1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xi măng là vật liệu quan trọng trong các công trình xây dựng và
thường chiếm tỷ trọng từ 20 - 25% giá trị xây dựng công trình. Nước ta có đủ
điều kiện và tài nguyên khoáng sản và các nguồn lực khác để đầu tư phát triển
ngành công nghiệp xi măng thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Phương
hướng nghiệp vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm (1996 - 2000) được Đại hội
Đảng lần thứ VIII nêu rõ: "... sản lượng xi măng năm 2000 đạt khoảng 18 đến
20 triệu tấn".
Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng đến 2010 đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt trong Quyết định số 970/1997/QĐ-TTg ngày 14-11-1997,
với mục tiêu:
Thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng xi măng (kể cả số lượng, chủng loại và
chất lượng) cho xây dựng trong nước, đồng thời dành một phần để xuất khẩu
nhằm cân đối ngoại tệ cho trả nợ và tái sản xuất mở rộng trong các năm sau,
từng bước đưa ngành công nghiệp xi măng Việt Nam trở thành một ngành
công nghiệp mũi nhọn, công nghệ hiện đại ngang bằng với các nước trong
khu vực, góp phần tăng trưởng kinh tế và thực hiện đường lối công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy vậy trong giai đoạn hiện nay thị trường khu vực Đông Nam Á có
nhiều biến đổi theo xu hướng cung cao hơn cầu do bị ảnh hưởng bởi khủng
hoảng tài chính tiền tệ nên tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước đều chậm
lại. Vì vậy, thị trường xi măng ở Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của thị
trường xi măng trong khu vực và có nhiều biến động trong những năm gần
đây. Một vấn đề quan trọng theo xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập với việc
Việt Nam tham gia các tổ chức thương mại quốc tế và khu vực như AFTA,
3
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là từ việc nghiên cứu thực trạng tổ
chức và quản lý hiện nay của ngành xi măng Việt Nam và hội nhập quốc tế để
đề xuất những giải pháp và quản lý nhằm giúp cho sự phát triển, cạnh tranh và
hội nhập quốc tế của ngành xi măng nước ta trong thời gian sắp tới.
Để hoàn thành mục tiêu trên luận án sẽ tập trung giải quyết những
nhiệm vụ cơ bản sau đây:
+ Phân tích thực trạng cạnh tranh của ngành công nghiệp xi măng Việt
Nam hiện nay và của các nước trên thế giới đặc biệt là các nước khu vực.
+ Phân tích những chỉ số cơ bản trong đầu tư, trong quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý vĩ mô tác động đến khả năng cạnh tranh trong quá trình
hội nhập quốc tế của ngành xi măng Việt Nam và những luận điểm cơ bản về
vấn đề cạnh tranh và hội nhập quốc tế, những mối quan hệ giữa đổi mới quản
lý đến nâng cao sức cạnh tranh.
+ Nêu những kinh nghiệm nâng cao sức cạnh tranh của các đối thủ
cạnh tranh của ngành xi măng Việt Nam và tình hình thị trường xi măng quốc
tế hiện nay và tương lai.
+ Đề xuất những giải pháp đổi mới quản lý các mặt để nâng cao khả
năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế của ngành xi măng Việt
Nam trong thời gian tới.
+ Kiến nghị một số vấn đề trước mắt về các cơ quan chính sách để
tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy phát triển ngành xi măng Việt Nam.
4. Giới hạn nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở khảo sát thực trạng của các nhà máy xi măng hiện nay ở
Việt Nam, tình hình của thị trường xi măng quốc tế, đặc biệt là thị trường khu
vực (ASEAN và Đông Á) có ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường xi măng Việt
4
- Đề xuất phương pháp lượng hóa sức cạnh tranh áp dụng cho ngành
xi măng.
- Xây dựng chiến lược phát triển cạnh tranh quốc tế của ngành xi
măng Việt Nam dựa trên mô hình ma trận SWOT.
Đề xuất thay đổi mô hình tổ chức quản lý của ngành xi măng Việt
Nam để nâng cao sức cạnh tranh và hội nhập.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án gồm 3 chương với 14 tiết.
6
Chương 1
KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP XI MĂNG VIỆT NAM
1.1. VẤN ĐỀ CẠNH TRANH VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Cạnh tranh (Tiếng Anh là competition)
Về mặt thuật ngữ được hiểu như là sự cố gắng giành thắng lợi, phần
thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động có những mục tiêu
và lợi ích giống nhau trong kinh doanh, cạnh tranh được định nghĩa như là sự
đua tranh giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành ưu thế trên
cùng một loại tài nguyên, sản phẩm hoặc cùng một loại khách hàng về phía
mình.
- Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của cơ chế thị
cách tự do, không có sự can thiệp của Nhà nước, trong đó giá cả lên xuống
theo sự chi phối của các quy luật thị trường. Cùng với các quy luật kinh tế thị
trường, đặc biệt là quy luật giá trị. Cạnh tranh tự do dẫn đến sự phân hóa hai
cực: giàu nghèo rõ rệt.
- Cạnh tranh hoàn hảo (Perefect competition) hay còn gọi là cạnh
tranh thuần túy (Pure competition) là hình thức cạnh tranh trong đó giá cả của
một loại hàng hóa là không đổi trong toàn bộ một địa danh của thị trường; các
yếu tố sản xuất được tự do luân chuyển từ ngành này sang ngành khác; chi phí
vận tải không đáng kể và không đề cập tới.
Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi không một người sản xuất nào có thể
tác động đến giá cả trên thị trường. Mỗi người sản xuất đều phải bán sản
phẩm của mình theo giá thịnh hành mà thị trường đã chấp nhận thông qua
8
quan hệ cung - cầu. Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi có một số lớn doanh
nghiệp nhỏ sản xuất một mặt hàng y hệt nhau và sản lượng từng doanh nghiệp
quá nhỏ không thể tác động đến giá cả thị trường. Cạnh tranh hoàn hảo muốn
tồn tại phải có các điều kiện.
+ Tất cả các hàng kinh doanh trong ngành đó có quy mô tương đối nhỏ.
+ Số lượng các hàng kinh doanh trong các ngành đó phải rất nhiều
trong điều kiện như vậy không có công ty nào đủ sức mạnh để có thể có ảnh
hưởng đến giá cả của các sản phẩm của mình trên thị trường. Sản phẩm của
các hàng đưa ra trên thị trường giống nhau tới mức cả người sản xuất và
người tiêu thụ đều rất khó phân biệt.
Cạnh tranh không hoàn hảo (Inperfect competition) là hình thức cạnh
tranh mà ở đó các cá nhân người bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sức
mạnh và thể lực có thể chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trường.
Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: Độc quyền nhóm và cạnh
nhu cầu của người tiêu dùng.
+ Cạnh tranh không lành mạnh (unfair competition) là hình thức cạnh
tranh mà trong quá trình sản xuất và kinh doanh các nhà doanh nghiệp luôn có
thái độ không trung thực, gian dối như: biếu xén, hối lộ để dành ưu thế trong
kinh doanh, vu khống về chất lượng sản phẩm, hàng hóa của đối tác cạnh
tranh; tung ra thị trường sản phẩm chất lượng mang nhãn hiệu của đối thủ
cạnh tranh, ngăn cản việc phân phối sản phẩm của đối thủ cạnh tranh bằng các
hành vi trái pháp luật, sử dụng "chiến tranh giá cả" để loại bỏ đối thủ cạnh
tranh... Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra trong mọi lĩnh vực và
được biểu hiện đa dạng. Một số doanh nghiệp có thể liên kết, thỏa thuận với
nhau và phân chia cho từng doanh nghiệp trong từng thời điểm có thể thắng
thầu mà rất hợp pháp, khó bị phát hiện, được coi như trường hợp ngẫu nhiên.
Ngoài các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuần túy còn xuất hiện các
hành vi lạm dụng thế mạnh về kinh tế, tài chính để cạnh tranh thể hiện tính
chất "cá lớn nuốt cá bé" (như bán phá giá chẳng hạn).
+ Cạnh tranh bất hợp pháp: (Fraudulent competition) là những hành
vi của các nhà kinh doanh thực hiện cạnh tranh trái với quy định của pháp
10
luật, đi ngược lại các nguyên tắc xã hội, tập quán truyền thống của kinh doanh
lành mạnh, xâm phạm lợi ích của xã hội, của Nhà nước, của người tiêu dùng
và của các nhà kinh doanh khác.
+ Có hai loại cạnh tranh kinh tế là cạnh tranh trong sản xuất và cạnh
tranh trong lưu thông.
Cạnh tranh trong sản xuất là cạnh tranh diễn ra trong lĩnh vực sản
xuất, nó bao gồm cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các xí
nghiệp cùng sản xuất một loạt hàng hóa nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch.
+ Cạnh tranh của một sản phẩm là nhằm đạt tới giá cả thấp, chất
cạnh tranh là về giá cả, chất lượng và điều kiện giao nhận bao gồm đảm bảo
thời gian giao hàng, phục vụ sau bán hàng và quảng cáo.
+ Cạnh tranh phi kinh tế chính là việc nhà kinh doanh có tài năng sử
dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất để tạo ra lợi nhuận cao.
Cạnh tranh trong lưu thông là cạnh tranh trên lĩnh vực trao đổi, mua
bán hàng hóa, cạnh tranh trong lưu thông gồm có cạnh tranh giữa người bán
và người mua, người bán với người bán, người mua với người mua.
- Cạnh tranh giữa người bán với người mua chính là sự tác động qua
lại giữa sức cung và sức cầu trên thị trường. Sự cạnh tranh này dẫn đến hình
thành giá cả cân bằng trên thị trường.
Cạnh tranh giữa người bán với người bán là cạnh tranh để làm cho
giá cả hàng hóa có xu hướng giảm, còn cạnh tranh giữa người mua với người
mua lại có tác động ngược lại thường làm cho giá cả tăng lên.
1.1.1.3. Đặc điểm cạnh tranh trong giai đoạn hiện nay
Môi trường vận động của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh. Cạnh
tranh là một đặc trưng của nền sản xuất hàng hóa, là một yếu tố thúc đẩy tiến
bộ xã hội, nếu không có cạnh tranh sẽ không có phát triển, bởi thế cạnh tranh
có chứa đựng yếu tố tích cực của nó.
12
Ngày nay, quan hệ trao đổi, buôn bán rất phát triển, vấn đề cạnh tranh
trong thương mại, trong sản xuất không còn bó hẹp trong phạm vi một quốc
gia nữa, nó đã mở rộng ra phạm vi quốc tế. Phải chấp nhận cạnh tranh, chấp
nhận những thử thách nghiệt ngã của thị trường thì các hãng sản xuất kinh
doanh mới đứng vững trên thị trường và phát triển được.
Đặc điểm cơ bản của thị trường hiện nay là chuyển từ cạnh tranh giá
sang cạnh tranh chất lượng. Những hàng chiếm ưu thế trên thị trường là
những hãng cung cấp những hàng hóa chất lượng cao, luôn luôn đáp ứng yêu
dùng thỏa mãn.
- Một vấn đề khác trong cạnh tranh là vấn đề điều kiện giao nhận như
đảm bảo thời gian giao hàng, phục vụ sau bán hàng.
- Ngoài ra quảng cáo là biện pháp cạnh tranh thông dụng ngày nay.
Qua quảng cáo, hàng hóa đi vào tâm lý người tiêu dùng và từ đó chiếm lĩnh
được thị trường.
Tóm lại, cạnh tranh là môi trường tồn tại và phát triển của nền kinh tế
thị trường, không có cạnh tranh sẽ không có tính năng động và sáng tạo trong
hoạt động sản xuất - kinh doanh. Song xã hội dần dần sẽ chỉ chấp nhận hành
vi cạnh tranh lành mạnh bằng các phương thức sản xuất và chu chuyển hàng
hóa một cách khoa học, hiệu quả chứ không thừa nhận các hành vi cạnh tranh
bằng cách dựa vào các thủ đoạn lừa đảo, không trong sáng.
Ở Việt Nam, mặc dầu Nhà nước chưa xây dựng dựng chính sách cạnh
tranh, chưa có luật cạnh tranh nhằm điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh trong
hoạt động sản xuất - kinh doanh, song nền kinh tế thị trường có sự điều tiết
của Nhà nước đã tác động mạnh mẽ tới hệ thống pháp luật buộc nó phải ngày
càng hoàn chỉnh. Một số quy phạm pháp luật của nhiều chế định pháp lý
thuộc các ngành luật, hình sự, hành chính, kinh tế, dân sự... do Nhà nước ban
hành trong thời gian qua đã chú trọng điều chỉnh các quan hệ kinh tế - dân sự
mang tính cạnh tranh, nhằm ổn định trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do kinh
14
doanh của các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế, bảo vệ quyền lợi của
người sản xuất và tiêu dùng.
1.1.1.4 Năng lực cạnh tranh của hàng hóa, sản phẩm trên thị trường
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa phụ thuộc vào chất
lượng hàng hóa (L), giá cả (P), các tác nhân trong thị trường (M) và các chính
sách tác động vào thị trường và tiếp thị (F).
và là những người sản xuất (hàng nội) hay là các nhà nhập khẩu (hàng ngoại).
+ Người phân phối: Đây là khâu trung gian giữa người cung cấp và
người mua. Họ có vai trò chủ yếu trong thị trường vì nhờ có họ mà cung gặp
được cầu. Hoạt động chủ yếu của họ là kinh doanh thương mại và bao gồm
nhà bán buôn, nhà bán lẻ, đại lý.
+ Các tác nhân khác: Đây là những tác nhân quan trọng có ảnh hưởng
tới môi trường hoạt động của doanh nghiệp bao gồm:
- Nhà nước có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng thông qua việc ban hành
hệ thống văn bản pháp quy, chính sách nhằm tạo ra môi trường chính trị, pháp
luật và kinh tế vĩ mô cho hoạt động của các doanh nghiệp. Đặc biệt chính
sách tài khóa của Chính phủ ảnh hưởng tới cung - cầu hàng hóa hoặc là chính
sách đầu tư cũng vậy.
- Các cơ quan tài chính như ngân hàng, bảo hiểm... thông qua các quy
định về tín dụng, lãi suất, tỷ lệ bồi thường thiệt hại v.v... Các cơ quan này có
thể ảnh hưởng đến sự phân bố ngân sách cho tiêu dùng hay tiết kiệm, đến giá
cả hàng hóa. Từ đó, đến sức mua, đến quan hệ cung - cầu trên thị trường. Ví
dụ lãi suất thấp sẽ khuyến khích khách hàng vay tiền để mua hàng, ngược lại
lãi suất cao sẽ thúc đẩy việc tiết kiệm để gửi vào ngân hàng, hạn chế việc đi
vay để mua hàng.
- Các cơ quan quốc tế cũng có ảnh hưởng rất lớn tới điều kiện hoạt
động của các doanh nghiệp. Các cơ quan này gồm các cơ quan liên hiệp quốc
(UMCERF, UNFPA, UNDP, FAO... ) các cơ quan tài chính quốc tế (IMF,
16
WB, ADB... ) Các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực... Ví dụ các dự án của
ADB cho Việt Nam vay tiền làm đường sẽ tăng cầu về vật liệu xây dựng và
về ô-tô, xe máy v.v...
- Các tổ chức tư nhân như nghiệp đoàn, mọi thứ hội đoàn mà hoạt
Nói chung người ta thường căn cứ theo một số tiêu chuẩn để phân
đoạn thị trường như sau:
Về địa lý: Đô thị, nông thôn, miền Bắc, miền Nam, đồng bằng, biển,
tỉnh, huyện.
Về dân số - xã hội: Tuổi, giới tính, nghề nghiệp, mức thu nhập, trình
độ học vấn, chế độ gia đình.
Tâm lý: Thái độ, động cơ, cá tính, cách sống, giá trị, văn hóa, thói
quen v.v...
Hành vi tiêu dùng: Lý do mua, số lượng và tỷ lệ tiêu dùng, thị hiếu về
bao bì, mẫu mã, nhãn mác v.v...
Định vị sản phẩm: Là thiết kế một sản phẩm và tạo ra cho nó một hình
ảnh đối với khách hàng để cho trong tâm lý người này có một vị trí nhất định
(rõ và cá biệt) so với các sản phẩm cạnh tranh vì trong đoạn thị trường mà
doanh nghiệp chọn có rất nhiều sản phẩm cùng loại hoặc có khả năng thay thế
so với sản phẩm của doanh nghiệp.
Ví dụ: Xi măng lò đứng có thể nhắm vào thị trường nông thôn nơi có
thu nhập thấp và tính chất công trình đòi hỏi không cao.
Chính sách tiếp thị: Chính sách này bao gồm 4 chính sách bộ phận,
được gọi là "4P" tức là viết tắt của (tiếng Anh): Product: sản phẩm, Price: giá,
promotion: xúc tiến bán hàng, place: phân phối.
Chính sách sản phẩm: Product: xác định những đặc tính của hàng hóa:
chất lượng, đặc trưng, phong cách, nhãn hiệu, bao bì, mẫu mã, bảo hành dịch
vụ sau tiêu thụ.
18
Chính sách giá cả: vùng giá, điều kiện thanh toán, chế độ tín dụng.
Xúc tiến bán hàng: Đây là việc lựa chọn các phương tiện chủ yếu để
thông tin và gây ảnh hưởng đến khách hàng của doanh nghiệp: quảng cáo, xúc
Thứ hai, xác định các nhóm tham số so sánh. Có hai nhóm: nhóm 1 là
đặc trưng cho tính năng công dụng của sản phẩm (giá trị sử dụng); nhóm 2 là
đặc trưng cho tính kinh tế của nó (giá trị)
Nhóm giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hóa được đặc trưng bởi các
tham số mô tả các chức năng quan trọng của sản phẩm trong đó chú trọng
nhất là các tham số kỹ thuật gọi là tham số "cứng" (hiệu quả, tiêu chuẩn kỹ
thuật) và mẫu mã, màu sắc, bao bì... Tức là tính thẩm mỹ của sản phẩm gọi là
tham số " mềm ". Sau khi chọn được các tham số, người ta phải sắp xếp
chúng theo: "độ lớn" và tầm quan trọng của chúng đối với người tiêu dùng giá
trị của chúng là P.
Nhóm đặc trưng cho giá trị sản phẩm (các tham số kinh tế) cũng được
xác nhận: các tham số này xác định các chi phí mà người tiêu dùng phải bỏ ra.
Chúng bao gồm giá mua sản phẩm C 1, chi phí vận chuyển C2, chi phí lắp đặt
C3, chi phí hướng dẫn sử dụng C4, chi phí sử dụng C5, chi phí sửa chữa C6, chi
phí bảo dưỡng kỹ thuật C7... Tổng chi phí đó được gọi là giá tiêu dùng:
m
C = ∑ Ci
i=1
Thứ ba: Tính toán các chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu chung phản ánh
khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Việc tính toán chỉ tiêu tổng hợp dựa trên cơ sở so sánh các tham số
của các sản phẩm cần đánh giá với các tham số của sản phẩm mẫu. Do vậy
phải lượng hóa các tham số.
20
+ Mỗi tham số "cứng" đều có một trị số nhất định, được đo bằng một
Trong đó: m là số tham số tham gia vào việc đánh giá; i j và aj là chỉ số
của tham số thứ j và trọng lượng của nó. Chúng cũng cần thỏa mãn các điều
kiện như ở trên.
21
Và chỉ số khả năng cạnh tranh sản phẩm xác định là:
Lt
K = ----Lk
Cuối cùng so sánh khả năng cạnh tranh sản phẩm của mình K với chỉ
số Km của sản phẩm mẫu.
Nếu K > Km thì sản phẩm của ta có khả năng cạnh tranh cao hơn sản
phẩm mẫu, còn K < Km thì ngược lại; Nếu K = Km thì sản phẩm chúng ta có
khả năng cạnh tranh tương đương sản phẩm mẫu.
1.1.1.6. Lượng hóa khả năng cạnh tranh cho sản phẩm xi măng
Chúng ta có thể thực hiện các bước sau đây:
* Xây dựng chỉ số khả năng cạnh tranh cho sản phẩm mẫu:
Bước 1: Xác định chỉ số tham số tiêu dùng chung (đặc trưng cho giá
trị sử dụng hay là chất lượng của sản phẩm) theo công thức:
n
Lt = ∑ aJiJ
i=1
Chúng ta có thể dựa theo 5 tiêu chí cơ bản:
Thứ nhất: Chỉ tiêu đạt TCVN 2682-1997 hoặc TCVN 6260-1997 ở
đây có thể chia làm ba chỉ tiêu nhỏ:
+ Đạt tiêu chuẩn cường độ uốn, nén
1 điểm
Kém:
0 điểm
Nếu: + Theo hướng thấp hơn định mức thì trừ đi
+ Cao hơn định mức thì cộng vào
Ta có thể xây dựng bảng dự kiến đánh giá như sau:
Bảng 1.1: Bảng xác định chỉ số Lt của sản phẩm mẫu
Định mức
chuẩn
Trọng
lượng của
tham số
Chỉ số
điểm mẫu
Điểm tổng
hợp của
mẫu chuẩn
0,35
2
0,7
phép
>1%
do
25%
23
II
Chỉ tiêu đạt chứng chỉ ISO
4
Đã đạt được
0,2
2
0,4
+ Đang làm và sắp được
75%
+ Chưa thực hiện
25%
8
+ Tiêu hao bi đạn nghiền
>0,5kg/1tấn
XM
12,5%
9
Tiêu hao gạch chịu lửa Cr-Mg
>
1kg/1txi
măng
12,5%
0,5
25%
IV Bao bì mẫu mã
0,1
2
Tổng Lt
25%
1
2,0
Bước 2: Xác định chỉ số tham số kinh tế (đặc trưng cho giá trị của s/p)
Chỉ số kinh tế chung là:
m
Lk = ∑ aJiJ
i=1
Ta cũng có thể xây dựng 5 chỉ tiêu:
Thứ nhất: Chỉ tiêu giá bán tại nơi sản xuất
+ Đạt yêu cầu đủ chi phí, nộp thuế và có lãi
+ Bán trên giá thành chuẩn
24
Thứ hai: Chỉ tiêu chi phí vận chuyển tới nơi tiêu dùng
+ Tới nơi tiêu dùng
+ Tới nơi đại lý
Thứ ba: Chi phí tiêu thụ
+ Chi phí quảng cáo
+ Chi phí tiếp thị
+ Chi phí phục vụ bán hàng
Thứ tư: Chi phí bảo quản
Trọng
Chỉ số
lượng của điểm
tham số
mẫu
0,35
2
+ Đạt yêu cầu, đủ chi phí nộp
thuế và có lãi
75%
+ Bán dưới giá thành (phá giá)
25%
Điểm tổng
hợp của
mẫu chuẩn
0,7
25
II
Chi phí vận chuyển
50%
IV Chi phí bảo quản
V
≤ 4USD/1tấn
≤ 1USD/1tấn
0,1
2
+ Xi măng bao
50%
+ Xi măng rời
50%
Chi phí sử dụng và bảo hành ≤ 1USD/1tấn
chất lượng sản phẩm
0,1
≤ 56USD/1tấn
Xếp loại: K ≥ 0,95 là sản phẩm có khả năng cạnh tranh ở thị trường
khu vực.