Nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi rác Khánh Sơn
bằng công nghệ hầm Biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất điện
1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU.
1.1 Tổng quan
Để phát triển bền vững và lâu dài thì vấn đề về môi trường là rất quan trọng.
Trong tình hình hiện nay của toàn cầu, tình trạng ô nhiễm môi trường rất trầm
trọng, đặc biệt Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề
nhất của hậu quả do môi trường gây ra. Một trong những tác nhân gây ảnh
hưởng trực tiếp đến sự ô nhiễm môi trường là rác thải. Đây là nhân tố gây ô
nhiễm môi trường lâu dài đã và đang làm đau đầu các nhà quản lý môi trường
trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Vấn đề đặt ra là cần xử lý nguồn rác thải
này như thế nào để giảm được sự ô nhiễm môi trường do rác thải gây ra đồng
thời tận dụng những sản phẩm sau khi xử lý như thế nào để đem lại hiệu quả
kinh tế, tránh lãng phí. Hiện nay trên thế giới đã và đang có nhiều phương pháp
và công nghệ mới tiên tiến để xử lý rác thải một cách hiệu quả nhằm giảm sự ô
nhiễm môi trường do rác thải gây ra. Tại nhiều nước như Đức, Ý, Nhật…vài
chục năm qua đã phát triển một số kỹ thuật tiên tiến để xử lý rác thải như
phương pháp biến rác thải thành phân vi sinh (phân trộn), phương pháp đốt ép
làm vật liệu xây dựng….
Ở Việt Nam hầu hết rác thải được thu gom và xử lý theo phương pháp chôn
lấp và đốt, rất lạc hậu. Phương pháp này là giải pháp tức thời và hiệu quả lâu dài
không được chấp nhận. Thứ nhất vì phương pháp này tốn một diện tích rất lớn để
chôn lấp rác thải mà dân số ngày càng phát triển, đất đai lại khan hiếm nhất là các
thành phố lớn đất chật người đông. Thứ hai phương pháp này gây ô nhiễm môi
trường xung quanh bãi rác cũng như các vùng lân cận, như mùi hôi của rác thải hữu
cơ, nước rỉ rác…Thứ ba là gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và gây nguy hại cho sức
khỏe con người. Thứ tư là hiệu quả của nó không cao và chúng ta có thể không tận
dụng được năng lượng tái sinh của rác thải hữu cơ…
Hiện nay trên cả nước đã và đang có nhiều nhà máy xử lý rác thải khá hiệu quả
như: Nhà máy xử lý rác thải Thuỷ Phương - Huế, Trạm phát điện công nghệ xử lý
rác tại bãi rác Gò Cát – TP. Hồ Chí Minh, Nhà máy xử lý rác thải bằng công nghệ
cầu sử dụng điện của bãi rác nói chung và của thành phố nói riêng, nhằm tránh lãng
phí từ nguồn rác thải, đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực.
Góp phần quan trọng trong công tác tiến tới TP. Đà Nẵng là thành phố Môi
trường trong tương lai.
1.3. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Nghiên cứu thành công triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi
rác Khánh Sơn bằng công nghệ hầm biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất
điện sẽ mang lại nhiều ý nghĩa và lợi ích thiết thực sau:
-Tiết kiệm được đất chôn lấp vì phần lớn rác đã được tái chế: rác hữu cơ được tái
chế thành phân compost, rác vô cơ thì tùy loại ( túi nilong, mảnh nhựa….tái chế
thành nhựa, giấy vụn được tái chế thành giấy mới….)
- Thu được một khoản tiền không nhỏ từ việc bán các sản phẩm tái chế.
- Sử dụng rác hữu cơ đem xử lý có thể thu khí biogas để chạy máy phát điện.
- Tiết kiệm được tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường.
- Góp phần vào việc nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng thông
qua phân loại rác tại nguồn và góp phần giảm tải cho bãi rác Khánh Sơn.
2
Nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi rác Khánh Sơn
bằng công nghệ hầm Biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất điện
LỜI NÓI ĐẦU
Xuất phát từ chủ trương của thành phố Đà Nẵng là trở thành thành phố môi
trường thì vấn đề ô nhiễm môi trường là vấn đề cấp bách hiện nay. Trong giai đoạn
này thành phố đã có nhiều chủ trương, dự án để khắc phục giảm thiểu ô nhiễm môi
trường, đăc biệt là về vấn đề rác thải. Lượng rác thải của thành phố thải ra mỗi ngày
là rất lớn. Chỉ riêng rác thải sinh hoạt mỗi ngày đã thu gom trung bình được 530
tấn/ngày. Lượng rác thải này chủ yếu gồm ba thành phần là rác hữu cơ, rác vô cơ,
rác tái chế, trong đó thành phần rác hữu cơ chiếm tỷ lệ khá cao (66%). Lượng rác
Trần Văn Thanh
2. HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI
2.1. Nguồn phát thải
Ở thành phố Đà Nẵng, tất cả chất thải rắn sinh hoạt của khu dân cư, cơ quan,
trường học, bãi biển, các điểm du lịch, khu công nghiệp, bệnh viện đều được tổ
chức thu gom.
2.2. Phương thức thu gom vận chuyển và xử lý rác thải của thành phố Đà
Nẵng
Hiện nay Công Ty Môi Trường Đô Thị thành phố Đà Nẵng thu gom chất thải
rắn bình quân được 530 tấn/ngày, ước tính bằng 87% lượng rác phát sinh trên địa
bàn thành phố.
Tại 6 quận của thành phố, công tác thu gom rác thải được thực hiện hàng ngày,
tỷ lệ thu gom rác tại khu vực nội thành đạt trên 95% khối lượng rác phát sinh trên
địa bàn. Riêng huyện Hoà Vang hiện nay công tác thu gom chất thải rắn mới chỉ
được thực hiện tại các khu dân cư nằm ven quốc lộ, tỉnh lộ và các chợ của xã.
- Đối với rác thải sinh hoạt:
Để thuận lợi cho quá trình thu gom, Công ty Môi trường Đô thị thành phố Đà
Nẵng đã lắp đặt gần 6.000 thùng rác công cộng trên các đường phố, khu dân cư,
giúp cho người dân có thể dễ dàng đổ rác vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày.
4
Nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi rác Khánh Sơn
bằng công nghệ hầm Biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất điện
Rác thải sinh hoạt
(530 tấn/ngày)
Thùng rác tiêu chuẩn
m2/h/xe. Việc thu gom rác tại các gầm, kè bờ sông, biển,…. được thực hiện bằng
thủ công.
5
Nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi rác Khánh Sơn
bằng công nghệ hầm Biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất điện
- Đối với rác thải y tế:
Rác thải tại các bệnh viện, cơ sở y tế được rác hữu cơ loại tại chỗ, chứa trong
các thùng riêng, Công ty Môi trường Đô thị TP. Đà Nẵng thu gom rác sinh hoạt và
không độc hại vận chuyển đến bãi rác Khánh Sơn chôn lấp tại hộc rác đô thị.
Đối với rác y tế nguy hại thì phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế hợp đồng
với Công ty Môi trường Đô thị TP. Đà Nẵng thu gom và xử lý đốt tại bãi rác Khánh
Sơn.
- Đối với rác thải công nghiệp:
Rác thải công nghiệp chiếm khoảng 6 - 7 % tổng lượng rác của Thành phố.
Một số xí nghiệp, nhà máy tìm cách tái chế và sử dụng lại rác thải công nghiệp, số
lượng còn lại, sau khi được rác hữu cơ loại tại chỗ, các đơn vị hợp đồng với Công ty
Môi trường Đô thị để vận chuyển và xử lý.
Bên cạnh đó còn rất nhiều doanh nghiệp, nhà máy trong các khu công nghiệp
trốn tránh việc kê khai và đăng ký chủ nguồn thải CTNH, vì lợi nhuận kinh tế nên
đã trộn lẫn với rác sinh hoạt. Chính điều này đã gây không ít khó khăn và trở ngại
cho quá trình thu gom và xử lý của Công ty.
- Đối với rác thải trong chế biến hải sản:
Lượng rác thải trong chế biến hải sản của Thành phố Đà Nẵng chiếm tỉ lệ khá
cao. Hằng năm có khoảng 1500 - 3000 tấn được thu gom và xử lý sơ bộ bằng chế
phẩm sinh vật nhằm giảm thiểu mùi hôi và sau đó vận chuyển đến bãi chôn lấp
Khánh Sơn.
- Đối với chất thải hút bể phốt:
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Trạm Hoà Thọ
Trạm Đò Xu
Trạm chợ Đầu Mối
Trạm Chi Lăng
Trạm chợ Đống Đa
Trạm Thanh Lộc Đán
Trạm Hoà An
Trạm Hoà Khánh
Trạm Bắc Mỹ An
Trạm Thọ Quang
Đ. Cách mạng tháng 8
Đ. Núi Thành
Chợ Đầu Mối
Đ. Ngô Gia Tự
Đ. Lương Ngọc Quyến
Đ. Nguyễn Đức Trung
Đ. Tôn Đức Thắng
Chợ Hoà Khánh
và vận hành.
Vị trí
Bãi rác Phường
Khánh Hoà
Sơn cũ Khánh
Nam,
Q.Liên
Chiểu,
TPĐN
Diện tích Năng lực hoạt động
9,8 ha
15 năm
Công nghệ xử lý Chú ý
Chôn lấp
Bắt đầu
hoạt động
từ năm
1992 và
đã đóng
cửa vào
cuối năm
2006
7
Nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi rác Khánh Sơn
bằng công nghệ hầm Biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất điện
tư vấn Việt Nam và tư vấn nước ngoài thực hiện.
2.5. Hạng mục công trình tại bãi rác Khánh Sơn
Bãi rác Khánh Sơn mới có tổng diện tích 50 ha gồm có các hạng mục công
trình như sau:
- Cầu cân: Một cầu xe tải được dùng để cân trọng lượng xe chở rác thải đến
tiện ích. Trọng lượng của xe cũng sẽ được ghi chép lại khi rời khỏi bãi rác để có thể
xác định được lượng rác.
- Hộc rác Đô thị: có 5 hộc rác với tổng diện tích 15 ha và dự kiến năng lực
hoạt động là 15 năm.
- Hộc rác Độc hại: gồm một hộc rác với diện tích gần 0,5 ha được dùng riêng
cho loại rác thải độc hại.
- Hệ thống xử lí nước rỉ: gồm các hồ kị khí được che phủ và các hồ hiếu khí lộ
thiên, sẽ được xử dụng để xử lí nước rỉ được hình thành trong các Hộc rác Đô thị.
Nước rỉ từ hộc rác Độc hại cũng có thể được xử lí tại tiện ích này nếu được xác định
thích hợp với quy trình xử lí này hoặc sau khi đã xử lí cặn lắng trước đó bằng vôi.
- Hệ thống xử lý rác hữu cơ hầm cầu: một hệ thống xử lý dành cho chất thải
hầm cầu tự hoại. Hệ thống này sẽ khử nước trong chất tự hoại thông qua một loạt 6
bể chứa có dung tích 90 m3/1bể chứa, trạm bơm bùn bể phốt và đường ống dẫn.
Nước sẽ thoát đến hệ thống Xử lí nước rỉ và chất tự hoại đã cô đặc sẽ được bơm đến
các Hộc rác Đô thị.
- Khu vực xử lý chất thải nguy hại: gồm có nhà lưu chứa chất thải, lò đốt chất
thải nguy hại và một số công trình phụ trợ khác
8
Nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi rác Khánh Sơn
bằng công nghệ hầm Biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất điện
2.6. Công tác phân loại rác tại nguồn, tái chế và tái sử dụng
Phân loại chất thải: Hiện nay phần lớn chất thải rắn đô thị của Thành phố chưa
được phân loại tại nguồn phát sinh. Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Đà Nẵng đã
và đặc biệt có nguy cơ lây lan các bệnh nguy hiểm như viêm gan, viêm màng não,
9
Nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi rác Khánh Sơn
bằng công nghệ hầm Biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất điện
HIV/AIDS. Hầu hết các cơ sở sản xuất tái chế phế liệu đều là loại hình tư nhân, cá
thể. Cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu, các phương pháp tái chế còn quá thô sơ
nên thành phẩm có giá trị chưa cao, mặt khác điều kiện làm việc của công nhân
trong các cơ sở chế biến phế thải còn rất nặng nề, vất vả, không vệ sinh gây ảnh
hưởng đến sức khoẻ của người lao động và môi trường xung quanh khu vực.
Hiện nay hoạt động thu hồi các phế liệu từ chất thải rắn được tiến hành chủ yếu như
sau:
Vật liệu phế thải được thu hồi tại nguồn phát sinh bởi người phát sinh chất
thải hoặc người nhặt rác song song với quá trình thu gom là quá trình thu hồi phế
thải từ nguồn chất thải rắn.
Thu hồi phế thải tại bãi chôn lấp chất thải rắn Khánh Sơn.
Thu hồi phế thải tại các cơ sở sản xuất công nghiệp trong quá trình thu gom
rác công nghiệp.
Thành phần các phế liệu được thu hồi và tái sinh tại thành phố Đà Nẵng chủ
yếu là các kim loại, nhựa cứng, cao su, giấy, bìa các tông, da giày, vải vụn và thực
phẩm đã dùng thừa, rau quả có thể thu lượm để chăn nuôi gia súc, chất thải từ các
cơ sở chế biến hải sản, thực phẩm.
Tỷ lệ chất thải được thu hồi và tái sử dụng hiện nay vào khoảng từ 5-7% lượng
rác thải hàng ngày. Sau khi thu hồi tại nguồn phát sinh hoặc ở các vị trí tập trung
rác thải, các phế thải được tái sử dụng như sau:
Các phế liệu là kim loại như sắt, đồng, nhôm được bán lại cho các cơ sở tái
chế kim loại thành các thành phẩm hoặc nguyên liệu bán thành phẩm.
Các chai thuỷ tinh nguyên vẹn được rửa sạch và bán cho các cơ sở thương
nghiệp làm vật liệu chứa các chất lỏng. Thuỷ tinh vỡ bán cho các cơ sở chế biến
0,6
4
Nhựa
20,6
5
Kim loại
0,2
6
Sợi
3,1
7
Chất khoáng
1,1
8
Loại khác
1,9
Tổng cộng
100
(Nguồn do Công Ty Môi Trường Đô Thị Đà Nẵng cấp)
Bảng 2.2 Số liệu thống kê lượng chất thải rắn phát sinh và thu gom
Năm
Thu gom
Phát sinh
Tỷ lệ % thu gom
2007
bằng công nghệ hầm Biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất điện
Bề mặt công tác được định nghĩa như là khu vực nơi rác thải đang được đổ
xuống. Vị trí bề mặt công tác dịch chuyển hằng ngày tùy theo lượng rác thải đổ mỗi
ngày. Chiều cao tối đa là 3-4 mét, chiều rộng từ 20-30 mét .
Tầng rác được định nghĩa như một lớp rác thải được tạo ra do các đợt đổ rác
liên tiếp từ bên này đến bên kia của một hộc rác. Một hộc rác khi được kích hoạt
tầng rác thải đầu tiên được đặt ngang qua toàn bộ đáy hộc rác. Mục đích chính của
tầng rác đầu tiên là tạo một lớp bảo vệ bên trên các hệ thống thu gom nước rỉ sao
cho nước mưa không chảy trực tiếp vào hệ thống đó.
Các tầng rác đầu tiên cho từng hộc rác sẽ được đổ trực tiếp bên trên tầng thoát
nước mưa, các tầng rác sau được đổ trực tiếp lên tầng rác đầu tiên cho đến khi nào
khu vực này được đổ lên độ cao tối đa. Kế hoạch đổ lấp rác được tạo ra nhằm:
- Cải thiện sự kiểm soát nước mưa.
- Giảm thiệu sự hình thành nước rỉ.
- Tối đa hoá công suất.
- Bảo vệ hệ thống lớp lót.
- Giảm thiểu các yêu cầu về vật liệu phủ.
* Đổ tầng rác đầu tiên
Một lớp bảo vệ gồm rác thải đã sàng lọc (không có vật to và nhọn có thể đâm
thủng lớp thoát nước và làm hỏng lớp lót) sẽ được đổ bên trên tầng thoát nước trước
khi vận hành thiết bị ép.
* Đổ tầng rác tiếp theo
Sau khi đổ tầng rác đầu tiên vào đáy hộc thì đổ tầng rác kế tiếp, các tầng rác
tiếp theo nên có độ dày tổng thể từ 3-4 mét . Rác được ép lại càng nhiều càng tốt để
tiết kiệm không gian.
* Tạo hình các bờ dốc
Trong quá trình đổ rác, các bờ dốc rác thải xung quanh vành đai bãi rác được
san ủi để tạo tính ổn định tổng thể rác thải và để cho phép thi công một hệ thống
phủ cuối cùng khi đóng cửa bãi rác, và khi đó nước mưa chảy dọc theo sườn dốc đã
được bao phủ được coi là sạch và có thể chảy trực triếp xuống sông.
vệ nhằm tránh các thành phần trong rác bị gió cuốn đi.
2.8.2. Hộc rác Độc hại
Hộc rác Độc hại: gồm 5 lớp:
- một lớp đá sỏi 2 – 3 cm được rải đều trên bề mặt với chiều dày 30cm;
- một lớp vải địa kỹ thuật loại A;
- một lớp lót bằng đất sét;
- một lớp vải địa kỹ thuật loại B;
- một lớp đất sét được đầm chặt.
13
Nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi rác Khánh Sơn
bằng công nghệ hầm Biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất điện
2.8.3. Trạm bơm nước rỉ
Toàn bộ nước, nước mưa hay nước gì khác có tiếp xúc với rác thải đều trở
thành nước rỉ. Để giảm mức tải vào trạm xử lý, phải nổ lực để giảm thiểu khối
lượng nước và mức độ nhiễm bẩn, nước rỉ càng ít hình thành thì thời gian lưu giữ
thủy lực trong các hồ càng lâu và càng được xử lý tốt hơn.
Nước mưa trong các hộc rác chưa hoạt động sẽ được quản lý và tách khỏi
nước rỉ, mỗi hộc rác có hệ thống ống riêng của nó và các ống chính của mỗi hộc đi
qua hệ thống nước rỉ và cho ra sông.
Một khi một hộc rác được hoạt động bắt đầu tiếp nhận rác thải thì ống từ hộc
rác đổ phải được cắt bỏ và chuyển vào trông hố thải nước rỉ để dòng chảy này trực
tiếp đến trạm bơm nước rỉ.
Các máy bơm ở trạm bơm nước rỉ sẽ tự đông khởi động khi đạt đến mức khởi
động của bơm và sẽ tự động ngừng sau khi đạt độ cao thấp nhất.
Nếu nhận thấy bơm ít khởi động và nếu xảy ra cặn lắng quá nhiều, có thể giảm
kích thước theo cách nhân tạo bằng cách hạ thấp mức khởi động bơm, điều này là
cần thiết trong mùa khô khi lượng nước rỉ ít đi nhiều.
Lượng nước rỉ rác thu gom hàng ngày vào mùa nắng là 250 - 300 (m3/ngày) và
- Thời gian lưu giữ tối thiểu: 30 ngày.
- Dung tích hoạt động của hồ: 23.832 m3.
- Độ sâu hoạt động của hồ: 2,4 m.
Trong các hồ này có các vi sinh vật hiếu khí và những vi sinh vật kỵ khí và
những vi sinh vật tuỳ nghi rác hữu cơ bố theo chiều sâu của hồ. Những vi sinh vật
này là hệ sinh vật tự nhiên và được bổ sung dưới dạng chế phẩm E.M (Effective
Microorgainism). Ngoài ra còn có các loại tảo.
2.8.7. Các hồ sinh thái
Ở bãi rác có hai hồ sinh thái sẽ tiếp nhận dòng chảy ra của hồ tuỳ nghi 2. Hồ
đầu tiên sẽ có mức tải cao bởi dòng chảy ra từ hồ tuỳ nghi 2, hồ thứ hai sẽ làm sạch
thêm dòng chảy ra từ hồ thứ nhất.
Trong các hồ này có các vi sinh vật hiếu khí và những vi sinh vật kỵ khí và
những vi sinh vật tuỳ nghi rác hữu cơ bố theo chiều sâu của hồ. Những vi sinh vật
này là hệ sinh vật tự nhiên. Ngoài ra còn có các loại tảo.
Kích thước của 2 hồ sinh thái: 44m x 25m x 1,5m.
* Ở hồ kỵ khí và các hồ tuỳ nghi cũng như các bể phốt đều có hệ thống lớp lót
2.9. Quy trình xử lý rác thải tại bãi rác Khánh Sơn.
- Khối lượng rác thải thu gom hàng ngày: 530 tấn/ngày
- Lưu lượng nước rỉ rác phát sinh hàng ngày: 350 m3/ngày
- Hệ thống xử lý nước thải:
15
Nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi rác Khánh Sơn
bằng công nghệ hầm Biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất điện
RÁC THẢI
BÃI RÁC
KHÁNH SƠN
BÙN
BÙN
HỒ SINH THÁI 1
HỒ SINH THÁI 2
MÔI TRƯỜNG
Hình 2.2 Quy trình công nghệ xử lý rác thải và nước thải tại bãi rác Khánh Sơn mới
16
Nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi rác Khánh Sơn
bằng công nghệ hầm Biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất điện
2.10. Mô hình phân loại rác tại nguồn
2.10.1. Tình hình phân loại rác tại nguồn
Rác thải hiện nay đang là một vấn đề nan giải của xã hội và môi trường, rác
hữu cơ, rác vô cơ, rác tái chế nếu được phân loại tại nguồn sẽ giảm chi phí cho quá
trình xử lý, tái chế và làm giảm tác động tới vấn đề ô nhiễm môi trường. Nhưng
phần lớn mọi người hiện nay vẫn chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của việc
phân loại rác thải tại nguồn, mặc dù đã có khá nhiều dự án, trương trình tuyên
truyền giáo dục, nâng cao ý thức cho người dân, nhưng có lẽ quy mô, thời gian chưa
đủ lớn, lại mang nhiều tính lý thuyết và đặc biệt là chưa có được phương pháp có
tính thực tiễn để mọi người dễ dàng thực hiện.
- Việc làm đầu tiên và quan trọng nhất là việc nâng cao ý thức và nhận thức cho
tất cả người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, phải được tiến hành toàn diện, trong một thời
gian dài, phát huy tối đa tính tiếp cận của phương tiện truyền thông, báo chí, đài, vô
tuyến.
và hữu cơ để người dân không vứt nhầm lẫn 2 loại rác và cũng để dễ dàng cho nhân
viên thu gom rác. Và cũng nên vẽ thêm một ô đối với rác tái chế.
- Viền ngoài mỗi ô nên có mầu sắc hay hình vẽ quy định loại rác giống với
màu của thùng rác để người khi vứt rác không bị nhầm lẫn.
- Việc vẽ ô vứt rác tại hè phố có thể làm xấu đôi chút mỹ quan đường phố
nhưng có lẽ là biện pháp hay khi chưa có được thùng rác ở nơi công cộng.
Hì
nh 2.3 Mô hình đổ rác tại khu dân cư
2.10.2.2. Xe thu gom rác
Xe thu gom rác cũng nên có 2 ngăn và màu sắc cũng giống với thùng rác tại
nhà.
Hoặc có 2 loại xe để thu gom rác, một loại thu gom rác hữu cơ, một loại thu gom
rác vô cơ .
Hình 2.4 Mô hình loại thùng rác 2 ngăn.
18
Nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi rác Khánh Sơn
bằng công nghệ hầm Biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất điện
2.10.2.3. Poster về danh sách các loại rác thải
Hình 2.5 Mô hình các loại rác thải.
19
Nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi rác Khánh Sơn
Ban đầu rác từ khu dân cư được đưa tới nhà máy và đưa xuống nhà tập kết nơi
có hệ thống phun vi sinh khử mùi cũng như ozone diệt vi sinh vật độc hại. Tiếp đến,
băng tải sẽ chuyển rác tới nhà máy phân loại rác thành rác hữu cơ và rác vô cơ. Ở
công đoạn này, rác hữu cơ và vô cơ được tiền xử lý, tiền tái chế nhằm giảm bớt ô
nhiễm như phá vỡ mọi loại bao gói và đi qua hệ thống tuyển từ (hút sắt thép và các
kim loại khác). Sau khi đã phân loại, băng chuyền sẽ chuyển rác vô cơ và hữu cơ tới
khâu tiền xử lý riêng.
Ở khâu phân loại rác thành rác vô cơ, rác được nung nóng đến nhiệt độ cao
khoảng 10000C để đảm bảo rác vô cơ nóng chảy hoàn toàn sẽ được đưa đến nhà
máy tạo sản phẩm tái chế, sau vài giờ gia nhiệt, bảo tồn rồi qua hệ thống thiết bị
định hình áp lực cao, sản phẩm có thể được tái chế cho ra các sản phẩm hữu ích như
chén nhựa đựng mủ cao su thiên nhiên, ống cống panel, cọc gia cố nền móng, ván
sàn, cốp pha, gạch block....
Ở khâu phân loại rác thành rác hữu cơ, một chủng vi sinh ASC đặc biệt, được
phun vào rác hữu cơ nhằm khử mùi hôi, làm chúng phân hủy nhanh và diệt một số
tác nhân độc hại. Sau đó, rác hữu cơ được đưa vào buồng ủ trong thời gian 7-10
ngày (tại đây ta có thể xây dựng hầm chứa để tạo ra Gas sử dụng khép kín trong dây
chuyền).
21
Nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi rác Khánh Sơn
bằng công nghệ hầm Biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất điện
Hình 3.2. Dây chuyền xử lý rác Seraphin cải tiến.
Buồng ủ có chứa một chủng vi sinh khác làm rác phân hủy nhanh cũng như
tiếp tục khử vi khuẩn. Rác biến thành phân vi sinh khi ra khỏi nhà ủ, tới hệ thống
làm khô, nghiền và sàng. Phân vi sinh trên qua bồn trộn, nghiền được bổ sung một
chủng vi sinh đặc biệt. Kết quả sau vài giờ ta có sản phẩm phân vi sinh đặc biệt. Sản
23
Nghiên cứu triển khai thí điểm mô hình xử lý rác thải hữu cơ tại bãi rác Khánh Sơn
bằng công nghệ hầm Biogas và sử dụng động cơ biogas để sản xuất điện
3.1.2.2. Tóm tắt công nghệ
Công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt CDW qui mô vừa và nhỏ là một sự kết hợp
giữa phương pháp quản lý và xử lý chất thải ngay ở gần nguồn thải của từng khu
vực dân cư. Với một số đặc điểm như sau:
- Xã hội hóa trong giải pháp thu gom, vận chuyển có định hướng. Tạo mối quan
hệ hữu cơ giữa chủ nguồn thải và đơn vị thu gom, xử lý rác thải.
- Kết hợp thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trong một tổ chức môi
trường (doanh nghiệp tư nhân hay nhà nước) với qui mô vừa và nhỏ. Rút ngắn cự ly
giữa các điểm tập kết đến khu xử lý. Hạn chế phát tán ô nhiễm và chi phí vận
chuyển rác thải.
- Công nghệ và thiết bị phân loại, xử lý rác thải tinh gọn. Bố trí hợp lý, liên kết
nhiều thiết bị trong không gian hình tháp. Hạn chế đến thấp nhất ô nhiễm thứ cấp
(mùi hôi, nước rỉ rác, chất thải rắn và khí thải) tại nơi xử lý, ít tốn diện tích và rút
ngắn khoảng cách giới hạn với khu vực dân cư.
- Đặt trọng tâm vào các công nghệ xử lý môi trường. Chuẩn hóa ẩm độ rác thải
đầu vào. Phân loại các thành phần tái chế, tái sử dụng với độ lẫn tạp chất rất thấp để
tạo nguyên liệu cho các cơ sở tái chế ở các địa phương. Tận dụng các tài nguyên từ
rác thải sinh hoạt.
- Kết hợp các giải pháp cơ khí và sinh học (MBT : Mechanic Bio Treatment)
trong toàn bộ công nghệ và thiết bị của dây chuyền xử lý rác thải sinh hoạt CDW.
Tạo ra phương pháp xử lý đơn giản, dể quản lý, vận hành. Tính an toàn kỷ thuật của
hệ thống thiết bị và lao động, môi trường cao.
3.1.2.3. Nguyên lý xử lý và tái chế các phế liệu thu hồi từ rác thải
Từ nguyên liệu là rác thải sinh hoạt, qua tiến trình phân loại và xử lý, tạo ra