MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với tất cả các quốc gia, muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế
đều cần phải có vốn đầu tư. Mức độ huy động và hiệu quả sử dụng lượng
vốn đầu tư huy động được là một trong những nhân tố quyết định sự phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia và mỗi vùng, lãnh thổ ở quốc gia đó.
Trong những năm tới để phát triển kinh tế nhằm từng bước giảm
bớt khoảng cách về kinh tế - xã hội giữa miền núi phía Bắc với các vùng
lãnh thổ khác trong cả nước; đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, miền núi phía Bắc đang
rất cần nhiều vốn. Những năm vừa qua, nhờ chính sách đổi mới của Đảng
nền kinh tế miền núi phía Bắc đã xuất hiện nhiều hình thức huy động và sử
dụng vốn đầu tư để phát triển kinh tế, những kết quả về kinh tế - xã hội mà
miền núi phía Bắc đạt được chứng tỏ lượng vốn huy động đã được sử dụng
có hiệu quả. Tuy nhiên do đặc điểm kinh tế - xã hội và một số nguyên nhân
khác như: chính sách đầu tư, cơ chế quản lý vốn đầu tư... quy định việc huy
động và sử dụng vốn đầu tư để phát triển kinh tế ở miền núi phía Bắc đã
bộc lộ những hạn chế và yếu kém. Những hạn chế và yếu kém đó là một
trong những nguyên nhân cơ bản góp phần để lại cho miền núi phía Bắc
những hậu quả kinh tế - xã hội nặng nề như: Sự nghèo nàn lạc hậu đang có
khoảng cách ngày càng xa so với các vùng lãnh thổ khác, sự tàn phá rừng
nghiêm trọng, môi trường sinh thái và nguồn sinh thủy đã bị hủy hoại và cạn
kiệt dần.
Giải quyết những tồn tại kinh tế - xã hội miền núi phía Bắc cần phải
giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề, trong đó vốn đầu tư để phát triển kinh tế
miền núi là một trong những vấn đề cực kỳ nan giải có tính cấp bách cả về lý
luận và thực tiễn. Xuất phát từ yêu cầu trên, NCS chọn đề tài: "Thu hút và
1
đầu tư để phát triển kinh tế miền núi phía Bắc.
3
- Phân tích thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư để phát triển
kinh tế ở miền núi phía Bắc từ 1986 trở lại đây.
- Đề xuất phương hướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm
huy động và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả để phát triển kinh tế miền núi
phía Bắc.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận án
- Luận án nghiên cứu huy động và sử dụng vốn đầu tư từ 1986 trở
lại đây.
- Luận án chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề huy động và sử dụng vốn
đầu tư (tiền tệ) để phát triển kinh tế ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, các chính sách của Nhà nước về
phát triển kinh tế nông thôn nói chung, về phát triển kinh tế miền núi và
miền núi phía Bắc nói riêng. Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các
nhà khoa học trước đó, tham khảo kinh nghiệm của một số nước về việc
huy động và sử dụng vốn đầu tư để phát triển kinh tế nông thôn và miền núi.
Luận án sử dụng tổng hợp phương pháp nghiên cứu của khoa học
kinh tế, trong đó chú trọng sử dụng phương pháp thống kê - so sánh, phân
tích - tổng hợp, khảo sát thực tế từ đó khái quát thành những vấn đề lý luận.
6. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Phân tích rõ hơn tính đặc thù, những đặc điểm riêng của quá trình
huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế miền núi phía Bắc.
- Làm rõ thêm những phương hướng, những giải pháp chủ yếu
nhằm huy động và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả để phát triển kinh tế
phải là một vật đứng yên" [59, 9]. Như vậy thấy rất rõ rằng tư tưởng về tư
bản của C.Mác được cô đọng là: "Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng
dư. Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư, phải không ngừng được sử
dụng trong giai đoạn sản xuất, nếu không thì nói một cách chặt chẽ, nó
không phải là tư bản nữa" [60, 378]. Như vậy tư tưởng ngắn gọn của C.Mác
về tư bản đã bao hàm đầy đủ bản chất và tác dụng của vốn. Tư tưởng đó
phản ánh:
- Tư bản là giá trị, giá trị chỉ trở thành tư bản khi giá trị đó được sử
dụng nhằm mục đích mang giá trị thặng dư. Theo C.Mác giá trị là lao động
trừu tượng của con người kết tinh trong hàng hóa. Trong nền kinh tế, hàng
hóa chứa đựng giá trị gồm: hàng hóa vật chất (máy móc, thiết bị, nguyên
7
liệu...), tiền, hàng hóa sức lao động, hàng hóa dịch vụ, những hàng hóa vô
hình (vị trí kinh doanh, bản quyền phát minh sáng chế, thành tựu khoa
học).
- Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Nghiên cứu quá trình
sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác cho rằng giá trị thặng dư chỉ được sản
xuất ra trong lĩnh vực sản xuất vật chất tư bản chủ nghĩa và được thực hiện
trong lĩnh vực lưu thông tư bản chủ nghĩa. Về thực chất giá trị thặng dư là
giá trị do sức lao động tạo ra thêm ngoài giá trị sức lao động, là lao động
không công của công nhân làm thuê. Do vậy, với phương pháp nghiên cứu
của C.Mác thì về cơ bản chỉ có giá trị của các yếu tố lao động và tư liệu sản
xuất được bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mang lại giá trị thặng
dư mới là tư bản.
Từ sự phân tích trên cho thấy, với mục đích nghiên cứu nhằm vạch ra
bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, C. Mác đã luận giải rõ vị trí và bản
chất của vốn nhưng chỉ giới hạn trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nhằm
sản xuất.
- Vốn đầu tư là tiền ..., là toàn bộ chi phí vật chất..., vốn bao gồm
máy móc, công cụ, thiết bị, nhà cửa...
- Vốn góp phần tạo ra hàng hóa, dịch vụ, thu nhập ...
Trên thực tế, trong nền kinh tế các yếu tố của quá trình sản xuất
ngày càng được mở rộng, ngoài các yếu tố của tài sản hữu hình còn bao
gồm các yếu tố của tài sản vô hình. Để nhận diện rõ về vốn đầu tư, cần
phân tích sâu hơn bản chất và tác dụng của vốn trong nền kinh tế thị trường
Thứ nhất: Vốn là đại diện về mặt giá trị cho những tài sản hoạt
động được dùng vào đầu tư nhằm đạt được những mục tiêu đã định. Tài sản
hoạt động đó bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Tài sản hữu hình
gồm hai bộ phận: những tài sản hữu hình phục vụ trực tiếp sản xuất (máy
móc, thiết bị, công cụ, nhà xưởng...) và những tài sản hữu hình chỉ phục vụ
gián tiếp sản xuất (trụ sở cơ quan, phương tiện đi lại...). Trong hai bộ phận
9
ấy, bộ phận thứ nhất là năng lực sản xuất giữ vai trò quyết định tới hiệu quả
của quá trình sản xuất kinh doanh. Do vậy ở các nước chậm phát triển, các
vùng lãnh thổ và các ngành cần chú ý tới đặc điểm này để sử dụng hiệu quả
lượng vốn huy động được. Trước hết ở các nước chậm phát triển giai đoạn
đầu cần đầu tư chủ yếu cho việc mua sắm tư liệu sản xuất; đến một trình độ
phát triển nhất định thì đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất tư liệu sản xuất
ở trong nước để đáp ứng yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanh. Tài sản
vô hình bao gồm: vị trí kinh doanh, bản quyền phát minh sáng chế, thành
tựu khoa học kỹ thuật...
Thực tế trong nền kinh tế các nước tài sản vô hình ngày càng có vai
trò quan trọng trong cơ cấu vốn, các chủ đầu tư kinh doanh đã thu được lợi
nhuận rất lớn từ việc khai thác và sử dụng nguồn vốn vô hình này.
T': Lượng tiền thu được sau quá trình đầu tư kinh doanh.
Chú ý: T' > T, T' = T + ∆ t
∆ t là lượng giá trị tăng thêm sau quá trình đầu tư kinh doanh.
Như vậy trong quá trình vận động vốn đầu tư thường thay đổi hình
thái và thông qua sự thay đổi đó tạo khả năng sinh lời của vốn. Khả năng
sinh lời của vốn đầu tư vừa là mục đích cuối cùng của đầu tư kinh doanh,
vừa là phương tiện để đồng vốn vận động ở giai đoạn tiếp sau với quy mô
lớn hơn.
Thứ ba: Trong nền kinh tế thị trường vốn là hàng hóa đặc biệt. Hàng
hóa đặc biệt này cũng có chủ sở hữu, nhưng khác hàng hóa thông thường ở
chỗ quyền sở hữu và quyền sử dụng tách rời nhau. Trường hợp chủ sở hữu
tự đầu tư sản xuất kinh doanh là vì mong muốn thu được kết quả cao hơn
giá vốn. Trường hợp này mức độ rủi ro lớn hơn. Trường hợp chủ sở hữu
vốn bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định, lúc này giá vốn
chính là giá trả cho quyền sử dụng vốn (giá vốn ở ngân hàng chính là lãi
suất vay). Như vậy, chỉ khi đạt được lợi ích thỏa đáng chủ sở hữu vốn mới
tự đầu tư sản xuất kinh doanh hay bán quyền sử dụng vốn.
11
Thứ tư: Trong nền kinh tế hàng hóa, vốn có giá trị về mặt thời gian
nên ở các thời điểm khác nhau thì giá trị của đồng vốn rất khác nhau. Đồng
thời chính nhờ sự tách biệt giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn
theo thời gian đã làm cho vốn có điều kiện tích tụ, tập trung và lưu thông
trong đầu tư kinh doanh để sinh lời.
Qua sự phân tích trên thấy rằng, khi chuyển từ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
XHCN, thì phạm trù vốn đầu tư cần được nhận thức cho phù hợp hơn. Hiện
lớn dưới dạng hình thái vốn hữu hình.
+ Vốn vô hình: Đây là phần vốn tiền tệ đã được chi phí nhằm sử
dụng những tài sản vô hình để phục vụ yêu cầu của quá trình sản xuất kinh
doanh. Phần vốn này bao gồm: quyền sử dụng vị trí kinh doanh, chi phí sử
dụng bí quyết công nghệ, chi phí cho việc phát minh sáng chế, v.v... Trong
thực tế tỷ trọng vốn vô hình ngày càng chiếm phần lớn trong tổng vốn đầu
tư. Đây là điều các chủ thể đầu tư cầu chú ý để khai thác sử dụng vai trò
của vốn vô hình trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Phân loại theo thời gian sử dụng: ở đây vốn đầu tư được phân
thành ba loại: vốn ngắn hạn, vốn trung hạn và vốn dài hạn. Cách phân loại
này giúp các chủ thể đầu tư có kế hoạch huy động và sử dụng vốn để đảm
bảo tiến độ của quá trình sản xuất kinh doanh.
+ Vốn ngắn hạn: là lượng tiền được sử dụng để đầu tư nhưng chỉ
trong thời hạn một năm.
+ Vốn trung hạn: là lượng tiền được sử dụng để đầu tư trong thời
hạn từ 1 năm đến 5 năm.
+ Vốn dài hạn: là lượng tiền được sử dụng để đầu tư có kỳ hạn từ
5 năm trở lên.
- Phân loại theo nguồn vốn và chế độ sở hữu: Cách phân này vốn
đầu tư được phân thành vốn pháp định và vốn vay.
+ Vốn pháp định: là số vốn bắt buộc phải có để thành lập doanh
nghiệp. Đây là số vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp, phần vốn này là một
bộ phận quan trọng của vốn đầu tư. Để giảm bớt rủi ro các chủ thể đầu tư
13
thường tìm mọi cách xây dựng phương án sản xuất kinh doanh mà tỷ lệ góp
vốn pháp định trong tổng vốn đầu tư càng ít càng tốt.
+ Vốn vay: là lượng vốn chiếm phần lớn trong tổng vốn đầu tư, đây
chênh lệch giữa tổng số thu so với tổng số chi thường xuyên của ngân sách
nhà nước. Tiết kiệm của ngân sách nhà nước thay đổi phụ thuộc vào những
nhân tố sau:
+ Sự tăng giảm các khoản thu: thu thuế, thu phí, thu lợi tức cổ phần,
thu hợp tác lao động, thu từ bán hay cho thuê tài nguyên và tài sản thuộc
nhà nước quản lý... trong các nguồn thu đó thuế là nguồn thu chủ yếu cho
ngân sách của các quốc gia.
+ Sự tăng hay giảm chi tiêu thường xuyên của ngân sách nhà nước.
Các khoản chi ngân sách của quốc gia bao gồm: chi đầu tư cho phát triển
kinh tế, chi giáo dục, chi an ninh quốc phòng, chi khoa học công nghệ, chi
hành chính sự nghiệp v.v... Về nguyên tắc việc chi tiêu phải dựa vào khả
năng thu. Nhưng thông thường đối với các nước chậm phát triển và đang
phát triển nhu cầu chi bao giờ cũng lớn hơn so với nguồn thu. Để giải quyết
tình trạng thiếu hụt ngân sách ngoài việc tăng thu, giảm chi, chính phủ các
nước thường áp dụng các biện pháp đi vay hoặc in thêm tiền. Thường lệ
việc huy động từ tiền tiết kiệm của dân cư là giải pháp phổ biến được các
quốc gia hay áp dụng.
Phần tiết kiệm của các tầng lớp dân cư. Đây là nguồn được hình
thành từ phần còn lại trong thu nhập của dân cư, thu nhập của dân cư được
hình thành: thu nhập từ kết quả lao động trong những lĩnh vực sản xuất và
dịch vụ... của các gia đình và cá nhân người lao động; thu nhập do thừa kế,
thu nhập do thân nhân từ nước ngoài gửi về; các loại thu nhập khác (trúng
xổ số, giá cả thay đổi). Như vậy, tiết kiệm của các tầng lớp dân cư phụ
thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Trong nền kinh tế tiết
kiệm của dân cư là một bộ phận chủ yếu và ngày càng chiếm vị trí quan
trọng trong việc hình thành vốn đầu tư của các quốc gia. Mức độ tiết kiệm
của nguồn vốn này phụ thuộc vào các nhân tố sau:
15
lớn và ngược lại. Do vậy khả năng huy động vốn từ tiền tiết kiệm để đầu tư
16
phụ thuộc vào khả năng tiết kiệm và vào tình hình phát triển kinh tế của các
quốc gia. Từ đó cho thấy, tiết kiệm và đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Tiết kiệm theo cách hiểu thông thường là phần còn lại của thu nhập
sau khi đã đảm bảo cho tiêu dùng thiết yếu, còn đầu tư theo cách hiểu bao
quát nhất thì đầu tư là việc bỏ vốn, vật tư, sức lực... ở thời điểm hiện tại
nhằm thu được hiệu quả trong tương lai. Trong nền kinh tế mối quan hệ
giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện: Trước hết muốn đầu tư phải cần có
vốn đầu tư. Vốn đầu tư được hình thành từ nguồn tiết kiệm, như vậy tiết
kiệm là cơ sở của đầu tư. Trường hợp lượng tiết kiệm quá ít thì khó huy
động đủ vốn cho nhu cầu đầu tư, điều này ảnh hưởng tới hiệu quả của đầu
tư kinh doanh và ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Trong
trường hợp tiết kiệm nhằm mục đích dự trữ quá nhiều (không có ý định đầu
tư) không chuyển thành lượng vốn đầu tư thì lại trở thành lực cản đối với
quá trình mở rộng đầu tư để phát triển sản xuất. Vì vậy đối với mỗi quốc
gia trong mỗi một giai đoạn nhất định cần xử lý hài hòa và hợp lý giữa tiết
kiệm và đầu tư để đạt được tốc độ tăng trưởng nền kinh tế theo ý định
mong muốn.
Trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, khi tiết kiệm là cơ sở
của đầu tư thì ngược lại đầu tư sẽ tạo ra cơ sở để mở rộng nguồn tiết kiệm.
Trong nền kinh tế thị trường đầu tư có thể tiến hành theo hai phương thức:
đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp là phương thức đầu tư
mà người bỏ vốn phải tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Đầu tư gián tiếp là phương thức đầu tư bằng cách mua các chứng khoán có
giá trị như: công trái, trái phiếu, tín phiếu... để được hưởng lợi tức. Phương
thức đầu tư này người bỏ vốn không trực tiếp tham gia vào việc quản lý
các nước, của các tổ chức tài chính, tiền tệ, quốc tế và của các doanh nghiệp.
Huy động nguồn vốn bên ngoài chủ yếu thông qua những hình thức vay nợ,
viện trợ, đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, nhưng tùy theo giai đoạn và
hoàn cảnh của từng nước mà mức độ sử dụng những hình thức này có khác
nhau. Việc sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa quan
trọng đối với sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của một nước. Trường
hợp ngược lại ngoài việc kìm hãm tốc độ phát triển và tăng trưởng của nền
18
kinh tế, nó còn tạo ra sự lệ thuộc về kinh tế, chính trị của với những nước
đi vay và cho vay. Do vậy việc huy động và sử dụng vốn đầu tư bên ngoài
cần được cân nhắc và tính toán thật chặt chẽ khoa học trong chiến lược
phát triển kinh tế của từng quốc gia.
1.1.2. Vốn đầu tư tăng trưởng kinh tế và đầu tư phát triển
Ngày nay ở hầu hết các nước, đặc biệt là đối với các nước đang
trong thời kỳ công nghiệp hóa đều rất chú trọng xây dựng cấu trúc tăng
trưởng và phát triển. Tăng trưởng là sự gia tăng về lượng, mà cốt lõi là tổng
sản phẩm xã hội; còn phát triển là sự đạt được về chất, mà cốt lõi lại là
phúc lợi của xã hội và cá nhân. Thông thường chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế
được tính bằng tốc độ tăng GDP hàng năm, đó là mức phần trăm (%) tổng
sản phẩm tăng thêm hàng năm so với năm trước, hoặc bình quân trong một
khoảng thời gian. Nhưng tiêu chuẩn để đánh giá một quốc gia phát triển
được đo bằng nhiều chỉ tiêu tổng hợp do chính sách đầu tư phát triển của
các quốc gia đó đem lại. Do vậy chính sách đầu tư phát triển của một quốc
gia là một chính sách tổng hợp nhằm thực hiện mục tiêu: Tăng trưởng kinh
tế, nâng cao thu nhập cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao
động, bảo vệ môi trường sinh thái và ổn định chính trị, xã hội... Trong nền
kinh tế để huy động và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả cần phải phân biệt
làm thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội của một quốc gia trong việc thực hiện
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư phát triển có một vai trò
quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế của một quốc gia. Chính sách
đầu tư phát triển kinh tế là một chính sách tổng hợp đồng thời phản ánh
chính sách tăng trưởng kinh tế và quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã
hội. Nói cách khác, đầu tư phát triển kinh tế là một chiến lược đầu tư
tổng thể, trong đó các mối quan hệ về hiệu quả đầu tư rất được chú trọng
quan tâm (đầu tư công nghệ, đầu tư con người, đầu tư bảo vệ môi trường...)
nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện vững chắc và ổn định của cả nền
kinh tế.
Như vậy, nếu cho rằng hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn của đầu tư
tăng trưởng, thì hiệu quả kinh tế xã hội sẽ là đặc trưng cơ bản của đầu tư
20
phát triển. Vì thế trong nền kinh tế thị trường mục tiêu cơ bản của các nhà
đầu tư là quan tâm đến đầu tư tăng trưởng và nhất là đầu tư tăng trưởng
kinh tế thuần túy. Để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nhà
nước phải quan tâm đến đầu tư phát triển và có sự điều tiết can thiệp hợp lý
thông qua chủ trương, chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế. Do vậy,
mức độ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của một nước, phụ
thuộc vào chính sách đầu tư của nhà nước trong việc thực hiện sự kết hợp
giữa tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội trong toàn
bộ nền kinh tế quốc dân; thông qua chủ trương chính sách, nhất là chính
sách đầu tư tới toàn bộ nền kinh tế và giữa các vùng lãnh thổ. Tuy nhiên,
cần thấy rằng mọi sự phát triển đều bắt đầu bằng sự tăng trưởng kinh tế. Do
đó tăng trưởng kinh tế là yếu tố quyết định của sự phát triển, điều này đòi
hỏi chính sách đầu tư của mỗi vùng và chính sách đầu tư của cả nền kinh tế
phải đảm bảo giải quyết hài hòa hai mục tiêu tăng trưởng và phát triển.
vào quy mô, tốc độ tăng thêm của vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh và
do sự khác nhau về trình độ kinh tế nên hệ số ICOR ở từng quốc gia là
khác nhau và cả trong cùng một nước hệ số ICOR cũng có sự khác nhau do
trình độ phát triển kinh tế ở từng giai đoạn quy định. Ở các nước công
nghiệp phát triển thường hệ số ICOR cao hơn nhiều so với các nước đang
phát triển; vì để gia tăng Y thì ở các nước đó phải đầu tư một lượng vốn lớn
hơn để mua máy móc thiết bị, do đó ICOR cao hơn. Còn ở các nước đang
phát triển việc tăng thêm Y có thể sử dụng nhiều lao động để thay thế máy
móc..., do vậy ICOR nhỏ hơn. Đây là một lợi thế của các nước chậm phát
triển trong quá trình huy động và sử dụng vốn. Đối với tất cả các nước, đặc
biệt là đối với các nước chậm và đang phát triển, hệ số ICOR là chỉ tiêu
hàng đầu cần tính đến khi tiến hành huy động và sử dụng vốn đầu tư.
Như vậy hệ số ICOR theo mô hình trên cho biết sự đóng góp của vốn
vào sự tăng trưởng GDP. Nhưng sự tăng trưởng GDP ngoài sự đóng góp
của vốn còn có sự tác động của các yếu tố khác; để tính toán mức đóng góp
của từng yếu tố tới sự tăng trưởng các nhà kinh tế Robest Solon và Eduard
Demison đã sử dụng hàm sản xuất.
J = F (K, L, T, A ) [58, 85]
Trong đó:
J : đầu ra hay sản phẩm quốc dân
K: Dự trữ tư bản (vốn)
L: Số lượng lao động
T: Dự trữ đất trồng trọt và các tài nguyên thiên nhiên.
22
A: Sự tăng lên về năng suất hay hiệu quả sử dụng đầu
vào.
Hàm số này cho thấy sự tăng lên của sản phẩm quốc dân trong mối
tố quyết định tới sự phát triển kinh tế, từng bước giảm bớt khoảng cách về
kinh tế - xã hội của vùng với các vùng lãnh thổ khác trong cả nước.
Trên thực tế, mức độ giải quyết mối quan hệ giữa vốn đầu tư với
tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa vốn đầu tư với phát triển ở các
nước là khác nhau. Một số nước do quá chú trọng đầu tư cho tăng trưởng
kinh tế ở mức độ cao, nên đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội cho nền kinh tế quốc dân. Bình luận về vấn đề này, báo Bưu điện
Băng Cốc viết "Từ kinh nghiệm ba thập kỷ qua, người ta nhận ra rằng nhịp
độ tăng trưởng cao, sự bành trướng nhanh chóng của một bộ phận chế tạo,
việc xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại, việc đa dạng hóa các mặt hàng xuất
khẩu đã đạt được với một giá đắt về tài nguyên thiên nhiên" [30, 206].
Những hậu quả kinh tế - xã hội mà các nước đang gặp phải là [30, 199]:
- Tài nguyên rừng bị tàn phá nghiêm trọng. Bảng sau sẽ phản ánh
tình hình rừng và mất rừng ở một số nước.
Bảng 1: Tình hình rừng và mất rừng ở Đông Nam Á hiện nay
TT
Tên nước
Diện tích rừng
hiện nay (ha)
Diện tích rừng
bị mất (ha)
Số thời gian rừng bị
phá hủy hoàn toàn (năm)
1
Inđônêxia
29.000.000
1.400.000
21
Nguồn: Con đường phát triển của một số nước châu Á- Thái Bình Dương,
Nxb Chính trị quốc gia.
Qua bảng trên cho thấy Malaixia là nước có tỷ lệ mất rừng cao nhất
(8%/năm), Philíppin (7%/năm), Thái Lan (5%/năm). Nước có tốc độ phá rừng
lớn nhất là Inđônêxia,Thái Lan (khoảng 1 triệu ha/năm), Philippin (0,5 triệu
ha/năm), Malaixia (0,4 triệu ha/năm). Như vậy nếu tốc độ này tiếp tục thì
sau 12 năm Malaixia sẽ mất hết rừng, Philippin 14 năm, Thái Lan 21 năm
và Inđônêxia 57 năm. Nạn phá rừng chính là nguyên nhân của những trận
24
bão lụt thiên tai bất thường ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời
sống của nhân dân các nước.
- Môi trường bị ô nhiễm nặng nề, năm 1989 riêng ở thủ đô Băng
Cốc có 900 người mắc bệnh đường hô hấp do ô nhiễm môi trường gây ra.
- Sự phân cực xã hội phát triển, sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng
tăng. Theo thống kê quốc gia Thái Lan, thu nhập của 20% tổng số hộ gia
đình giàu có nhất tăng từ 49,3% trong thời gian 1975-1978 lên 54% và năm
1957-1988; trong khi đó thu nhập 20% số gia đình nghèo khổ nhất giảm từ
6,1% xuống còn 4,5% cùng kỳ. Năm 1987 Malaixia có 82.000 hộ gia đình
ở thành thị và 485.000 hộ gia đình nông thôn thuộc diện nghèo khổ. Năm