MỞ ĐẦU
1- TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một
trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu ở nước ta hiện nay, trong đó,
phát triển CNNT là "chìa khóa" đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn.
Phát triển CNNT ở ĐBSCL hiện đang là một nhu cầu hết sức bức
bách, vì thực tiễn đã chỉ rõ: nếu chỉ dựa vào nông nghiệp thuần nông và độc
canh cây lúa như hiện nay thì kinh tế vùng này không thể phát triển mạnh
và bền vững, đời sống nông dân khó có thể được cải thiện và nâng cao.
Với hy vọng góp phần nhỏ trong việc tìm ra các giải pháp nhằm
đưa ĐBSCL tiến nhanh vào văn minh, hiện đại, tôi chọn vấn đề "Phát triển
công nghiệp nông thôn ở Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm đề tài nghiên cứu và viết luận án tiến sĩ
chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Từ cuối thập niên 40 của thế kỷ này, khái niệm “Công nghiệp nông
thôn” xuất hiện và đến nay khái niệm CNNT được dùng rộng rãi như một
phạm trù kinh tế độc lập. Nhưng mãi đến 1981, CNNT ở nước ta mới được
quan tâm và được đặt trong một chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước
mang mã số KX-08: “Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn” với đề
tài “Định hướng và giải pháp công nghiệp hóa nông thôn Việt Nam” mã số
KX-08-07 do GS Nguyễn Văn Hường, GS Đặng Ngọc Dinh làm Chủ
nhiệm; ở ĐBSH có dự án "Phát triển công nghiệp nông thôn nhằm đa dạng
hóa thu nhập của nông dân vùng có mật độ dân số cao ở đồng bằng sông
Hồng" của tập thể tác giả do GS Hồ Văn Vĩnh làm chủ nhiệm. Ngoài ra
còn có một luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Văn Phúc với đề tài "CNNT
1
- Xác lập quan niệm khoa học về CNNT làm cơ sở cho việc đi sâu
nghiên cứu CNNT trên địa bàn ĐBSCL.
- Chỉ ra được những điều kiện cơ bản để hình thành và phát triển
CNNT cùng những đặc điểm chủ yếu của nó.
3
- Từ phân tích những mô hình phát triển CNNT ở các nước và vùng
lãnh thổ đang phát triển trong khu vực luận án đã vạch rõ những ưu, nhược
điểm của các mô hình phát triển CNNT ở các nước đó, rút ra những bài học
kinh nghiệm có ý nghĩa đối với phát triển CNNT ở ĐBSCL.
- Đã phân tích làm rõ thực trạng phát triển CNNT ở ĐBSCL trong
những năm đổi mới, từ đó chỉ ra những mâu thuẫn, tồn tại cần giải quyết để
đẩy mạnh phát triển CNNT ở ĐBSCL trong những năm tới.
- Xác lập được những quan điểm, định hướng cơ bản để phát triển
CNNT phù hợp với điều kiện cụ thể của ĐBSCL.
- Đề xuất có cơ sở khoa học và thực tiễn xác đáng những giải pháp
nhằm đẩy mạnh phát triển CNNT ở ĐBSCL trong những năm tới.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận án chia làm 3 chương, 9 tiết.
4
Chương 1
CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
Hiện nay hầu hết các nước đang phát triển trên thế giới đều chú
theo đó mỗi nước có cách thức phát triển CNNT riêng cho mình vì vậy kết
quả thu được giữa các nước cũng rất khác nhau.
Trên thực tế, các khái niệm CNNT đã được đưa ra từ hai cách tiếp
cận cơ bản sau: [các quan niệm về CNNT trình bày dưới đây được tổng
hợp từ các nguồn tài liệu: [3, 3], [14], [21], [22], [40, 159-164], [43, 2], [45,
4], [53, 2], [61] ...].
- Cách tiếp cận thứ nhất: CNNT được nghiên cứu dưới giác độ kinh
tế ngành. Tức là đặt CNNT trong sự phát triển theo chiều dọc của ngành
kinh tế công nghiệp và theo đó CNNT được xác định chỉ là một bộ phận
của kinh tế công nghiệp. Với cách tiếp cận này CNNT được xem như một
tổng thể bao gồm nhiều bộ phận thuộc nhiều ngành công nghiệp khác nhau.
Do mỗi ngành công nghiệp có đặc điểm riêng, có mối liên hệ khép kín và
kết cấu chặt chẽ cho nên mỗi bộ phận khác nhau của CNNT phải phát triển
theo quy hoạch, kế hoạch riêng của từng ngành công nghiệp cụ thể. Theo
kiểu cách này thì CNNT chắc chắn sẽ phát triển bền vững hơn, nhưng sẽ ít
có tác dụng hơn đối với phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, đặc biệt là đối
với sản xuất nông nghiệp. Bởi lẽ, trong trường hợp này, nông thôn chỉ là
nơi tiếp nhận sự phân bổ kế hoạch phát triển của các ngành sản xuất công
nghiệp; là biện pháp nhằm phân tán hóa các cơ sở công nghiệp về nông
thôn để khai thác nguồn lao động rẻ tại địa phương và trong nhiều trường
hợp nó nhằm tránh tình trạng gây ô nhiễm môi trường ở các đô thị.
- Cách tiếp cận thứ hai: CNNT được tiếp cận dưới giác độ kinh tế
lãnh thổ. Theo cách tiếp cận này, CNNT được xem là một bộ phận của kinh
tế lãnh thổ, gồm nhiều ngành công nghiệp khác nhau và được phát triển
trong các mối quan hệ kinh tế - xã hội khép kín trong phạm vi một địa bàn
nông thôn nhất định. Điều đó có nghĩa là việc phát triển CNNT phải xuất
6
phát từ những nhu cầu cần thiết đối với phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
Những lập luận trình bày trên cho thấy, nếu nhìn một cách phiến
diện từ giác độ kinh tế ngành hay kinh tế lãnh thổ đều không thể có nhận
thức đúng đắn về CNNT. Do vậy muốn có nhận thức đúng đắn về CNNT
thì cần phải xem xét nó trong tổng thể các mối quan hệ của nền kinh tế.
Tức là CNNT phải được xem xét trong cả quan hệ dọc (kinh tế ngành) lẫn
quan hệ ngang (kinh tế lãnh thổ). Đồng thời nó cũng còn phải được xem xét
trong lĩnh vực kinh tế (phát triển lực lượng sản xuất, thỏa mãn nhu cầu của
nền kinh tế quốc dân và thị trường quốc tế) lẫn cả các tác động xã hội (việc
làm, thu nhập, mức sống dân cư)... Ngoài ra CNNT còn phải được xem xét
trong mối quan hệ với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đất nước
trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Hiện nay việc áp dụng quan điểm hệ thống vào nghiên cứu tìm ra
những giải pháp phát triển CNNT nhằm thực hiện các mục tiêu CNH, HĐH
nền kinh tế đất nước nói chung và nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã
được các nhà nghiên cứu nước ta xem trọng và cũng đã đi đến những thành
công nhất định, trước hết là trên lĩnh vực kinh tế vĩ mô. Trong quá trình
nghiên cứu đó, đã có một số nhà khoa học nhất trí cho rằng: "CNNT là một
bộ phận của công nghiệp với các trình độ phát triển khác nhau, phân bổ ở
nông thôn, gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, bao gồm
nhiều ngành nghề đan kết chặt chẽ với kinh tế nông thôn, nhất là sản xuất
nông nghiệp. CNNT không phải là toàn bộ các hoạt động phi nông nghiệp
hoặc bó hẹp trong các hoạt động tiểu, thủ công nghiệp ở nông thôn mà bao
gồm bộ phận sản xuất công nghiệp và các dịch vụ có tính chất công nghiệp
ở nông thôn của:
Thợ thủ công chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp.
Các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Các hợp tác xã và các tổ hợp, tổ sản xuất công nghiệp và thủ công
nghiệp.
8
dịch vụ ngay trên địa bàn nông thôn;
3*
Làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn từ
thuần nông sang cơ cấu nông - công nghiệp - dịch vụ;
4*
Tạo điều kiện thúc đẩy xã hội nông thôn phát triển tiến lên
văn minh hiện đại.
Sự khẳng định CNNT bao gồm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
với quy mô vừa và nhỏ hoàn toàn không dựa vào ý chí chủ quan mà là dựa
vào những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của các vùng nông thôn. Nhìn
chung do đường xá, phương tiện giao thông vận tải, hệ thống thương mại
dịch vụ... ở nông thôn thường trong tình trạng phát triển thiếu đồng bộ và
10
yếu kém hơn so với đô thị nên CNNT chỉ có điều kiện phát triển một cách
phổ biến ở quy mô vừa và nhỏ.
CNNT, do có những đặc tính nêu trên nên tất yếu phải được đặt
dưới sự quản lý của các cấp chính quyền địa phương từ tỉnh đến huyện, xã
và việc phát triển CNNT nhất thiết phải được đặt trong chương trình, kế
hoạch phát triển toàn diện kinh tế - xã hội của địa phương.
1.1.2. Phân biệt khái niệm CNNT với CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn
CNNT và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là hai khái niệm
khác nhau. Bởi lẽ CNNT là một khái niệm dùng để chỉ một bộ phận của
ngành công nghiệp, còn CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện
Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với công
hóa.
nghệ ngày càng cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở
đô thị.
8*
Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các
ngành nghề mới.
9*
Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bước hình
thành nông thôn mới văn minh, hiện đại [17, 87].
Như vậy, chúng ta có thể hình dung được thực chất của CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay là quá trình phát triển toàn diện
kinh tế - xã hội nông thôn thông qua các biện pháp sau:
* Phát triển các hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp bao gồm các
ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các hoạt động dịch vụ
kinh tế kỹ thuật vào nông thôn với tỷ trọng ngày càng lớn nhằm chuyển
dịch và cải biến nền kinh tế nông thôn từ thuần nông sang cơ cấu kinh tế
nông - công nghiệp - dịch vụ.
* Trang bị máy móc, thiết bị công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp
để cải tạo nền nông nghiệp thủ công, lạc hậu, năng suất thấp thành nền nông
nghiệp cơ khí hóa, sinh học hóa, năng suất cao, khối lượng hàng hóa lớn.
* Phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội
nông thôn (thủy lợi, giao thông, bưu chính viễn thông, y tế, giáo dục, văn
hóa, nhà ở, điện, nước... ) để từng bước đô thị hóa nông thôn.
Chính vì CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn chỉ được thực hiện
là những hoạt động sản xuất phụ của nông dân nhưng do được chuyên môn
hóa theo sự phân công nhất định nên năng suất và chất lượng sản phẩm
ngày càng tăng lên, số lượng sản phẩm làm ra không những đáp ứng đủ nhu
cầu tiêu dùng mà còn có dư thừa ngày càng nhiều để đem trao đổi lấy
những sản phẩm tiêu dùng khác. Việc trao đổi sản phẩm thừa lúc đầu chỉ là
13
ngẫu nhiên, nhưng dần dần nó đã trở thành hoạt động có ý thức, do đó các
hoạt động sản xuất thủ công nghiệp ngày càng trở thành hoạt động sản xuất
chủ yếu của một số thành viên trong gia đình nông dân.
Kể từ khi có sự ra đời của những công cụ bằng kim loại, đặc biệt là
công cụ bằng sắt, con người đã có khả năng sản xuất được nhiều tư liệu
hơn số tư liệu cần thiết cho sinh hoạt của họ, nhờ đó nền sản xuất nhằm để
trao đổi mua bán từng bước ra đời phát triển, đồng thời các hoạt động thủ
công nghiệp cũng dần dần tách khỏi nông nghiệp. Ph. Ăngghen đã viết:
"Của cải tăng lên nhanh chóng, nhưng với tư cách là của cả của cá nhân;
nghề dệt, nghề chế tạo đồ kim khí và những nghề thủ công khác ngày càng
tách khỏi nhau, đã làm cho sản phẩm của chúng ngày càng có nhiều loại và
ngày càng thêm hoàn hảo về mặt nghệ thuật; bây giờ ngoài ngũ cốc, các
loại đỗ và hoa quả ra, nông nghiệp còn cung cấp cả dầu thực vật và rượu
vang mà người ta đã học được cách làm. Một hoạt động nhiều mặt như thế
không thể chỉ do độc một cá nhân tiến hành được nữa, sự phân công lớn lần
thứ hai đã diễn ra: thủ công nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp... Vì nền sản
xuất bị tách ra thành hai ngành chính, nông nghiệp và thủ công nghiệp nên
đã ra đời nền sản xuất trực tiếp nhằm trao đổi, đó là nền sản xuất hàng hóa"
[1, 242-243]. Kinh tế hàng hóa ra đời đã tạo động lực thúc đẩy các hoạt
động sản xuất của những người thợ thủ công phát triển mạnh mẽ, từ đó
nhiều hộ nông dân đã trở thành hộ sản xuất thủ công nghiệp chuyên sản
nghiệp nổi tiếng của một số hộ nhanh chóng trở thành đối tượng sản xuất
của nhiều hộ khác trong làng và lan sang những làng khác. Điều đó có
nghĩa là các bí quyết về kỹ thuật và công nghệ chế tạo sản phẩm của các hộ
nổi tiếng luôn luôn bị đánh cắp và được nhân rộng ra, gây thiệt hại rất lớn
cho những hộ đó, nhưng dần về sau nó lại trở thành thiệt hại chung cho cả
làng nghề. Tình trạng đó đã buộc những người quản lý trong làng phải đề
ra những quy định khắt khe về các quan hệ giữa người trong làng với người
ngoài làng như không truyền nghề cho con gái hoặc cấm gả con gái sang
làng khác... đồng thời họ còn quy định cả những tiêu chuẩn chất lượng và
giá bán của sản phẩm... nhằm bảo vệ độc quyền sản xuất của làng nghề.
Chính vì vậy mà truyền thống sản xuất của các làng nghề vẫn còn được lưu
15
giữ đến ngày nay. Tuy nhiên cũng cần nhận thấy rằng chính những quy
định khắt khe trong làng đã gây cản trở rất lớn trong việc mở rộng giao lưu
kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật với bên ngoài, do vậy khó có thể tạo ra
sự phát triển hơn nữa trong các làng nghề.
Sự tác động của các quy luật sản xuất và lưu thông hàng hóa cũng
đã thúc đẩy các hộ sản xuất thủ công nghiệp đi vào quá trình cạnh tranh
ngày càng gay gắt, đặc biệt là ở những nơi không có làng nghề. Kết quả
dẫn đến là một số hộ do sản xuất không đáp ứng được những đòi hỏi của
thị trường, buộc phải phá sản để đi làm thuê hoặc chuyển sang nghề sản
xuất khác. Ngược lại, một số hộ khác lại trở nên giàu có, ra đô thị xây nhà
xưởng, thuê công nhân, tiến hành sản xuất theo phương thức tư bản chủ
nghĩa. Kể từ khi các công trường thủ công ra đời thì sự cạnh tranh giữa nó
với các hộ sản xuất thủ công nghiệp càng diễn ra gay gắt hơn. Tuy nhiên hộ
sản xuất thủ công nghiệp ở nông thôn chẳng những không bị mất đi mà còn
có bước phát triển đi lên nhờ chuyển sang sản xuất những mặt hàng mà
có những chiếc trống đồng Đông Sơn; đến kỷ nguyên Đại Việt thời cận đại,
Nguyễn Trãi đã viết: nước Đại Việt ta thật là một nước văn hiến, các ngành
nghề thủ công mỗi ngày một phát triển từ lẻ tẻ từng người, từng nơi, đến
tập trung lại thành từng phường nghề, làng nghề và hình thành một lớp thợ
thủ công đông đảo, gắn liền với các chợ để tiêu thụ sản phẩm.
- Đến thời Pháp thuộc, do có sự xâm nhập của hàng hóa từ nước
ngoài vào, nên nhiều ngành nghề ở nước ta đã bị suy giảm. Tuy nhiên, vẫn
còn một số ngành nghề tồn tại và phát triển đi lên được. Hơn nữa, một số
ngành nghề mới cũng đã xuất hiện để đáp ứng nhu cầu đa dạng về hàng
tiêu dùng cho xã hội. Chính vì thế mà ngành nghề ở nông thôn nước ta vẫn
có sự phát triển liên tục. Theo tài liệu điều tra của học giả người Pháp P.
Gourou, năm 1935, ở đồng bằng Bắc Bộ đã có 108 nghề thủ công khác
nhau tập trung thành các làng nghề. Ở Hà Bắc cũ, có hàng trăm làng nghề
thủ công cổ truyền, trong đó có hơn 40 làng nghề có quy mô cả làng. Ở tỉnh
Hải Hưng cũ, có 36 làng nghề thủ công quy mô cả xã [2, 105-107].
17
- Trong thời kỳ bao cấp, các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp ở các vùng nông thôn tuy chỉ được xem là ngành nghề phụ trong
hợp tác xã nông nghiệp và ít được quan tâm đầu tư, nhưng nó vẫn tồn tại,
phát triển và có vai trò lớn trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Đến
năm 1981, ở tỉnh Thái Bình đã có 271 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp
trong nông nghiệp, sử dụng trên 40.000 lao động và đã đóng góp 45,83%
giá trị tổng sản lượng toàn ngành tiểu thủ công nghiệp của tỉnh [49]. Theo
tài liệu trung gian của đề tài "Xây dựng chính sách công nghệ phục vụ phát
triển nông thôn" thì trong ba năm (1986 - 1988) các huyện trung du và đồng
bằng thuộc tỉnh Hà Bắc cũ đã thu hút được 10.600 lao động vào các ngành
nghề phi nông nghiệp trong nông thôn, gấp 6,3 lần số lao động được điều đi
- Làng Đại Bái
87
18
Nguồn: Kinh tế - Xã hội nông thôn Việt Nam ngày nay, tập II, Nxb Tư tưởng
Văn hóa, H. 1991, tr. 122.
Nhìn chung đến cuối những năm 80, đã có từ 6,5 - 6,7% tổng lao
động các ngành kinh tế nông thôn tham gia vào các hoạt động sản xuất phi
nông nghiệp và đã làm ra trên 10% khối lượng hàng tiêu dùng cho toàn xã
hội [2, 122-124].
- Từ sau Nghị quyết 10 Bộ Chính trị khóa VI của Đảng ta đến nay,
các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn đã có điều
kiện phát triển tốt và đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao thu nhập
cho dân cư nông thôn. Vào năm 1990, các hộ ngành nghề hoặc kiêm
ngành nghề ở nông thôn ĐBSH đã có tổng thu nhập cao gấp 4 lần so với hộ
thuần nông, trong đó thu nhập từ ngành nghề chiếm 38% tổng thu nhập của
họ [11].
Dù đã trải qua nhiều thăng trầm, sóng gió trong lịch sử, nhưng
những ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp ở nông thôn nước ta vẫn luôn
được duy trì và phát triển; nó vẫn luôn là một phương tiện mưu sinh và là
cơ sở trọng yếu để nâng cao đời sống của một bộ phận ngày càng lớn dân
cư nông thôn. Điều đó có nghĩa là CNNT ở nước ta là một thực thể luôn
tồn tại. Chính vì vậy, Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương
khóa VII của Đảng ta khẳng định phải phát triển CNNT và xem đó là một
nội dung quan trọng của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
như: Sản xuất theo hộ gia đình; các loại hình xí nghiệp... hoạt động trên cơ
sở sử dụng lao động gia đình hoặc kết hợp lao động gia đình với thuê mướn
nhân công hay thuê mướn 100% lao động.
Tùy theo sự phát triển về kết cấu hạ tầng mà các cơ sở CNNT có
thể ra đời và phát triển tập trung ở các thị trấn, thị tứ hoặc ở các làng quê
tạo thành nhiều cụm công nghiệp tổng hợp hay các làng nghề ngay trên các
địa bàn nông thôn hoặc được phân bố một cách rải rác trên khắp các địa
bàn nông thôn. Nhìn chung sự phát triển của CNNT về mặt số lượng bao
giờ cũng có mối liên hệ gắn bó với sự phát triển của kết cấu hạ tầng.
Sản phẩm của CNNT không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng của dân
cư trong vùng mà còn được đem tiêu thụ sang các vùng khác trong nước và
ngoài nước.
22
1.1.5. Những điều kiện cơ bản của sự hình thành và phát triển
của CNNT
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội
trên các địa bàn nông thôn đã phát triển đến một mức độ nhất định.
Nhìn chung, các hoạt động sản xuất có tính chất công nghiệp như chế
tạo công cụ sản xuất, đồ dùng trong nhà, chế biến, bảo quản nông sản v.v...
đã ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất nông
nghiệp. Trong quá trình đó cũng đã từng có một bộ phận lao động chuyên
nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp và nông thôn để di chuyển vào các đô thị
làm ăn sinh sống trong các phường hội hoặc làm công ăn lương trong các
công trường thủ công, v.v... Nhưng đại bộ phận số lao động còn lại ở nông
thôn vẫn tiếp tục phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, vì họ chưa thể tự tồn
tại và phát triển đi lên được bằng ngay chính bản thân lao động của mình.
Chỉ khi lực lượng sản xuất trong xã hội, trong đó trước hết là trong nông
bằng sản xuất hàng hóa và sản xuất hàng hóa trở thành mục tiêu, động lực
chính đối với hoạt động sản xuất của số đông cư dân nông thôn.
Mặc dù sự phát triển của các hình thức sản xuất công nghiệp đầu
tiên trên các địa bàn nông thôn là do lực lượng sản xuất quyết định, nhưng
nếu sự phát triển đó vẫn còn nằm trong khuôn khổ của sản xuất tự cấp tự
túc thì sản xuất công nghiệp trên địa bàn nông thôn vẫn chưa thể thoát ly
khỏi sản xuất nông nghiệp để trở thành ngành sản xuất độc lập. Chỉ khi
phần lớn các hoạt động sản xuất của dân cư nông thôn đều nhằm tạo ra
những sản phẩm đem trao đổi mua bán thì CNNT mới được hình thành rõ
nét và phát triển một cách độc lập với sản xuất nông nghiệp. Bởi vì sự phát
triển của kinh tế hàng hóa có tác dụng thúc đẩy phân công lao động xã hội
ngày một phát triển, sản xuất xã hội ngày càng đi vào chuyên môn hóa làm
cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, số lượng sản phẩm sản xuất
ra ngày càng nhiều hơn, chất lượng tăng lên liên tục nên có thể đáp ứng
được những yêu cầu ngày càng tăng lên của thị trường. Chính vì vậy nên sự
trao đổi mua bán trong nông thôn ngày càng phổ biến, làm cho thị trường
nông thôn được mở rộng ra liên tục khiến cho mọi sản phẩm sản xuất ra
đều được tiêu thụ hết, do đó các quá trình tái sản xuất trong công nghiệp
24
cũng như trong nông nghiệp sẽ được thực hiện liên tục với quy mô ngày
càng mở rộng. Nhờ đó mà CNNT mới có sự định hình và phát triển đến
ngày nay.
- Sự ra đời của CNNT còn do có sự tác động mạnh mẽ từ phía
nhà nước.
Mặc dù, như C. Mác đã nói: "Tư bản mới ra đời lại có máu và bùn
nhơ rỉ ra từ tất cả các lỗ chân lông, từ đầu đến chân" [44, 1056], nhưng cũng
phải ghi nhận rằng: nhờ có sự tác động mạnh mẽ của nhà nước tư sản nhằm