ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------
TRẦN ĐĂNG KẾ
QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
RUỘNG ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG (1992 – 2008)
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM CẬN HIỆN ĐẠI
MÃ SỐ: 62.22.54.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2015
Download và đọc trọn cuốn sách tại:
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Võ Văn Sen
Phản biện:
Phản biện 1: PGS. TS. Đinh Huy Liêm
Phản biện 2: TS. Lê Hữu Phước
Phản biện 3: PGS. TS. Đặng Văn Đoài
7. Trần Đăng Kế (2011), Thể chế chính trị và dân chủ trong Hiến pháp, Tạp chí
Công an nhân dân, số kỳ 2, tháng 3, năm 2011tr.35-38.
8. Trần Đăng Kế (2011), Một số bất cập trong Luật đất đai năm 2003, Tạp chí
CAND, số 8-2011, tr.65, tháng 8 năm 2011.
9. Trần Đăng Kế (2011), Chủ nhiệm đề tài cấp cơ sở: Tác động của văn hóa,
giáo dục đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội của
Công an các tỉnh ĐBSCL-Thực trạng và giải pháp phát huy hiệu quả. Mã số:
SC.2011.T48.057.
10. Trần Đăng Kế (2012), Lịch sử xây dựng trường Đại học Cảnh sát nhân dân
tại phường tân Phong, quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
11. Trần Đăng Kế (2012), Công đoàn trường Đại học Cảnh sát nhân dân: Bài
học từ kinh nghiệm tổ chức, thực hiện phong trào thi đua “Lao động giỏi, Lao động
sáng tạo”, Tạp chí Bảo hộ lao động, số tháng 11 năm 2012, tr.39-40.
12. Trần Đăng Kế (2013), Tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho công
nhân các tỉnh ĐBSCL đáp ứng sự nghiệp CNH,HĐH, Tạp chí Lao động & Công đoàn,
số 521, tr.10, (kỳ 1 tháng 4 năm 2013).
13. Trần Đăng Kế (2013), Những thành tựu thể hiện sự phát triển của trường
Đại học Cảnh sát nhân dân sau 10 năm có quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tạp
chí KHGDCSND, số 38 tháng 9, năm 2013, tr.52-55.
14. Trần Đăng Kế (2014), Về việc giải quyết vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL từ 1992
đến 2003), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 461 (9-2014), tr.45-65.
15. Trần Đăng Kế (2014), Vài nét về tình hình quản lý và sử dụng ruộng đất ở
ĐBSCL (2003-2008), Tạp chí Lịch sử Đảng, số 286 (9-2014), tr.110.
16. Trần Đăng Kế (2014), Công tác thi đua khen thưởng và phong trào thi đua
dạy tốt, học tốt tại trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Tạp chí KHGDCSND, số 60
(4/2015), tr.39-45.
1
“Khoán 100” (1981) đến “Khoán 10” (1988) và việc thực hiện Luật đất đai 1993,
2003 còn nhiều lúng túng, chưa cụ thể để trao quyền sử dụng ruộng đất ngày càng
nhiều hơn cho nông dân, xây dựng kinh tế nông hộ thực sự là đơn vị tự chủ. Một
bộ phận cán bộ, cá nhân lợi dụng sự thiếu sót, sơ hở trong tổ chức thực hiện chính
sách ruộng đất để thao túng ruộng đất, làm giàu cho cá nhân, xây dựng lợi ích
nhóm; gây mâu thuẫn ở cơ sở; kích động, lôi kéo quần chúng tranh chấp đất đai,
khiếu kiện, tố cáo kéo dài ở tỉnh, thành ĐBSCL,...
Để góp phần giải quyết vấn đề ruộng đất trước đây cũng như từ năm 1992 đến
nay, nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu tổng kết lý luận và thực tiễn trên
các phương diện về tình hình ruộng đất, tình hình phát triển công nghiệp, nông
nghiệp, nuôi trồng thủy sản,... đặc biệt là những vấn đề liên quan đến sở hữu ruộng
đất, tranh chấp ruộng đất,... Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đã góp phần
cùng Đảng, Nhà nước và các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương ở ĐBSCL tháo
2
gỡ những khó khăn, để tiếp tục triển khai thực hiện chính sách ruộng đất thuận lợi
hơn. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nội dung còn riêng biệt, gắn liền với
từng tỉnh, thành địa phương, chưa có công trình nào nghiên cứu về quá trình giải
quyết vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL thời kỳ 1992 – 2008. Từ nhận thức về tầm quan
trọng ĐBSCL Nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Quá trình giải quyết vấn đề ruộng
đất ở Đồng bằng sông Cửu Long (1992 - 2008)” để làm luận án tiến sĩ, chuyên
ngành Lịch sử Việt Nam.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Luận án hướng tới mục đích làm rõ quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất ở
ĐBSCL từ năm 1992 đến 2008, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc
giải quyết vấn đề ruộng đất nói chung và việc giải quyết vấn đề ruộng đất ở
ĐBSCL nói riêng.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
3
Các bài viết liên quan đến người Khmer ở ĐBSCL, như Ngô Đức Thịnh:
“Người Khmer ĐBSCL là thành viên của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”,
(1984); GS. Mạc Đường: “Vấn đề dân cư và dân tộc ở ĐBSCL vào những năm đầu
thế kỉ XX” (1982),...
Thứ ba, những công trình nghiên cứu về vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL trong
thời gian gần đây có các công trình sau: GS, TS. Phan An: “Một số vấn đề kinh tế xã hội vùng nông thôn Khmer ĐBSCL”, “Vấn đề Dân tộc học ở ĐBSCL” (1981)
và “Vài nét về ruộng đất nông thôn của người Khmer ở ĐBSCL”, trong “Sưu tầm
Dân tộc học 1979” (1980); Phương Ngọc Thạch: “Những biện pháp thúc đẩy công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL; Nguyễn Văn
Luật:“Suy nghĩ về tích tụ ruộng đất ở ĐBSCL” (2007); Lê Du Phong:“Hộ nông
dân không đất và thiếu đất ở ĐBSCL” (1998); Phạm Thị Cầm - Vũ Văn Kỷ Nguyễn Văn Phúc: “Kinh tế hợp tác xã trong nông nghiệp ở Việt Nam” (2003);
Hoàng Liên: “Một dạng kinh tế hàng hóa ở nông thôn” (1980); Phạm Bảo
Dương:“Xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp trong nông nghiệp nông
thôn” (2004); Trần Đăng Kế: luận văn thạc sĩ “Vấn đề tranh chấp đất đai sản xuất
của đồng bào Khmer ở ĐBSCL 1988 - 2006”; TS Nguyễn Văn Nghệ: đề tài khoa
học cấp Bộ “Giải quyết tranh chấp đất đai với vấn đề đảm bảo an ninh trật tự ở
ĐBSCL - Thực trạng và giải pháp”; Trần Đăng Kế: “Về việc giải quyết vấn đề
ruộng đất ở ĐBSCL từ 1992-2003”,tạp chí Nghiên cứu lịch sử, 9-2014; “Vài nét
về tình hình quản lý và sử dụng ruộng đất ở ĐBSCL (2003-2008)”, tạp chí Lịch sử
Đảng, 9-2014; PGS, TS Trần quốc Toản: “Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai – Lý
luận và thực tiễn; Chính sách ruộng đất ở nông thôn” (KX – 08 – 02), thuộc
chương trình khoa học nhà nước Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn
(KX-08), giai đoạn 1991 - 1995.
Nhìn chung, các công trình khoa học nghiên cứu về ĐBSCL có liên quan đến
vấn đề ruộng đất được công bố ở các khía cạnh khác nhau từ năm 1992 đến năm
2008 rất phong phú, là nguồn tư liệu quan trọng định hướng cho luận án.
Kế thừa thành quả nghiên cứu khoa học của TS Lâm Quang Huyên về “Cách
4.1. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất trong thời kỳ lịch sử hiện
đại là công việc hết sức khó khăn, khi nhiều vấn đề lịch sử, vấn đề lý luận chưa
được tổng kết đánh giá đúng mức. Do đó, để nghiên cứu luận án áp dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu khác nhau: phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng CSVN về vấn đề ruộng đất, vấn đề
nông thôn, nông dân; phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic để nghiên cứu các
vấn đề cụ thể trong quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất qua thực hiện Luật đất đai
năm 1993, 2003 và các Nghị quyết của Đảng, Nhà nước; phương pháp tổng hợp,
phương pháp thống kê để tổng hợp đánh giá những đặc điểm, những vấn đề có tính
quy luật trong giải quyết vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL.
Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn, nhằm rút ra
những ưu điểm, hạn chế trong chính sách ruộng đất thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, cũng như các giải pháp đã được thực hiện trong giải quyết về vấn đề ruộng
đất ở ĐBSCL từ 1992 đến 2008.
4.2. Nguồn tài liệu sử dụng
Nguồn tài liệu chính sử dụng gồm các tài liệu điều tra, báo cáo, lưu trữ ở các
cơ quan lãnh đạo, quản lý và lưu trữ của Đảng, Nhà nước như văn kiện của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng, Văn phòng Chính phủ, các Ban của Trung ương
Đảng như Ban Tuyên giáo, Tổng cục Thống kê, các báo cáo tổng kết, báo cáo
chuyên đề, tài liệu lưu trữ của Tỉnh ủy, Thành ủy và Ủy ban nhân dân, các sở ban
ngành, đặc biệt là sở thống kê của tỉnh, thành ĐBSCL,...
Bên cạnh nguồn tài liệu nói trên, luận án còn kế thừa các công trình nghiên
cứu khác, để tham khảo, đối chiếu đảm bảo tính chính xác, đó là những tác phẩm,
đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, những bài viết đăng
trên các tạp chí chuyên ngành.
5. Những luận điểm chính và đóng góp mới của luận án
Để thực hiện nội dung luận án, những luận điểm chính cần giải quyết:
- Để giải quyết tốt vấn đề ruộng đất, thì chính sách ruộng đất phải được thể
hiện bằng luật, đó là cơ sở khoa học cho quá trình giải quyết.
- Luận án tổng hợp và cung cấp những tư liệu khoa học phục vụ cho công tác
nghiên cứu và giảng dạy liên quan đến ruộng đất ở ĐBSCL.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung luận án gồm 3 chương, 9 tiết.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, LỊCH SỬ, KINH TẾ - XÃ HỘI Ở ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT
GIAI ĐOẠN TRƯỚC 1992
1.1. Điều kiện tự nhiên, dân cư và quá trình khai phá ĐBSCL
1.1.1. Điều kiện tự nhiên ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện nay gồm có 12 tỉnh và một thành
phố: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh,
Vĩnh Long, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ. Có
diện tích tự nhiên gần 40.602,3km2, chiếm 12,8% diện tích cả nước, dân số trên
6
17.695 người. Có đường biên giới Tây Nam giáp Vương quốc Campuchia. Phía
Đông giáp biển Đông với đường biển dài trên 700 km với khoảng 360.000 km2 khu
vực đặc quyền kinh tế phía Nam, đất sử dụng cho nông nghiệp 26.500km2; đất phù
sa chưa được khai thác chiếm khoảng 67 vạn ha. ĐBSCL có hai hệ thống sông
chính: hệ thống sông Cửu Long (sông MêKông) dài 4.200km và sông Vàm Cỏ.
ĐBSCL có hai mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch và mùa khô từ
tháng 11 hàng năm đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ bình quân trong năm vào
khoảng 26-27, lượng mưa trung bình hàng năm từ 1500 - 1900mm,...
ĐBSCL có hệ sinh thái tự nhiên rất độc đáo, đó là hệ sinh thái rừng ngập
nước ngọt (Vườn quốc gia Tam Nông, rừng Trà Sư, vùng Đồng Tháp Mười), và
1.1.3. Sơ lược lịch sử phát triển ĐBSCL
Công cuộc định cư khai phá đất đai ở ĐBSCL, qua các tư liệu sử học, khảo cổ
học, địa lý cho thấy người Khmer có mặt ở nơi này từ rất sớm. Nhưng qua các di
7
tích để lại, thì sự xuất hiện của con người ở đầu Công nguyên lại gắn liền với
Vương quốc Phù Nam từ thế kỷ I đến thế kỷ VI, điều đó cho thấy cư dân Phù Nam
có mặt ở đây trước người Khmer. Những dấu tích được khai quật ở Óc Eo (Ba Thê
- An Giang), nền Chùa (Kiên Giang), đã minh chứng điều đó. Song trong quá trình
phát triển và biến mất của Vương quốc Phù Nam thì còn nhiều vấn đề chưa được
làm sáng tỏ. Đến thế kỷ XVII, số dân ở Nam Bộ có khoảng 20 vạn người, trong đó
người Khmer cổ chưa phải là đa số, công cuộc khai phá ĐBSCL, ta thấy có công
lao của người Khmer, nhưng bên cạnh đó còn có công lao to lớn của người Việt và
người Hoa, nhất là người Việt đã đến chinh phục vùng đất này từ rất sớm. Người
Khmer và người Hoa, người Việt tới ĐBSCL lập nghiệp, khai khẩn đất hoang
chính họ đã cùng với người Khmer lao động đẩy lùi rừng hoang, đầm lầy, chinh
phục đất bồi ven biển,... để ổn định cuộc sống mới. Đặc biệt, khi nhà Nguyễn thực
thi chính sách mở rộng bờ cõi xuống phía Nam thì làn sóng người Việt đến
ĐBSCL khai hoang lập ấp ngày càng nhiều. Chúa Nguyễn đã thực thi công cuộc
khai phá đất đai ở ĐBSCL với quy mô và tổ chức ngày càng lớn và về cơ bản đến
năm 1757, những phần đất còn lại ở ĐBSCL đã thuộc quyền cai quản của Chúa
Nguyễn. Chúa Nguyễn chia vùng đất Nam bộ thành 3 trấn: Biên Hòa, Gia Định,
Hà Tiên. Đến đời Minh Mạng, nhà Nguyễn chia thành 6 tỉnh gọi là Nam kỳ lục
tỉnh: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.
1.2. Tình hình ruộng đất ở ĐBSCL trước năm 1992
1.2.1. Giai đoạn trước năm 1954
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, ĐBSCL trở thành "thuộc địa"
của thực dân Pháp. Mặc dù Nam kỳ được Pháp thiết lập chế độ thuộc địa nhưng
Thiệu. Ngô Đình Diệm thực hiện Chương trình cải cách điền địa để khôi phục
quyền lợi của giai cấp địa chủ, mở đường cho việc thiết lập chế độ thực dân kiểu
mới của Mỹ, thì luật "Người cày có ruộng" của Nguyễn Văn Thiệu lại là bước mở
đường cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản vào nông thôn miền Nam nói chung
và ĐBSCL nói riêng.
1.2.3. Giai đoạn 1975 - 1985
Sau năm 1975, để tổ chức cho nông dân sản xuất, thực hiện các Nghị quyết số
24, 254 của Trung ương Đảng các cấp ủy Đảng, chính quyền ở ĐBSCL đã tổ chức
đánh giá toàn diện tình hình sử dụng ruộng đất. Từ thực tiễn tình hình, các cấp
chính quyền ĐBSCL triển khai chủ trương giữ nguyên canh, thực hiện điều chỉnh
ruộng đất, cấp đất cho các hộ chưa có đất hoặc thiếu đất canh tác.
Thực hiện Chỉ thị 236-CT/TW, tháng 9-1976 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng về giải quyết vấn đề ruộng đất ở miền Nam, tháng 9-1976 Chính phủ có
Quyết định số 188-CT/CP về xóa bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các
hình thức bóc lột thực dân phong kiến ở miền Nam. Chủ trương này đã góp phần
đẩy nhanh tiến độ điều chỉnh ruộng đất ở miền Nam nói chung và ĐBSCL nói
riêng. Quỹ đất dùng để điều chỉnh là từ ruộng đất thu hồi ruộng vắng chủ, ruộng
đất của những chủ hộ có nhiều đất và một phần từ đất chưa sử dụng, đất khai
hoang; tập trung ở các tỉnh Tiền Giang, Hậu Giang, Minh Hải. Việc điều chỉnh
ruộng đất đạt được một số kết quả nhất định, phù hợp với đường lối cách mạng của
Đảng đề ra là “người cày có ruộng”; song ở nông thôn ĐBSCL tỷ lệ hộ nông dân
không có ruộng và thiếu ruộng đất sản xuất vẫn chiếm tỷ lệ cao, ở nhiều vùng còn
đến 20 - 30% số hộ nông dân không có ruộng đất, ở một số nơi còn duy trì bóc lột.
Để đẩy mạnh việc giải quyết vấn đề ruộng đất ở Nam bộ, Bộ Chính trị, Trung
ương Đảng, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 75-CT/TƯ, ngày 15-11-1978; Quyết
định số 319-CP, ngày 14-12-1978; Chỉ thị 100-CT/TƯ, ngày 13-01-1981 về khoán
sản phẩm trong nông nghiệp và Chỉ thị 19, tháng 5-1983 về điều chỉnh ruộng đất
và cải tạo nông nghiệp Nam bộ.
Tính đến năm 1982, qua 6 năm (1976-1982) thực hiện điều chỉnh ruộng đất,
các tỉnh Nam bộ đã rút trên 270.000ha ruộng đất, gần bằng 1/10 diện tích canh tác
Ngày 29-12-1987, Quốc hội thông qua Luật đất đai 1987 đã tháo gỡ những
vướng mắc trong mối quan hệ giữa chế độ quản lý đất đai với việc phát triển sản
xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, việc Luật quy định nghiêm cấm mua, bán, kể cả
quyền chuyển nhượng đã trở thành rào cản quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất
vào những hộ có khả năng và kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa.
Mặc dù có sự chỉ đạo rất chặt chẽ của Trung ương và địa phương trên thực tế ở
nông thôn ĐBSCL vẫn diễn ra quá trình tích tụ; đó là quá trình chuyển nhượng
ruộng đất giữa các hộ nông dân với nhau diễn ra khá phổ biến. Tình hình chuyển
nhượng ruộng đất, cho thấy nền kinh tế hàng hóa đã tác động mạnh đến sản xuất
nông nghiệp ở ĐBSCL.
Việc chuyển nhượng ruộng đất đã tạo nên những tiền đề mới, nông dân không
còn bị trói chặt vào ruộng đất, có thể chuyển nhượng, chuyển đổi ngành nghề phù
hợp với khả năng, làm cho sản xuất nông thôn sống động. Do giá trị của đất tăng
cao, thị trường bất động sản ĐBSCL xuất hiện với việc nhiều người có nhu cầu
mua đất và cũng có nhiều người muốn sang nhượng đất. Cơ cấu sở hữu ruộng đất
có sự thay đổi tăng - giảm, những hộ có khả năng tổ chức sản xuất nhận chuyển
nhượng, tăng diện diện tích, những hộ không có khả năng sản xuất chấp nhận
chuyển nhượng và một số hộ do khó khăn phải cầm cố. Số hộ có diện tích ruộng
đất (chiếm 72%); do thuê (15%); số hộ có ruộng đất giảm do chuyển nhượng, cầm
cố (chiếm 13%) và tập trung ở những vùng có đông đồng bào Khmer sinh sống.
Việc thay đổi quy mô về sở hữu ruộng đất thực chất là quá trình tích tụ ruộng đất
và đi cùng với nó là nhiều hộ nông dân chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp sang
làm các nghề dịch vụ, kinh doanh trong nông nghiệp (chuyển dịch nội bộ ngành);
nhiều hộ sau khi chuyển nhượng, cầm cố thì đi làm thuê. Sự phân tầng xã hội, sự
phân hóa giàu nghèo diễm ra mạnh mẽ.
Luật đất đai năm 1987 và khoán 100, thời gian đầu có phát huy tác dụng tạo
điều kiện cho người nông dân ĐBSCL phát triển sản xuất, tăng năng suất, sản
lượng. Sản lượng lương thực ĐBSCL không ngừng tăng đã góp phần quan trọng
giải quyết những khó khăn về lương thực của cả nước trong những năm (19821985). Trước nhưng những hạn chế của Luật đất đai năm 1987 và khoán 100 về
chính sách hạn điền dẫn đến nhiều cấp uỷ đảng ở địa phương đã chủ động chuyển
Chương 2
QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT Ở ĐBSCL GIAI ĐOẠN 1992-2002
2.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội ĐBSCL giai đoạn 1992- 2002
Từ năm 1992, cả nước thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc các khóa
VII, VIII, IX và đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, nhất là đổi mới về tư duy
kinh tế. Tận dụng những thế mạnh của vùng đất rộng lớn giàu tiềm năng, nhân dân
ĐBSCL đã tạo ra được một khối lượng sản phẩm to lớn về sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp và nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản. Sản xuất lương thực, năng suất,
sản lượng không ngừng tăng lên, tính chung cả giai đoạn ước đạt trên 16 triệu tấn,
bình quân một năm tăng thêm trên 1 triệu tấn. Nhiều tỉnh như An Giang, Hậu
Giang, Đồng Tháp đạt trên 1 triệu tấn/năm. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế hộ,
kinh tế trang trại, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài,... hợp
với quy luật và quy định của pháp luật đã tạo ra diện mạo mới trong nông thôn
ĐBSCL. Sự ra đời các khu công nghiệp, các điểm công nghiệp đã gắn công nghiệp
trực tiếp phục vụ nông nghiệp.
2.2. Luật đất đai 1993 và những vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL
2.2.1. Luật đất đai 1993 và chính sách ruộng đất của Đảng, Nhà nước
Luật đất đai năm 1993, các luật sửa đổi và chính sách kinh tế - xã hội ra đời
có sự kế thừa phát triển chính sách đất đai của cuộc Cách mạng ruộng đất mà Đảng
ta khởi xướng và lãnh đạo từ khi Đảng ra đời đến nay; đồng thời cụ thể hóa nội
dung chiến lược của Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH năm
1991. Nội dung quan trọng được luật quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ
trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, hộ gia đình và cá nhân
sử dụng ổn định lâu dài; Nhà nước giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất
để sản xuất”.
12
Thơ, tỉnh An Giang, Kiên Giang nơi có nhiều dự án đầu tư.
Hầu hết các tỉnh ĐBSCL công tác thu hồi đất được triển khai mạnh, phục vụ
cho nhu cầu xây dựng các dự án, công trình kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên,
quá trình thực hiện còn nhiều bất cập: giá bồi thường chưa hợp lý, quỹ nhà ở phục
vụ cho công tác tái định cư chưa đáp ứng được yêu cầu của người dân.
Đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ, quản lý các hợp đồng thuê đất, thống kê,
kiểm kê đất đai triển khai còn chậm, nhất là cấp GCNQSDĐ do tình hình tranh
chấp ruộng đất diễn ra khá phức tạp, nhất là các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cà
Mau, Tiền Giang.
2.3. Tranh chấp, khiếu kiện về quản lý và sử dụng đất đai ở ĐBSCL giai
đoạn 1992 - 2002
2.3.1. Tình hình tranh chấp, khiếu kiện
Các dạng tranh chấp đất đai trong giai đoạn 1992 - 2002 ở ĐBSCL rất đa
dạng, phức tạp, đan xen lẫn nhau. Về cơ bản có thể được chia làm hai loại chủ yếu:
13
các tranh chấp mà trong đó cần xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp
đất đang tranh chấp; tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã sử dụng đất
hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện quyền và
nghĩa vụ của mình.
Từ công tác thanh tra, kiểm tra việc thi hành chính sách pháp luật đất đai các
địa phương ĐBSCL đã phát hiện nhiều dạng vi phạm pháp luật đất đai, trong đó
các vi phạm phổ biến nhất là: giao đất trái thẩm quyền, bán đất thu tiền trái pháp
luật, chuyển nhượng và cho thuê đất trái phép, sử dụng đất không đúng mục đích,
chuyển mục đích sử dụng đất tùy tiện, lấn chiếm đất đai, để đất hoang hóa không
sử dụng trong thời gian dài, người sử dụng đất không thực hiện các nghĩa vụ tài
chính đối với Nhà nước,... Các sai phạm chưa được xử lý kiên quyết, hình thức
“phạt cho tồn tại” phổ biến ở ĐBSCL, không những không ngăn chặn vi phạm mà
canh, cào bằng, điều chỉnh không hợp lý; đã giao lại cho chủ cũ với tổng diện tích
14
26 vạn ha. Trường hợp chủ mới tiếp tục sử dụng thì được bồi hoàn “Hoa lợi ruộng
đất” cho chủ cũ. Việc thực hiện điều chỉnh chủ yếu bà con nông dân thương lượng,
thuyết phục, thỏa thuận với nhau để đôi bên cùng có lợi. Tăng cường công tác
thanh tra, xử lý vi phạm chính sách, pháp luật về đất đai và giải quyết các khiếu
kiện, tố cáo, tranh chấp đất đai. Tập trung thanh tra theo quyết định 273/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ về quản lý đất đai.
2.4. Tác động của chính sách ruộng đất đối với phát triển kinh tế - xã hội
ở ĐBSCL giai đoạn 1992 - 2002
2.4.1. Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Chính sách pháp luật đất đai là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội ĐBSCL
phát triển nhanh. Trong nông nghiệp, nhờ chính sách thừa nhận hộ nông dân là một
đơn vị kinh tế tự chủ và nhờ chính sách giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá
nhân sử dụng ổn định, lâu dài nên nông nghiệp có điều kiện để tăng vượt bậc về
năng suất và sản lượng. Năng suất đạt trên 45 tạ/ha, sản lượng toàn vùng đạt trên
16 triệu tấn lương thực. Giá trị sản xuất trên một diện tích đất nông nghiệp ở
ĐBSCL năm 2000, đạt trên 20 triệu đồng/ha, tăng 55% so với năm 1990. ĐBSCL
đã góp phần quan trọng bình ổn lương thực trong cả nước và góp phần xuất khẩu
gạo, nông sản hàng đầu trên thế giới. Nhiều tỉnh ĐBSCL đạt trên 1 triệu tấn năm
như An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, đời sống người nông dân được cải thiện
đáng kể.
Tuy nhiên, ĐBSCL còn một số tồn tại liên quan đến đất đai đó là: một bộ
phận nông dân thiếu đất sản xuất, tình hình di dân tự phát vẫn tiếp diễn, các địa
phương lúng túng trong việc chuyển đổi nghề nghiệp cho các hộ thiếu đất sản xuất.
2.4.2. Hình thành quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất
Luật đất đai năm 1993 đã phần nào “cởi trói” cho nông dân ĐBSCL. Song
vấn đề ruộng đất được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương ở ĐBSCL quan
tâm, là nguồn lực là yếu tố “động” nhất trong triển khai thực hiện các chính sách
kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của Đảng, Nhà nước ở vùng đất này. Giải
quyết vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL đã được xem xét cụ thể những yếu tố tác động về
vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, những vấn đề tồn tại do lịch sử; những nguyên
nhân về chính trị - xã hội mới phát sinh, nhất là vấn đề nông nghiệp, nông thôn,
nông dân và theo hướng gắn với pháp luật đất đai. Trong nông nghiệp việc tích tụ,
tập trung ruộng đất, bố trí cơ cấu kinh tế vùng, cơ cấu cây trồng, vật nuôi; phát
triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hộ đã
tạo bước chuyển biến cho các liên kết sản xuất theo hình thức mới đó là hợp tác xã
dịch vụ, xí nghiệp, công ty trong sản xuất nông nghiệp theo hướng làm ăn lớn
XHCN, có điều kiện áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư cơ giới hóa, nâng cao năng
suất, hiệu quả sản phẩm hàng hóa đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Giai đoạn từ năm 1992-2002, có nhiều tranh chấp, khiếu kiện, tố cáo về ruộng
đất ở các tỉnh ĐBSCL. Điều đó cho thấy chính sách và pháp luật đất đai đúng đắn
còn phải có một cơ chế quản lý phù hợp, tình hình tranh chấp ruộng đất giai đoạn
này không chỉ nói lên còn có những bất cập trong cơ chế quản lý ruộng đất, cơ chế
quản lý nông nghiệp mà còn là những bất cập trong thực hiện các chính sách xã hội
và mối quan hệ công dân liên quan đến ruộng đất.
Chương 3
QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT Ở ĐBSCL GIAI ĐOẠN 2003-2008
3.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội ĐBSCL giai đoạn 2003-2008
Đây là Giai đoạn ĐBSCL cùng cả nước thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX, X, thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020. Với sự quan
tâm của Đảng, Chính phủ về đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy
sản; xây dựng vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL; có sự đầu tư của Nhà nước và các
nguồn đầu tư khác để phát triển cơ sở hạ tầng ĐBSCL góp phần phát triển toàn
diện về kinh tế - xã hội. Tình hình đời sống của các hộ nông dân ĐBSCL không
xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; ưu đãi đầu tư, đào tạo nghề,
phát triển ngành nghề, tạo việc làm cho lao động nông thôn phù hợp với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sử dụng đất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đổi mới toàn diện về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, về giao đất, cho
thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
Luật đất đai 2003 triển khai thực hiện sớm có những bất cập so với các luật
khác và các chính sách kinh tế xã hội nên năm 2009, Quốc hội đã ban hành Nghị
quyết Luật số 34/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung điều 126 của Luật nhà ở và điều 121
của Luật đất đai.
3.2.2. Những vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL giai đoạn 2003-2008
Từ năm 2003 đến 2008, ở ĐBSCL có sự biến động lớn về cơ cấu diện tích
ruộng đất, tổng diện tích các loại đất toàn vùng về cơ bản không thay đổi, nhưng
có sự biến động cục bộ do phân loại mới (gồm 3 nhóm: nhóm đất nông nghiệp;
nhóm đất phi nông nghiệp; nhóm đất chưa sử dụng), do phương pháp thống kê
mới, điều tra chính xác hơn, do bổ sung diện tích đất khai hoang phục hóa,...
Các tỉnh có diện tích đất nông nghiệp cao: Long An, Kiên Giang, Cà Mau, An
Giang. Các tỉnh có diện tích đất trồng cây hàng năm cao: Kiên Giang, An Giang,
Long An, Đồng Tháp, Sóc Trăng. Các tỉnh có diện tích đất trồng lúa cao: Kiên
Giang, An Giang, Đồng Tháp, Long An, Sóc Trăng. Các tỉnh có diện tích đất trồng
cây lâu năm cao: Bến Tre, Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau. Các tỉnh có diện tích
đất lâm nghiệp cao: Cà Mau, Kiên Giang, Long An. Các tỉnh có diện tích đất nuôi
trồng thủy sản cao: Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bến Tre.
17
Vấn đề lớn trong giải quyết vấn đề ruộng đất thời kỳ 2003 - 2008 là sự chu
chuyển các loại đất sang đất phi nông nghiệp phù hợp với quá trình đô thị hóa, phát
triển các dự án phục vụ kinh tế - xã hội. Đất phi nông nghiệp chủ yếu là đất ở kế
đến là đất chuyên dùng; đất tôn giáo, tín ngưỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất
tăng các vụ tranh chấp khiếu kiện, tố cáo phức tạp trên địa bàn, khi công tác xây
dựng cơ sở hạ tầng được đẩy mạnh, các dự án có sử dụng diện tích đất lớn tiếp tục
được đầu tư.
Nguyên nhân và nội dung dẫn đến tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, tố cáo
giai đoạn 2003 đến 2008 diễn biến phức tạp được các cấp chính quyền ĐBSCL xác
định: Do nhận thức của nhân dân về chính sách pháp luật đất đai chưa thấu đáo,
nhiều nội dung pháp luật đất đai sau khi triển khai thực hiện phát sinh những điểm
chưa phù hợp, còn bất cập với các luật khác; các chính sách kinh tế - xã hội mới
ban hành và có những nguyên nhân mới phát sinh như việc lợi dụng chức vụ,
18
quyền hạn để tham nhũng, trục lợi trong thu hồi đất, lợi dụng chính sách thu hồi
đất để bao chiếm; tố cáo chính quyền địa phương giao đất trái thẩm quyền, bồi
thường không đủ diện tích đất, xét duyệt để bồi thường không đúng loại đất; tố cáo
chính quyền địa phương quản lý sử dụng đất công ích sai mục đích; tố cáo cán bộ
nhũng nhiễu, bao che, bồi thường đất không đúng đối tượng,... cơ chế mới về quản
lý tài nguyên đất, về quản lý nông nghiệp được hình thành chưa đồng bộ,...
Trong các vụ tranh chấp, khiếu kiện phát sinh mới đứng đầu là đơn khiếu
kiện có sự liên kết xã, huyện tổ chức theo từng đoàn, nhóm người mang theo cờ,
băng rôn kéo đến trụ sở cơ quan Đảng, Nhà nước và có những hành vi vượt quá
quyền khiếu kiện, tố cáo như: khiếu kiện dài ngày, đeo bám, nằm lỳ, gây mất trật
tự công cộng, cản trở giao thông, chống người thi hành công vụ, lập ra các tổ chức,
hội nhóm trái phép, rào đường, tổ chức canh gác cản trở các đoàn công tác, bất hợp
tác kiểm tra,... Điển hình ở Cà Mau là vụ tranh chấp lấn chiếm bãi bồi ở huyện
Ngọc Hiển, vụ lấn chiếm đất nông trường 402 huyện Trần Văn Thời, vụ cản trở
giao thông đòi đền bù giải phóng mặt bằng ở huyện Cái Nước. Ở Sóc Trăng vụ các
sư sãi đòi lại đất hiến của các đền, chùa sau giải phóng. Ở Kiên Giang, Trà Vinh
tranh chấp, khiếu kiện về đất khai hoang lấn biển được quy hoạch xây dựng các dự
tranh chấp được các cấp chính quyền tích cực giải quyết nhưng còn nhiều vụ tồn
đọng nhất là Vĩnh Long và Tiền Giang.
3.4. Tác động của chính sách ruộng đất đối với phát triển kinh tế - xã hội
ở ĐBSCL giai đoạn 2003-2008
3.4.1. Chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế
ĐBSCL cung cấp khoảng 50% sản lượng lúa, 52% sản lượng thủy sản, 70%
sản lượng trái cây của cả nước hàng năm. Với những lợi thế trên, ĐBSCL là vùng
có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp nông thôn, đặc biệt là công nghiệp
chế biến nông sản, chế biến thủy sản phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Công thương tại hội nghị ngành Công thương các
tỉnh ĐBSCL năm 2009 được tổ chức tại Tiền Giang vào cuối tháng 10/2009, thì
tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở ĐBSCL còn chậm, nông nghiệp chiếm trên
40% cơ cấu GDP, trong khi bình quân cả nước chỉ có trên 20%,...
3.4.2. Tác động mạnh mẽ đến kinh tế - xã hội ở ĐBSCL giai đoạn 2003-2008
Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng, Nhà nước giai đoạn
2003-2008 đã có tác động toàn diện đến kinh - xã hội ĐBSCL. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế của vùng giai đoạn 2001- 2005 là 10,5%, giai đoạn 2006 - 2010 là 12%,
trung bình giai đoạn 2001 - 2010 vào khoảng 11% (Trung bình của cả nước giai
đoạn 2001 - 2010 là 7,3%,). Chính sách ruộng đất thời kỳ 2003-2008 đã có tác
động mạnh kinh tế vùng, kinh tế trang trại, kinh tế hộ; đồng thời góp phần điều
chỉnh mô hình kinh tế nông trường.
Vùng ĐBSCL có thể chia ra thành 3 vùng, (1) vùng ven biển; (2) vùng đệm
giữa thành phố Hồ Chí Minh và ĐBSCL và (3) thành phố Cần Thơ và các tỉnh liền
kề1, thì thấy rằng vùng thứ 3 tăng trưởng nhanh hơn từ năm 2007, khi thành phố
Cần Thơ được tách ra thành đô thị trực thuộc Trung ương và được đầu tư thêm về
cơ sở hạ tầng. Ngược lại, vùng 1 gồm các tỉnh ven biển tăng trưởng khá cao từ năm
1996 - 2003 thì sau đó tăng trưởng chậm hơn, còn các tỉnh vùng 2 thuộc khu vực
tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh và vùng ĐBSCL luôn có tốc độ tăng trưởng
chậm thời gian qua.
Các khu công nghiệp bắt đầu hình thành phát triển ở vùng ĐBSCL khoảng từ
mô hình “VAC” hoặc “VAC” cải tiến, quy mô nhỏ, phát triển tự phát, sử dụng lao
động không nhiều, chủ yếu lao động gia đình, chưa hoàn toàn gắn sản xuất với chế
biến và tiêu thụ sản phẩm.
Kinh tế nông hộ, với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ trong hoạt động sản
xuất theo cơ chế thị trường, các hộ nông dân ở ĐBSCL đã và đang tích cực đẩy
mạnh phát triển sản xuất một cách năng động, đa dạng phù hợp với năng lực và
điều kiện cụ thể của từng hộ, tạo ra một thị trường hàng hóa phong phú và dồi dào.
Quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL còn gắn với việc tổ chức lại
sản xuất của các nông trường. Hiện nay ở ĐBSCL có 17 nông trường, các nông
trường chủ yếu do các đơn vị quân đội quản lý sản xuất kém hiệu quả đã được sắp
xép lại và tiếp tục được sắp xếp lại.
Tiểu kết chương 3
Từ năm 2003-2008, ở ĐBSCL có sự biến động lớn về diện tích đất do việc
phân loại đất thành 3 nhóm theo Luật đất đai năm 2003. Cùng với quy hoạch sử
dụng đất các tỉnh ĐBSCL tập trung giao đất, lập hồ sơ quản lý sử dụng đất, cấp
GCNQSDĐ và giải quyết đơn thư khiếu kiện, tố cáo.
Giải quyết vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL thời kỳ từ năm 2003-2008 tuy còn có
chịu tác động của các yếu tố về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, những tồn tại
do lịch sử để lại,...Song đã có những yếu tố mới liên quan đến “vấn đề ruộng đất”,
đó là yêu cầu cấp thiết của phát triển nông nghiệp hàng hóa, vấn đề xây dựng nông
thôn mới,...
Hoạt động của các HTX theo mô hình liên kết sản xuất mới, chủ thể có liên
quan trực tiếp đến QSDRĐ đã có những chuyển biến tích cực. Nhiều HTX nông
nghiệp đã đóng vai trò tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cây trồng,
xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, góp sức xây dựng kết cấu hạ tầng,
củng cố quan hệ kinh tế nông thôn.
Việc phân loại đất đai thành 3 nhóm lớn có thuận lợi cho quản lý và nắm
được tình hình sử dụng đất đai, nhưng lại sớm bộc lộ những kẽ hở cho nạn tham
nhũng trong quản lý sử dụng đất đai, trục lợi thông qua chuyển đổi mục đích sử
dụng, nhất là khi quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, một phần diện tích đất
trở thành vùng trọng điểm sản xuất lương thực của cả nước, thực hiện thắng lợi 3
chương trình kinh tế lớn của Đảng.
Giai đoan 1992 - 2008, là thời kỳ tranh chấp và khiếu kiện đất đai nhiều và
diễn biến phức tạp. Trong quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất giai đoạn 1992 2008 cũng đã phát sinh nhiều vi phạm trong quản lý sử dụng ruộng đất và tình
trạng các hộ dân tranh chấp ruộng đất do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến
các khiếu kiện tăng, giảm phụ thuộc vào thời gian triển khai Luật đất đai năm
1993, 2003. Có thể nói đây là thời kỳ tranh chấp, khiếu kiện, tố cáo liên quan đến
đất đai phục vụ cho sản xuất diễn biến phức tạp trong lịch sử dân tộc cho đến nay
và diễn ra tập trung ở ĐBSCL; 100% tỉnh thành ở ĐBSCL có tranh chấp, khiếu
kiện về đất đai.
Quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất ở ĐBSCL giai đoạn 1992 - 2008, là
quá trình chủ động đẩy mạnh tổ chức lại sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội. Từ
năm 1978 - 1982 thực hiện chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa và hợp tác hóa
trong nông nghiệp, nông nghiệp ĐBSCL có những bước phát triển nhất định. Tuy
nhiên, mô hình hợp tác trong nông nghiệp những năm đầu sau ngày miền Nam
hoàn toàn giải phóng không phù hợp với tình hình ruộng đất ở ĐBSCL dẫn đến sự
tan rã trong những năm 1982 - 1986. Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng từ
năm 1986 - 1991, nông nghiệp ĐBSCL có bước phát triển mới với mô hình tổ