức khoẻ
khác, các bệnh thoái hoá mãn tính. Các bệnh được gọi là mãn

207
tính vì chúng kéo dài và được gọi là thoái hoá vì chúng ngày
càng phá huỷ dần các tế bào của con người. Trong khi những
bệnh có khả năng lây lan bắt đầu một cách đột ngột thì các bệnh
mãn tính lại bắt đầu rất từ từ. Những nguyên nhân gây bệnh
nhiều khi không rõ ràng, không thường xuyên, chúng thường
phát triển trong một thời gian dài, thông thường các bệnh mãn
tính làm giảm chức năng của cơ thể trong một thời gian dài và
việc chữa trị là rất tố
n kém vì chúng cần có thời gian chăm sóc.
Quay lại thế kỷ này, một trong bảy bệnh là bệnh tim hay chứng
đột quỵ. Hiện nay ở một số nước, bệnh tim và bệnh mãn tính
cùng với bệnh ung thư là 3 nguyên nhân chính gây chết người.

Các bệnh mãn tính và bệnh truyền nhiễm khác khác nhau ở
một số khía cạnh. Thứ nhất là nguyên nhân. Một số nguyên nhân
ảnh hưởng đến 2 loại bệnh này, chẳng hạn: các yếu tố di truyền,
dinh dưỡng, kinh tế và xã hội. Điểm khởi đầu của bệnh truyền
nhiễm là từ một tác nhân sinh học, chẳng hạn như một virus.
Trái lại các nguyên nhân chính của bệnh mãn tính thường bắt
nguồn từ lố
i sống, mức độ hoạt động, lượng muối, sử dụng
thuốc lá và rượu. Trong những năm gần đây, con người đã hiểu
rằng môi trường, đặc biệt là môi trường nghề nghiệp, đóng một

thách thức nổi bật ở các nước phát triển. Tuy nhiên, các bệnh
truyền nhiễm vẫn là nguyên nhân chính gây tử vong ở các nước
chậm phát triển.209

Vào năm 1964, dựa vào những bằng chứng đã thu được Tổ
chức Y tế thế giới công bố rằng: 60 - 80% bệnh ung thư bị gây
ra bởi các chất gây ung thư tự nhiên và nhân tạo trong môi
trường (Higginson và Muire, 1976). Những nghiên cứu trong
suốt thời gian qua đã hỗ trợ cho độ chính xác của kết luận trên.

Hầu hết các chuyên gia đều thừa nhận rằng sức khoẻ và tuổi
thọ được xác định bởi "sức khoẻ môi trường" nơi sống.

Ngày nay con người đã bị mắc những bệnh mãn tính, chúng
gây ra từ các nhân tố môi trường nơi con người sống và làm
việc, các thói quen, chế độ ăn kiêng và lối sống. Càng có nhiều
thiết bị quan trắc tinh vi và chính xác, càng có nhiều dữ liệu về
những ảnh hưởng đến sức khoẻ của các chất ô nhiễm và các tác
nhân khác trong môi trường. Cuộc chiến đấu chống lại bệnh tật
phải được nhận thấy không ch
ỉ đơn giản là ở các bệnh viện và
phòng khám, mà ngay cả trên đường phố, ngôi nhà và nơi làm
việc, trong không khí và nước, trong thực phẩm và các sản

210
phẩm, trong các thói quen và lối sống của con người. Điều nhấn
mạnh là sẽ cần có một kiểm nghiệm về những hiểu biết thông


211
nhân khác có thể tiếp nhận nó, bởi vậy đó là bệnh truyền nhiễm.
Con người có thể tránh được sự lan truyần của bệnh truyền
nhiễm nhờ vào việc hiểu biết phương thức lan truyền và kiểm
soát các tác nhân gây bệnh vào môi trường trước khi chúng lây
lan.

Các định nghĩa
Các thuật ngữ sau thông thường được sử dụng khi thảo luận
các lĩnh vực về các bệnh truyền nhiễm.

- Đặc thù : Đề cập đến một loại bệnh xảy ra trong một số
trường hợp đối với một số người cụ thể ở một thời gian cụ thể.

- Dịch bệnh: Đề cập đến một loại bệnh có tỉ lệ lớn hơn bình
thường.

- Dịch lớn: Đề cập đến một loại bệnh có tỉ lệ lớn hơn bình
thường xuất hiện ở nhiều nước. Có thể ở trên toàn cầu.

- Bệnh bất thường: Những bệnh xảy ra không thường xuyên,
ví dụ: bệnh dại,

- Kênh truyền nhiễm: Đường đi của tác nhân gây bệnh
- Phương tiện truyền bệnh: Tác nhân gây bệnh.

- Vật (người) mang bệnh: Một người mang bệnh có khả năng
truyền bệnh mà không biểu hiện các triệu chứng gây bệnh rõ rệt.


và lý học như các vật liệu phóng xạ
.
Động vật cũng làm lan truyền tác nhân gây bệnh tới loài
người. Virus dại và khuẩn hình que của bệnh lao là những ví dụ.
Tularemia, bệnh do vi khuẩn ở trâu bò, bệnh than và bệnh virus
ở vẹt (chim) đó là một vài loại bệnh mà được lan truyền nhờ
động vật.

Bởi vì các sinh vật này lan truyền theo nhiều cách khác nhau
như tiếp xúc trực tiếp hay qua nước, thực phẩm, côn trùng,
không khí, vật vô tri và động vật, do đó rất khó kiểm soát. Trong
một số trường hợp cùng một tác nhân có thể lan truyền bởi nhiều
cách. Ví dụ, dịch tả lan truyền nhờ nước, thực phẩm, ruồi, qua

213
tiếp xúc với phân. Bởi vậy, kiểm soát môi trường phải tiến hành
kiểm soát đa phương từ nước, thực phẩm, không khí, côn trùng,
vệ sinh cá nhân và các lĩnh vực thải bỏ ráC. coli người sẽ nghiên
cứu các bệnh này nhờ phân nhóm chúng theo các phương thức
lan truyền, các nguyên nhân gây bệnh, cách chúng tác động tới
cơ thể, thời gian ủ bệnh và môi trường trình hợp (chuỗi truyền
nhiễm), con người nhấn mạnh vào các phương pháp kiểm soát.

Các bệnh lây lan được lan truyền nhờ bài tiết qua đừơng tiêu
hoá. Một vài bệnh lây lan qua đường tiêu hoá là bệnh thương
hàn, phó thương hàn, dịch tả, lỵ (amíp), bại liệt, lỵ hình que và
bệnh viêm gan B.

Sốt thương hàn
Tác nhân gây bệnh: Salmonella typhi (l06 dạng)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status