Khoá luận tốt nghiệp – TCNH – 2014
GVHD: Ths. Lê Tô Minh Tân
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay, thị
uế
trường tài chính nói chung và TTCK nói riêng của mỗi quốc gia cũng đang đối diện với
nhiều bất ổn và tiềm ẩn nhiều rủi ro. TTCK Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động với
tế
H
sự khai trương của trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh (HOSE) vào ngày
20/07/2000. Tính đến nay TTCK của Việt Nam đã hình thành được hơn 10 năm và đã có
những bước tiến nhất định. Tuy vậy so với những nước phát triển trên thế giới, TTCK
còn thiếu sự ổn định với nhiều rủi ro khôn lường.
h
Việt Nam vẫn là một thị trường non trẻ, thiếu kinh nghiệm, sự phát triển của TTCK vẫn
in
Theo đó, các vấn đề về mặt định lượng đặc biệt trong việc QTRR đối với DMĐT
cK
“mô hình định giá tài sản vốn CAPM” của William Sharpe (1963), “mô hình định giá
quyền chọn Black-scholes” của Black- Scholes (1973),... Kiểm soát rủi ro là vấn đề phức
tạp, QTRR có hiệu quả càng phức tạp hơn. Chính vì thế sự phát triển các phương pháp
đánh giá đo lường rủi ro là nhu cầu cấp thiết đối với các tổ chức tài chính nói riêng và các
DN nói chung.
1
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, số DN phá sản, giải thể của năm 2012 là hơn 58,000 DN, 2013 là 60,700 DN.
2 Theo: Vneconomy: http://vneconomy.vn/chung-khoan-viet-nam-bien-dong-manh-nhat-the-gioi.htm
Trần Quang Huy
10
Khoá luận tốt nghiệp – TCNH – 2014
GVHD: Ths. Lê Tô Minh Tân
Tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong những năm gần đây cho phép phát triển và
hoàn thiện một loạt các hệ thống và phương pháp định giá rủi ro, đáng chú ý nhất là
phương pháp xác định giá trị rủi ro VaR (1993). VaR (giá trị tại rủi ro –Value at risk) là
một trong những nền tảng lý thuyết để QTRR danh mục. Được phát triển từ năm 1993,
uế
VaR ngày càng được nhiều tổ chức tài chính trên thế giới áp dụng rộng rãi. JP Morgan là
tổ chức tài chính đi tiên phong về ứng dụng và phát triển phương pháp này. Hiệp định
Đ
Mỹ với độ tin cậy 95%. Điều đó có nghĩa là, xác suất mà ngân hàng đó bị thiệt hại 30
triệu đô la Mỹ là 5%. Con số này cho thấy mức độ rủi ro mà ngân hàng đó phải đối mặt,
ờn
g
cũng như xác suất xảy ra rủi ro đó. Dưới góc độ của một cơ quan quản lý, VaR có thể
được xác định như phần mất đi nhỏ nhất trong điều kiện bất thường của thị trường tài
chính.
Tr
ư
Tuy nhiên, mô hình VaR chỉ mới đưa ra được cái nhìn tổng thể về rủi ro chung cho
cả danh mục, còn nhiều khó khăn cho việc đưa ra quyết định quản trị rủi ro. Đặc biệt là
khó khăn trong việc xem xét, chấp nhận hay không, một mức độ rủi ro như vậy đưa ra
quyết định có nên phòng ngừa rủi ro hay không và phòng ngừa như thế nào? George Box
và Gwilym Jenkins (1976) đã nghiên cứu mô hình ARIMA (Autoregressive Integrated
Moving Average –Tự hồi quy tích hợp trung bình trượt) và tên của họ thường được dùng
Trần Quang Huy
11
Khoá luận tốt nghiệp – TCNH – 2014
kinh tế lượng truyền thống. Do đó, với mục tiêu QTRR cho danh mục cổ phiếu niêm yết,
tôi mạnh dạn đề xuất đề tài “Nghiên cứu ứng dụng mô hình VaR (Value at risk) và
họ
mô hình Arima (Autoregressive integrated moving average) vào QTRR danh mục
cổ phiếu niêm yết”.
Đối với Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu chi tiết đề xuất việc
ại
ứng dụng VaR với việc kết hợp thêm mô hình ARIMA một cách có hệ thống vào chương
Đ
trình QTRR danh mục. Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
ờn
g
Mục tiêu tổng quát:
- Nghiên cứu việc ứng dụng mô hình VaR và mô hình Arima vào QTRR danh mục
cổ phiếu niêm yết.
Tr
trong khoảng thời gian 03/01/2012-01/04/2014 (gồm 557 quan sát).
uế
-Thời gian tính toán: thu thập số liệu giá đóng cửa của 10 cổ phiếu được lựa chọn
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tìm hiểu bước đầu về nội dung nghiên cứu, tên
h
đề tài và các tài liệu tham khảo liên quan đối với phần cơ sở lý thuyết thông qua sách báo,
in
internet và tham khảo ý kiến cũng như các tài liệu nhận được chuyên gia (ở đây là giáo
viên hướng dẫn). Từ đó hình thành được cơ sở lý luận của đề tài, những giả thuyết cơ
cK
bản, xác định đối tượng và dự đoán về các thuộc tính của đối tượng nghiên cứu, xây dựng
mô hình lý thuyết ban đầu và những luận điểm xuất phát từ VaR và Arima để từ đó xây
họ
dựng những phương pháp nghiên cứu cụ thể về sau của đề tài.
- Phương pháp lập kế hoạch nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu: tiến hành xây dựng
quy trình nghiên cứu từ việc xác định vấn đề nghiên cứu, xây dựng giả thiết, đề cương,
ại
Khoá luận tốt nghiệp – TCNH – 2014
GVHD: Ths. Lê Tô Minh Tân
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
1.1 Tổng quan lý thuyết về CK, TTCK và DMĐT
uế
1.1.1. Những vấn đề cơ bản về CK
1.1.1.1 Khái niệm
tế
H
CK là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài
sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. CK được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ,
bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
in
c) Hợp đồng góp vốn đầu tư;
cK
tương lai, nhóm CK hoặc chỉ số CK;
Tr
ư
lượng giao dịch, giá trị vốn hoá, số lượng NĐT nắm giữ,..
b. Tính sinh lời
Tính sinh lời hay lợi nhuận biểu hiện: Là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi
phí. Là tổng mức lãi hoặc lỗ của một khoản đầu tư trong một khoảng thời gian nào đó.
Đo lường: Có thể đo lường thông qua các chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối, lợi nhuận
tương đối, lợi nhuận quá khứ hoặc lợi nhuận kỳ vọng.
Trần Quang Huy
14
Khoá luận tốt nghiệp – TCNH – 2014
GVHD: Ths. Lê Tô Minh Tân
c. Tính rủi ro
Theo Reilly.F và Brown.K, rủi ro là:
Là sự không chắc chắn của thu nhập trong tương lai;
Xác suất của việc xảy ra kết quả không mong đợi;
Là mức độ xác suất mà một tài sản có thể tăng hoặc giảm giá trị;
uế
Là sự không chắc chắn mà một khoản đầu tư sẽ thu được lợi tức;
tế
CK phái sinh: là CK mà giá của nó được suy ra từ giá của các loại CK khác.
Đ
b. Căn cứ vào khả năng chuyển nhượng
CK vô danh (Bearer securities): trên các chứng nhận nợ hay góp vốn không có ghi
ờn
g
tên người sở hữu. Loại CK này có thể dễ dàng mua bán chuyển đổi trên TTCK.
CK ký danh (Registered securities): là loại CK mà tên người sở hữu được lưu giữ
trong hồ sơ của chủ thể phát hành cũng như trên tờ giấy CK. Việc chuyển quyền sở hữu
Tr
ư
CK này có phần khó khăn hơn loại vô danh ngay cả khi được sự đồng ý của cơ quan phát
hành ra nó.
c. Căn cứ vào lợi tức CK (theo thu nhập)
CK có lợi tức ổn định: người cầm giữ loại CK này được hưởng lợi tức ổn định theo
tỷ lệ lãi suất tính trên mệnh giá CK. Điển hình là các loại trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi.
Trần Quang Huy
15
cK
cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
TTCK (Securities Market) là thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế của hoạt động giao dịch
họ
mua bán CK dài hạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như
chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh – hợp đồng tương lai, quyền chọn, bảo chứng
phiếu, chứng quyền.
ại
TTCK là một tổ chức, là nơi các CK được mua, bán theo các quy tắc đã được quy
Đ
định trước. TTCK còn được đọi là thị trường cổ phiếu (Stock – Market).
1.1.2.2 Cổ phiếu niêm yết
ờn
g
a. Khái niệm
Niêm yết chứng khoán: là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện niêm yết vào
giao dịch tại SGDCK.
tế
H
kinh doanh của hai năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi; không có các khoản
nợ phải trả quá hạn trên 01 năm; không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký niêm yết; tuân
thủ các quy định của pháp luật về kế toán báo cáo tài chính;
h
(3) Công khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên Hội đồng quản trị, Ban
trưởng, cổ đông lớn và những người có liên quan;
in
kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc), Kế toán
cK
(4) Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất ba trăm (300)
cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ, trừ trường hợp doanh nghiệp nhà nước chuyển
họ
đổi thành công ty cổ phần theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;
(5) Cổ đông là cá nhân, tổ chức có đại diện sở hữu là thành viên Hội đồng quản trị,
Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và Kế
ại
17
Khoá luận tốt nghiệp – TCNH – 2014
GVHD: Ths. Lê Tô Minh Tân
yết trên thị trường. Huy động theo cách này, doanh nghiệp không phải thanh toán lãi vay
cũng như phải trả vốn gốc giống như việc vay nợ, từ đó sẽ rất chủ động trong việc sử
dụng nguồn vốn huy động được cho mục tiêu và chiến lược dài hạn của mình. Đây được
coi là yếu tố quan trọng nhất khi quyết định niêm yết cổ phiếu trên TTCK.
uế
Khuyếch trương uy tín của doanh nghiệp: để được niêm yết chứng khoán, doanh
nghiệp phải đáp ứng được những điều kiện chặt chẽ về mặt tài chính, hiệu quả sản xuất -
tế
H
kinh doanh cũng như cơ cấu tổ chức... Do đó, những công ty được niêm yết trên thị
trường thường là những công ty có hoạt động sản xuất - kinh doanh tốt. Thực tế đã chứng
minh, niêm yết chứng khoán là một trong những cách thức quảng cáo tốt cho doanh
h
nghiệp, từ đó thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, tìm kiếm đối tác…
thế nào.
1.1.3.2 Các loại rủi ro đối với DMĐT
Các NĐT đều mong muốn tìm kiếm được lợi nhuận trong việc đầu tư của mình, tuy
Tr
ư
nhiên mọi cuộc đầu tư đều bao hàm nhiều điều không chắc chắn làm cho lợi nhuận đầu tư
trong tương lai có tính rủi ro
a. Rủi ro lãi suất: là khả năng biến động của lợi tức CK do những thay đổi của lãi
suất trên thị trường gây ra. Nói một cách tổng quát, nếu lãi suất thị trường tăng thì giá trị
và thị giá của khoản đầu tư sẽ giảm và ngược lại. Khả năng biến động của lợi nhuận tính
Trần Quang Huy
18
Khoá luận tốt nghiệp – TCNH – 2014
GVHD: Ths. Lê Tô Minh Tân
được tính được chính là rủi ro lãi suất. Rủi ro lãi suất ảnh hưởng đến giá trái phiếu, cổ
phiếu, bất động sản, vàng và các đầu tư khác.
b. Rủi ro sức mua: là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư. Trái phiếu và các
công cụ tài chính có lợi tức cố định hứa hẹn các khoản thanh toán bằng tiền thay vì bằng
xuống.
d. Rủi ro phá sản: các NĐT trái phiếu, cổ phiếu vào các công ty cổ phần sẽ phải
chịu rủi ro khi công ty mất khả năng chi trả đe doạ phá sản. Nếu giá trị tài sản của công ty
ại
thấp hơn các khoản nợ, các NĐT phải đối mặt với rủi ro phá sản của công ty. Thị giá của
Đ
cổ phiếu chắc chắn sẽ suy giảm, có thể gần bằng 0. Nếu công ty bị tuyên bố phá sản, tài
sản của công ty sẽ phải thanh lý ở một cuộc bán đấu giá công khai, số tiền thu được có đủ
ờn
g
để chi trả cho các chủ nợ hay không, thì đây là rủi ro phá sản mà các NĐT phải gánh.
Ngoài cách phân loại như trên, còn có một cách phân loại khá phổ biến như sau, chia
rủi ro của DMĐT ra làm hai loại:
Tr
ư
Rủi ro hệ thống (systematic risk) – rủi ro biến động lợi nhuận của CK hay của
DMĐT do sự thay đổi lợi nhuận trên thị trường nói chung, gây ra bởi các yếu tố như
tình hình nền kinh tế, cải tổ chính sách thuế, thay đổi tình hình năng lượng thế
giới…Nó chính là phần rủi ro chung cho tất cả các loại CK và do đó không thể giảm
được bằng việc đa dạng hoá DMĐT. Loại rủi ro này còn được gọi là rủi ro thị trường
nhuận kỳ vọng của từng CK trong DMĐT. Trọng số ở đây chính là tỷ trọng của từng loại
in
CK trong DMĐT. Công thức tính lợi nhuận kỳ vọng của DMĐT Ep(R) như sau:
E R
cK
Ep(R) =
trong đó Wj là tỷ trọng của CK j, Ej(R) là lợi nhuận kỳ vọng của CK j và m là tổng số CK
b. Đo lường rủi ro của DMĐT
họ
có trong DMĐT.
ại
Rủi ro của DMĐT được đo lường bởi độ lệch chuẩn của DMĐT. Không giống lợi
nhuận, việc xác định độ lệch chuẩn của DMĐT rất phức tạp do ảnh hưởng của yếu tố
Đ
đồng phương sai (Covariance), tức là mức độ quan hệ giữa rủi ro của các CK trong
ờn
g
Phương châm ở đây dựa vào câu “Đừng bỏ tất cả các quả trứng của bạn vào cùng
uế
một giỏ” (Don’t put all your eggs in one basket). Đa dạng hóa DMĐT nhằm cắt giảm rủi
tế
H
ro ở đây có nghĩa là kết hợp đầu tư vào nhiều loại CK mà các CK này không có tương
quan cùng chiều với nhau một cách hoàn hảo, nhờ vậy biến động giảm lợi nhuận của CK
này có thể được bù đắp bằng biến động tăng lợi nhuận của CK kia. Ngoài ra, người ta còn
đa dạng hóa nhằm cắt giảm rủi ro bằng cách đầu tư vào TTCK quốc tế thay vì chỉ tập
h
trung đầu tư vào TTCK của một quốc gia nào đó.
in
Sự kết hợp các CK không có quan hệ tương quan cùng chiều hoàn hảo sẽ giảm được
rủi ro biến động lợi nhuận đầu tư CK. Để thấy rủi ro được giảm như thế nào, chúng ta
cK
nhìn vào sơ đồ chia rủi ro của DMĐT ra làm hai loại rủi ro hệ thống (systematic risk) rủi
ro phi hệ thống (unsystematic risk) như dưới đây:
GVHD: Ths. Lê Tô Minh Tân
1.2 QTRR danh mục đối với DMCP niêm yết
1.2.1 Khái niệm
QTRR một cách tổng quát là xác định mức độ rủi ro mà một công ty mong muốn,
nhận diện được mức độ rủi ro hiện nay của công ty đang gánh chịu và sử dụng các công
uế
cụ phái sinh hoặc các công cụ tài chính khác để điều chỉnh mức độ rủi ro thực sự theo
mức rủi ro mà mình mong muốn.
tế
H
QTRR danh mục được hiểu như một quá trình bao gồm nhiều hoạt động của nhà
quản trị như nhận dạng, đo lường, giám sát và tài trợ rủi ro nhằm tối đa hóa lợi nhuận ở
mức rủi ro có thể chấp nhận được.
h
1.2.2 Một số phương pháp QTRR đối với DMĐT
in
Có rất nhiều phương pháp để QTRR cho danh mục. Năm 1938, Macaulay là người
đầu tiên đề xuất phương pháp đánh giá rủi ro của lãi suất trái phiếu. Phương pháp này
cK
Với mỗi NĐT khác nhau lại có những mục tiêu không giống nhau, nhưng nhìn
chung luôn phải cân nhắc một số vấn đề rủi ro và lợi suất đầu tư, thời hạn đầu tư,…Có
NĐT đặt vấn đề rủi ro cao hơn lợi suất, họ sẽ đặt ra mục tiêu tối đa hoá lợi suất ứng với
mức rủi ro có thể chấp nhận. NĐT khác lại coi trọng lợi suất hơn rủi ro và họ sẽ đặt mục
Trần Quang Huy
22
Khoá luận tốt nghiệp – TCNH – 2014
GVHD: Ths. Lê Tô Minh Tân
tiêu tối thiểu hoá rủi ro ứng với mức lợi suất nhất định. QTRR tốt sẽ giúp họ đạt được
những mục tiêu đó.
1.2.3.1 Mục tiêu chung
a. Tối đa hoá lợi nhuận ở mức chấp nhận được
uế
QTRR không phải loại bỏ triệt để rủi ro của danh mục mà là lựa chọn rủi ro ở mức
độ nào. Hơn nữa QTRR danh mục cần có cái nhìn lợi nhuận và rủi ro ở gốc độ toàn danh
tế
H
mục chứ không phải từng cổ phiếu riêng lẻ. Có thể trong danh mục có những cổ phiếu có
những rủi ro mà danh mục gặp phải qua đó đưa ra hướng xử lý nhằm đảm bảo sự an
1.2.3.2 Mục tiêu của QTRR đối với DMCP niêm yết dựa trên mô hình VaR và Arima.
ờn
g
a. Xác định mức lỗ tối đa ở mức có thể chấp nhận được
Đứng ở một khía cạnh khác, mục đích của NĐT khi nắm giữ danh mục cổ phiếu,
ngoài việc tối đa hoá lợi nhuận họ còn quan tâm đến khía cạnh “giá trị có rủi ro”.
Tr
ư
Giá trị có rủi ro (VaR) là số tiền tối đa bị lỗ trong một danh mục với một mức độ tin
cậy cho sẵn trong một thời kỳ cụ thể nào đó. Từ những thông tin về VaR, các NĐT có thể
đưa ra những quyết định quan trọng và kịp thời đối với danh mục của họ.
b. Dự báo giá, đưa ra quyết định phòng ngừa rủi ro đảm bảo an toàn cho danh mục
Giám sát danh mục và xử lý những biến động nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động
đầu tư rõ ràng là mục tiêu hàng đầu của các nhà quản lý. Để hỗ trợ cho việc ra quyết định
Trần Quang Huy
23
Khoá luận tốt nghiệp – TCNH – 2014
1.2.4.1 Nhận diện rủi ro
cK
1.2.4 Quá trình QTRR đối với DMCP dựa trên mô hình VaR & Arima
họ
Để quản trị được rủi ro thì trước hết phải nhận diện được rủi ro. Như đã phân tích ở
các phần trên, rủi ro DMĐT bao gồm rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Đa dạng hóa
có thể triệt tiêu hoàn toàn rủi ro phi hệ thống, lúc đó khi một danh mục được coi là đa
ại
dạng hoá hoàn toàn hay đa dạng hoá hiệu quả. Nhận diện rủi ro chính là tìm ra các biểu
Đ
hiện và các yếu tố tác động có thể dẫn đến các rủi ro trên. NĐT phải thường xuyên xem
xét tổng thể cơ cấu danh mục cổ phiếu của mình kết hợp với phân tích rủi ro nội tại của
ờn
g
các cổ phiếu trên danh mục từ đó nhận diện được những biểu hiện hay những yếu tố tác
động làm gia tăng rủi ro cho danh mục của mình.
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu “QTRR danh mục cổ phiếu niêm yết dựa trên mô
Tr
H
ở đây, thông qua mô hình VaR với ba phương pháp tính toán khác nhau (Historical
Method, Variance – Covariance, Monte Carlo) chúng tôi tính toán được khoản lỗ tối đa
của DMĐT vào ngày mai với mức độ tin cậy là 95% và 99%. Trong đó VaR ở độ tin cậy
h
95% tính ra được từ phương pháp Monte Carlo được bài nghiên cứu chọn sử dụng làm
in
VaR tiêu chuẩn để thực hiện các bước tiếp theo của quá trình quản trị bởi tính chính xác
cũng như ưu điểm của phương pháp này so với các phương pháp còn lại.
cK
1.2.4.3 Kiểm soát rủi ro
Kiểm soát rủi ro là việc dùng các biện pháp, kỹ thuật, chiến thuật,…để ngăn ngừa,
họ
né tránh hoặc giảm thiểu nhưng tổn thất do rủi ro mang đến. Mỗi thời điểm NĐT có thể
đối mặt với những loại rủi ro khác nhau do đó tùy tình hình thực tế mà NĐT chọn cho
mình cách thức kiểm soát rủi ro thích hợp sau khi đã nhận diện và đo lường được chúng.
ại
So sánh lời/lỗ từ kết
quả dự báo với Var tính
được.
Tăng dự phòng hợp lý4.
Điều chỉnh danh mục để
đạt VaR kỳ vọng.
Trong khuôn khổ đề tài, từ kết quả tính VaR của danh mục, chúng ta có thể xây dựng
hai trường hợp như bảng trên (có thể/không thể tăng thêm dự phòng), với mô hình Arima
có thể giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định trong việc QTRR cho từng trường hợp. Cụ thể,
từ mô hình Arima, chúng ta sẽ trả lời hai câu hỏi đặt ra là:
4
NĐT xem xét và chấp nhận khoản rủi ro như vậy và tiến hành phòng ngừa.
Trần Quang Huy
25
Khoá luận tốt nghiệp – TCNH – 2014
GVHD: Ths. Lê Tô Minh Tân
(1) Liệu chúng ta có nên tiến hành phòng ngừa rủi ro cho danh mục, hay việc phòng
ngừa rủi ro cho danh mục trong trường hợp này có cần thiết hay là không ?
(2) Nếu tiến hành phòng ngừa rủi ro, chúng ta sẽ phòng ngừa như thế nào?
Câu hỏi thứ nhất sẽ được trả lời thông qua việc “Đối chiếu kết quả dự báo từ
$500 chẳng hạn < mức có thể dự phòng là ở mức $400.000. Trong khi đó, giá trị VaR =
$500.000 là vượt ngưỡng chịu đựng nhưng đó chỉ là giá trị ở mức tối đa có thể xảy ra với
độ tin cậy 95%, cũng có nghĩa là có tới 95% khoản lỗ sẽ nhỏ hơn hoặc bằng $500.000.
ại
Và trong trường hợp Arima, thì nó là lỗ $500. Nên với mức phòng ngừa sẵn có là
Đ
$400.000, việc phân vân giữa quyết định có nên phòng ngừa rủi ro hay không là một biểu
hiện bình thường và phụ thuộc vào khẩu vị rủi ro của NĐT.
ờn
g
Câu hỏi thứ hai: tất nhiên đối với trường hợp (1) sẽ không có gì phải bàn khi việc
phòng ngừa rủi ro được tiến hành dễ dàng thông qua tăng thêm khoản dự phòng hợp lý.
Câu hỏi thứ hai ở đây tập trung giải quyết cho trường hợp (2) và sẽ được trả lời thông qua
Tr
ư
việc nhìn vào xu hướng giá tương lai của các cổ phiếu trong danh mục có được từ mô
hình Arima.
Ta xem xét ở trường hợp (2) khi NĐT vẫn tiếp tục quyết định phòng ngừa rủi ro. Do
không thể tăng thêm khoản dự phòng, bài nghiên cứu sử dụng cách thức điều chỉnh tỷ
trọng các cổ phiếu trong danh mục sao cho VaR danh mục đạt ngưỡng chịu đựng của
về mức NĐT kỳ vọng.
in
Việc trả lời hai câu hỏi trên chính là mục tiêu của việc kết hợp thêm mô hình Arima
trong bài nghiên cứu này, hỗ trợ NĐT trong việc QTRR danh mục mà chúng ta sẽ tìm
cK
hiểu kỹ hơn ở phần sau.
1.2.4.4 Tài trợ rủi ro
họ
Rủi ro chính là sự không chắc chắn do đó dù có kiểm soát đến đâu cũng không thể
ngăn chặn hoàn toàn sự xuất hiện của rủi ro. Do đó khi rủi ro xảy ra thì cần có biện pháp
thích hợp để giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại do rủi ro gây ra. Thông thường hoạt
Đ
chuyển giao rủi ro.
ại
động tài trợ rủi ro thường được phân chia thành hai nhóm là tự khắc phục rủi ro và
Tự khắc phục rủi ro
ờn
g
1.3 Tổng quan về mô hình Var
tế
H
1.3.1 Tổng quan về VaR
uế
VaR đã tính toán. Nếu khoản tổn thất là ngoài dự kiến, đó cũng được xem như là
1.3.1.1 Khái niệm
Value at Risk-VaR, là mô hình đo lường khoản lỗ tối đa mà NĐT có thể gặp phải
h
với một mức độ tin cậy hoặc khoản lỗ tối thiểu với một mức xác suất nhất định khi giá cổ
in
phiếu biến động trong điều kiện bình thường. Một khoản lỗ lớn hơn VaR có thể xảy ra
nhưng với xác suất nhỏ hơn. (Thomas J. Linsmeier and Neil D. Pearson, 1996). Trong
cK
thực hành chúng ta hay chọn mức độ tin để tính VaR là 95% hoặc 99%, vậy xác suất để
khoản lỗ lớn hơn VaR là 5% hoặc 1%. Theo quy tắc xác suất nhỏ xem như điều đó là
họ
Bảng 1.2 dưới đây đưa ra một ví dụ đơn giản với cách phân loại riêng biệt về thay
đổi trong giá trị của danh mục giả định. Lưu ý rằng mỗi hàng ngang có một xác suất và
Trần Quang Huy
28
Khoá luận tốt nghiệp – TCNH – 2014
GVHD: Ths. Lê Tô Minh Tân
xác suất tích luỹ liên quan đến mỗi thay đổi trong giá trị của danh mục giả định. Bắt đầu
với loại có kết quả xấu nhất, VaR được tính bằng cách xác định xác suất tích luỹ cho đến
một tỷ lệ phần trăm cụ thể. Trong trường hợp này, VaR đối với 5% là 3 triệu $. Điều này
được giải thích như sau: có xác suất 5% trong một kỳ là danh mục sẽ lỗ ít nhất 3 triệu $.
uế
Ngoài ra, VaR có thể được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau tương ứng với bất kỳ mức
xác suất nào. Chẳng hạn như là “Có 15% xác suất trong một thời kỳ là danh mục sẽ lỗ ít
tế
H
nhất 2 triệu $” hoặc “Có 50% xác suất trong một thời kỳ danh mục sẽ bị lỗ tối đa 1$”.
Biểu đồ 1.2 minh hoạ nguyên tắc đằng sau việc sử dụng VaR khi phân phối những
thay đổi trong giá trị danh mục là liên lục. Đồ thị hình chuông sẽ được sử dụng một cách
0,05
-2 đến -2,999999
0,1
0,15
-1 đến -1,999999
0,15
0,30
0 đến -0,999999
0,2
0,50
0 đến 0,999999
0,2
0,70
1 đến 1,999999
0,15
GVHD: Ths. Lê Tô Minh Tân
tế
H
uế
Khoá luận tốt nghiệp – TCNH – 2014
h
Biểu đồ 1.2 - Giá trị có rủi ro đối với phân phối xác suất thay đổi trong giá trị danh
mục với thay đổi kỳ vọng là zero
in
1.3.1.2 Lịch sử của mô hình VaR
cK
VaR được sử dụng lần đầu tiên bởi nhiều công ty tài chính năm 1980 để đo lường
DMĐT. Sau đó được phát triển, và được sử dụng bởi nhiều tổ chức khác. Theo khảo sát
năm 1994 của một nhóm The Third có đến 43% các nhà kinh doanh tài chính tham gia trả
họ
lời nói rằng họ có sử dụng VaR. Đến cuối năm 1995, J. P. Morgan đã nỗ lực để phát triển
mô hình VaR này thông qua hệ thống RiskMetric.
ại
GVHD: Ths. Lê Tô Minh Tân
Tuy những cơ sở khoa học đầu tiên về VaR được hình thành từ môi trường ngân
hàng, song sự phát triển của VaR lại được thăng hoa thông qua việc sử dụng VaR của các
định chế tài chính chuyên nghiệp (quỹ đầu tư, công ty tài chính) để QTRR cho hoạt động
đầu tư của họ.
uế
1.3.2 Các phương pháp tính VaR
1.3.2.1 Phương pháp Historical Method
tế
H
VaR được tính toán mà không cần phải giả thiết giá trị VaR tuân theo phân phối
chuẩn, theo đó cách tính này mang tính chất đơn giản. Tuy nhiên kết quả tính toán từ
phương pháp này sẽ mang tính chính xác kém hơn. Các bước tính toán:
h
Bước 1: Từ dữ liệu hàng ngày, tính giá trị của DMĐT tại các ngày cụ thể:
in
Vt = 1000 x [ P(1)t + P(2)t + … + P(m)t ] ; t=1,…, n với n là ngày hiện tại
Trong đó: -Vt : giá trị danh mục tại ngày thứ t
cK
nhân với giá trị hiện tại của danh mục.
Ưu điểm của phương pháp là cho kết quả nhanh, khối lượng tính toán ít, phù hợp
khi NĐT có một danh mục tài sản tài chính, hay các hợp đồng kỳ hạn với giá trị nhỏ.
Khuyết điểm của phương pháp này là kết quả tính VaR kém chính xác.
Trần Quang Huy
31
Khoá luận tốt nghiệp – TCNH – 2014
GVHD: Ths. Lê Tô Minh Tân
1.3.2.2 Phương pháp Variance – Covariance
Phương pháp này còn gọi là phương pháp phương sai, hiệp phương sai. Đầu tiên
hãy nói về sự ra đời của phương pháp Variance – Covariance này. Các nhà quản trị cho
rằng rủi ro của một DMĐT phải có sự liên hệ từ các rủi ro của các tài sản, chứ nó không
uế
thể bằng tổng rủi ro của các tài sản trong một DMĐT. Chính vì thế khái niệm Covariance
đã được ra đời để tính toán rủi ro cho một DMĐT. Hãy tiếp tục ở một khía cạnh khác,
tế
H
cổ phiếu hàng ngày tính được ở bước 1, dùng hàm average trong excel chúng ta tính
được tỷ suất sinh lợi trung bình của từng cổ phiếu X1, X2, …, Xn.
ờn
g
Tỷ suất sinh lợi trung bình của danh mục = w1X1 + w2X2 + … + wnXn
Bước 3: Tính toán ma trận Covariance cho danh mục.
Nếu danh mục chỉ có một tài sản thì thay vì tính ma trận Covariance chúng ta tính
Tr
ư
thẳng ra độ lệch chuẩn bằng những công thức quen thuộc. Còn nếu danh mục có từ hai tài
sản trở lên phải sử dụng đến ma trận Covariance. Ma trận này được tính toán như sau.
Trần Quang Huy
32
Khoá luận tốt nghiệp – TCNH – 2014
GVHD: Ths. Lê Tô Minh Tân
Bảng 1.3 - Ma trận Covariance
Cổ phiếu 2
…
Cổ phiếu n
wnw1Covn,1
wnw2Covn,2
…
uế
Cổ phiếu 1
wn2Covn,n
tế
H
Với Covi,j= độ lệch chuẩn cổ phiếu i (σi) x độ lệch chuẩn đồng tiền j (σj) x hệ số
tương quan giữa đồng tiền i và j (ρij). Tuy nhiên trong Excel chúng ta có thể tính toán đại
lượng này dễ dàng bằng cách dùng hàm Covariance.
Cov
,
Cov
in
σ=
h
Bước 4. Tính độ lệch chuẩn cho danh mục.
VaR =( - Zασ).Vn với Zσ được tính theo phân phối chuẩn N(0;1)
Ưu điểm của phương pháp này là đảm bảo tính tương quan của các đồng tiền trong
họ
danh mục, do đó làm cho VaR được tính chính xác hơn.
Nhược điểm: VaR vướng phải một giả định là tuân theo phân phối chuẩn.
ại
1.3.2.3 Phương pháp mô phỏng Monte Carlo
Đây là phương pháp toàn diện nhất trong các phương pháp tính VaR, với một kịch
Đ
bản các tình huống có thể xảy ra, cộng thêm với nhiều mô phỏng sẽ cho ra kết quả chính
ờn
g
Mặc dù VaR trở thành một tiêu chuẩn đánh giá thông dụng, nhưng nó có thể được
tế
H
thực hiện với nhiều hình thức khác nhau, và xây dựng một cách đo lường VaR thích hợp
đòi hỏi người sử dụng phải quyết định rất nhiều trong cấu trúc tính toán. Các thông số
quan trọng nhất ảnh hưởng tới Var như là độ tin cậy, khoảng thời gian đo lường VaR,
in
pháp nào để tính Var cũng đóng một vai trò quan trọng.
h
đơn vị tiền tệ. Ngoài những thông số chung nên trên thì cách tiếp cận dựa trên phương
1.3.3.1 Mức độ tin cậy
cK
Xác suất được chọn thông thường là 0.05 hoặc 0.01 (tương đương với 95% hay
99% mức độ tin cậy). Sử dụng mức 0.01 dẫn đến một sự ước lượng VaR khá thận trọng,
họ
vì nó định ra con số mà tại mức nơi đáng lý ra chỉ có 1 % xác suất bị lỗ thì sẽ xấu hơn là
mức VaR đã tính. Do đó, mức độ tin cậy 95% thường được sử dụng nhiều trong QTRR.
1.3.3.2 Khoảng thời gian đo lường