1
MỞ ĐẦU
Vấn đề ruộng đất ở đồng bằng Sông Cửu Long có tầm quan trọng đặc biệt
trong mối liên hệ mật thiết với vấn đề nông dân, nông dân và sản xuất nông
nghiệp, là cơ sở của sự biến đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội ở nông thôn. Giải
quyết đúng quy luật vận động của vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân tộc dân
chủ hay cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ có ý nghĩa chiến lược trong việc giải phóng
lực lượng sản xuất, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng ta đã giải quyết tốt yêu
cầu ruộng đất cho nông dân và để lại nhiều bài học kinh nghiệm hết sức quý báu.
Nhưng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa quá trình tiếp tục hoàn thành những
nhiệm vụ còn lại của cách mạng ruộng đất – chúng ta không kế thừa đúng kinh
nghiệm lịch sử trong việc giải quyết vấn đề ruộng đất nên đã dẫn đến nhiều tổn thất
cho đời sống kinh tế - xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long với mô hình tập thể hóa
nông nghiệp đã để lại hậu quả nặng nề: cơ cấu sở hữu ruộng đất của các nông hộ bị
xá trộn, biến động phức tạp, lực lượng sản xuất bị kìm hãm, sản xuất nông nghiệp
trì trệ, giảm sút.
Tuy nhiên, công cuộc “Đổi Mới” của Đảng sau Đại hội VI đã làm thay đổi
khá nhiều về vấn đề ruộng đất ở đồng bằng sông Cửu Long mang tính tích cực. Đại
hội đã chủ trương mạnh dạn loại bỏ mô hình sản xuất cũ, xây dựng tiền đề cho mô
hình sản xuất mới đã tạo ra những động lực tích cực giải phóng lực lượng sản xuất,
thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển. Kể từ thập niên 90 cho đến nay, vấn đề
ruộng đất ở đồng bằng sông Cửu Long luôn là vấn đề lịch sử đặt ra cho đồng bằng
này trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Việc xác định “Vấn đề ruộng đất ở đồng bằng sông Cửu Long” thời kỳ hiện
đại sau giải phóng đến nay để nghiên cứu là đi vào một trong những vấn đề cốt lỗi
1
2
trong lịch sử phát triển của đồng bằng này, có ý nghĩa khoa học sâu xa, góp phần
vào việc làm sáng tỏ lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của đồng bằng sông Cửu
Long và lịch sử Việt Nam hiện đại.
nông và trung nông để chia cấp cho 890 hộ nông dân nghèo thiếu ruộng và không
có ruộng theo mức bình quân 2 công/người. Tính chung đến cuối năm 1977, tỉnh
Hậu Giang đã rút được 91.050ha ruộng đất, bao gồm 88.352ha của địa chủ, 178ha
của ngụy quân, ngụy quyền và 2.578ha của phú nông – tư sản nông thôn và đem
chia cấp cho 31.363 hộ nông dân không có và thiếu đất sản xuất với diện tích
63.169ha. Ở Bến Tre thi hành quyết định 254-BCT, Chỉ thị 235-BBT, Quyết định
188 của Hội đồng bộ trưởng về việc “xóa bỏ triệt để những tàn tích chiếm hữu
ruộng đất và các hình thức bóc lột phong kiến thực dân”, Bến Tre đã đề ra kế
hoạch 05/1977, Chỉ thị 04/1978 để giải quyết vấn đề ruộng đất. Tính đến cuối năm
3
4
1978, Bến Tre đã tiến hành đo đạc ruộng đất, điều tra số địa chủ để rút bớt ruộng
đất.
Trên thực tế, các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long đang trong quá
trình thực hiện điều chỉnh ruộng đất. Việc điều chỉnh này diễn ra ở nhiều nơi có sự
nhanh, chậm khác nhau. Mặc dù vậy, quá trình điều chỉnh ruộng đất ở Nam Bộ nói
chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng cũng đạt được kết quả nhất định.
Tính đến 1978, đã có 10% số hộ nông dân không có hoặc thiếu đất sản xuất được
chia cấp 191.931ha. Tuy kết quả đạt được là như vậy nhưng giải quyết vấn đề
ruộng đất ở Nam Bộ gặp phải nhiều khó khăn.
Bước sang năm 1980, việc điều chỉnh ruộng đất ở nông thôn Nam Bộ
gặp nhiều khó khăn, trở ngại khó có thể kết thúc nhanh chóng theo đúng tiến độ mà
Trung ương đã đề ra. Ngay tại thời điểm đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
của Đảng diễn ra và đề ra những chính sách nhằm khắc phục những khúc mắc khó
khăn còn đang đọng lại trong việc giải quyết vấn đề ruộng đất ở Nam Bộ. Từ sau
năm 1980, các địa phương Nam Bộ tiếp tục điều chỉnh ruộng đất, thực hiện
“nhường cơm sẻ áo”, giao khoán ruộng đất cho người lao động. Kết quả điều tra
của Viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh ở 4 xã thuộc tỉnh Hậu
Giang, An Giang, Minh Hải vào tháng 4 và 5 năm 1981 cho thấy: có 30,6% số hộ
đã nhường bớt số ruộng đất của mình, trong đó có 15% số hộ trung nông lớp dưới
nước đã chủ trương điều chỉnh ruộng đất trong nông thôn Nam Bộ, giải quyết
những bất hợp lý về ruộng đất, xem đây là công tác hết sức quan trọng nhằm hoàn
thành những nhiệm vụ còn lại của cách mạng ruộng đất – thuộc phạm trù của cách
mạng dân tộc dân chủ-để chuyển sang cuộc cách mạng mới: cách mạng xã hội chủ
nghĩa trên toàn quốc.
5
6
Sự xáo trộn ruộng đất ở đồng bằng sông Cửu Long diễn ra mạnh mẽ
kể từ sau năm 1980 trở đi khi hầu hết các địa phương tiến hành giao khoán ruộng
đất một cách đại trà và bình quân hóa. Việc chia ruộng đất bình quân theo nhân
khẩu lao động trong xã, thực chất mang tính “cào bằng” đã để lại nhiều tác hại.
Diện tích ruộng đất bị phân tán, manh mún, quá trình tích tụ tập trung ruộng đất
được hình thành rất lâu trông nông thôn Nam Bộ theo hướng sản xuất hàng hóa bị
phá vỡ. Phổ biến ở nhiều nơi đã giao khoán một cách đại trà, nhiều gia đình đã
thoát ly nông nghiệp vẫn nhận được ruộng đất khoán. Có một số hộ rời bỏ nông
thôn ra thành thị sinh sống rất lâu vẫn quay về nông thôn để nhận phần ruộng được
chia cấp sau đó cho thuê, trở ra thành thị làm nghề cũ. Có nơi còn chia ruộng đất
cho những hộ hoạt động sản xuất kinh doanh,…ngoài nông nghiệp. Ở những vùng
đất rộng, người thưa như An Giang, Đồng Tháp,…quá trình điều chỉnh ruộng đất
đã cắt đất xâm canh-vốn là đặc thù ở vùng này của nông dân để cấp lại cho những
hộ không đất.
Quá trình điều chỉnh ruộng đất theo kiểu bình quân, cào bằng thông
qua cuộc vận động “nhường cơm sẻ áo” đã tác động mạnh đến bộ phận đông đảo
nhất, quan trọng nhất, lực lượng trung tâm trong nông thôn Nam Bộ là trung nông,
nhất là trung nông lớp trên, làm tổn hại đến lợi ích kinh tế và triệt tiêu động lực sản
xuất hàng hóa của họ. Việc điều chỉnh ruộng đất và tập thể hóa tư liệu sản xuất đã
gây nên những phản ứng khác nhau đối với tầng lớp trung nông. Ở nhiều nơi trong
nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, trung nông phân tán ruộng đất, triệt phá tư
liệu sản xuất dưới nhiều hình thức khác nhau. Chế dộ sở hữu ruộng đất của trung
nông được hình thành qua một quá trình lịch sử lâu dài có tác dụng tích cực trong
bám víu vào ruộng đất, dù đó chi là một mảnh ruộng nhỏ bé. Trước những chi phối
7
8
đó, dù lý do này hay lý do khác, người nông dân sẵn sàng chuyển nhượng, sang
bán ruộng đất, chuyển thể hình thức kinh doanh. Trên cơ sở hai khía cạnh đó, cho
thấy một khi nền kinh tế hàng hoá thị trường phát triển, nhu cầu đô thị hoá cấp
bách, nhịp độ phát triển công nghiệp, dịch vụ tàng nhanh, dẫn đến giá trị đất đai
tăng cao thì nhu cầu mua bán. chuyến nhượng, cho thuê, thế chấp,— ruộng đất
cùng các tư liệu sản xuất khác diễn ra phổ biến. Thông qua quá trình đó, diện tích
ruộng đất sử dụng có thể gia tăng ở những hộ này nhưng cũng có thể giảm sút hay
mất đi ở một số hộ khác Điều đó phán ánh một xu hướng chuyển biến cơ cấu sở
hữu ruộng đất theo hướng mới.
Trên thực tế, từ cuối những năm 1980, đầu 1990 trở đi, nhiều nơi
trong nông thôn đồng bằng sông Cửu Long đã diễn ra quá trình mua bán, sang
nhượng ruộng đất giữa các hộ nông dân với nhau. Báo cáo tổng hợp kinh tế - xã
hội vùng đồng bằng sông Cửu Long do Giáo sư Nguyễn Công Bình (chủ biên) cho
biết : trong 621 hộ được điều tra ở 15 vùng khác nhau của đồng bằng sông Cửu
Long vào năm 1995 có 396 hộ, chiếm tỉ lệ 63,77 % số hộ nông dân có diện tích
ruộng đất sở hữu tương đối ổn định, không bị chuyển biến so với năm 1987 nhưng
có 142 hộ, chiếm tỉ lệ 22,87 % số hộ có diện tích ruộng đất gia tăng và 14,33 % số
hộ có diện tích ruộng đất giảm sút, trong đó số hộ mua và thuê đất chiếm đến 45,77
% trong tổng số hộ có diện tích ruộng đất gia tăng. Ngược lại, số hộ bán hoặc cho
thuê ruộng đất chiếm 14,61% trong tổng số 89 hộ có diện tích ruộng đất giảm. Quá
trình tăng, giảm về sở hữu ruộng đất diễn ra ngày càng phổ biến ở nhiều địa
phương đồng bằng sông Cửu Long. Lúc đầu diễn ra lẻ tẻ ở một vài nơi nhưng từ
sau năm 1990 trở đi, quá trình đó diễn ra nhanh hơn và phổ biến hơn. Chẳng hạn, ở
một số xã thuộc tỉnh Tiền Giang, tính từ sau năm 1990, số hộ có diện tích ruộng
đất không bị biến động là 78.19 % nhưng có đến 12,33 % số hộ có diện tích ruộng
đất gia tăng. Trong số này, có 1.32 % sô hộ được nhận khoán thêm từ hợp tác xã và
8
nhượng ruộng đất nên dẫn đến thực trạng số hộ nông dân không ruộng đất ngày
càng gia tăng. Trong số những hộ nông dân không đất, có đến 20 % sô hộ do sang
bán ruộng đất để chuyển sang làm các ngành nghề khác và đặc biệt có đến 40 % số
hộ do gặp mất mùa, tại nạn, bệnh tật, nghèo, thiếu vốn sản xuất, phái bán dần
ruộng đất để trả nợ. Qua phân tích trên, rõ ràng có một bộ phận các hộ nông dân di
chuyển ruộng đất theo hướng giảm diện tích ruộng đất ở một số hộ này và tăng lên
ở một số hộ khác. Như vậy, la có thể thấy rằng : xu hướng biến động, phát triển về
sở hữu ruộng đất ở đồng bằng sông Cửu Long chính là xu hướng tích tụ, tập trung
dần ruộng đất vào một bộ phận nông dân sản xuất nông nghiệp hiệu quả, có khả
năng đầu tư mua thêm ruộng đất.
Cũng như nhiều vùng nông thôn nước ta, ở đồng bằng sông Cửu
Long, xu hướng tích tụ, tập trung ruộng đất có mối quan hệ tương hỗ với sự phân
hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội trong nông thôn. Hai quá trình này diễn ra đồng
thời với nhau. Bởi một khi nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá ở đồng bằng sông
Cửu Long ngày càng phát triển tất yếu lạo ra quá trình phân hoá xã hội giữa các hộ
nông dân. Bước sang đầu những năm 90, sự phân hoá giàu nghèo diễn ra rõ nét ở
hầu hết các nơi trong nông thôn. Song, mặt tích cực của sự phân hoá này là tao ra
những điều kiện khách quan huy động tối đa tiềm năng tư liệu sản xuất, đất đai,
vốn, lao động, tập trung vào các quá trình sản xuất, làm gia tăng sản lượng nông
sản hàng hoá. Do vậy, ruộng đất được dần dần tập trung vào những hộ làm ăn giỏi,
có khả năng sản xuất nông nghiệp, sử dụng ruộng đất hiệu quả. Những hộ này sẽ
giàu lên và có thêm điều kiện thuận lợi tích tụ, tập trung ruộng đất. Ngược lại, một
bộ phân nông dân nghèo có ít ruộng đất nhưng không có khả năng, vốn, kinh
nghiệm sản xuất sẽ bán lại ruộng đất để chuyển sang các ngành nghề khác thích
hợp. Trong điều kiện đó, sự phân công lao động xã hội cũng sẽ diễn ra nhanh
10
11
chóng và mạnh mẽ hơn theo xu hướng “ai giỏi nghề nào làm nghề đó". Sự phân
hoá giàu nghèo gắn liền với quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất. Đày là một xu
hướng mới đang diễn ra trong nông thôn đồng bằng sông Cửu Long. Bởi một nền
Khoa học Công nghệ và Môi trường vào đầu năm 1995 đã phản ánh khá rõ sự biến
động ruộng đất theo xu hướng tích tụ dần vào những hộ giàu có, khá giả, biết làm
ăn, có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, Một xu hướng đang vận động tuy chưa
mạnh nhưng thực sự diễn ra ở nhiều nơi là các hộ giàu khá đã bỏ vốn mua sắm
ruộng đất, gia tăng diện tích canh tác, trong khi những hộ nghèo không có điều
kiện sản xuất cứ sang bán dần ruộng đất, diện tích canh tác cứ ngày càng thu hẹp.
Theo xu hướng vận động đó, một kết quả trong sự phân chia về ruộng
đất dần dần hiện rõ là ở nhiều nơi trong nông thôn những hộ giàu có, khá già chiếm
giữ nhiều ruộng đất, có bình quân ruộng đất trên hộ và nhân khẩu cao. Ngược lại,
những hộ nghèo thiếu ruộng đất, bình quân ruộng đất trên hộ thấp lại càng giảm
hơn. Trong nông thôn, một bộ phận các hộ giấu khá, có bình quân ruộng đất cao
nhờ tích tụ, tập trung ruộng đất thêm, cao gấp 4 lần loại hộ trung bình và gấp 5 lần
loại hộ nghèo, nếu so với hộ giàu và cao gấp 2 lần loại hộ trung bình, gấp 3 lần loại
hộ nghèo nếu so với loại hộ khá.
Xu hướng tích tụ ruộng đất vẫn rơi vào những hộ giàu khá, có khả
năng sản xuất hàng hoá cao. Trung bình sở hữu ruộng đất của hộ giàu cao hơn hộ
nghèo ở các nơi từ 3 đến 4 lần. Chênh lệch giữa nơi cao nhất - hộ giàu ở Thớ Đông
và thấp nhất - hộ nghèo ở Vĩnh Thuận Tây đến hơn 10 lần và chênh lệch giữa nơi
thấp nhất - hộ giàu ở Phước Thới và hộ nghèo cao nhất ở Thới Đông là gần gấp
đôi.
12
13
Trong khi bình quân diện tích ruộng đất ở hầu hết các nơi ngày càng
thu hẹp dần do áp lực gia tăng dân số và hộ nông nghiệp thì xu hướng tích tụ, tập
trung ruộng đất vẫn diễn ra theo chiều hướng ngày càng gia tăng số hộ có sở hữu
ruộng đất cao, giảm dần số hộ có sở hữu ruộng đất thấp. Trong nhóm hộ giàu có,
khá giả do sản xuất và thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau thì từ sản xuất nông
nghiệp trên cơ sở khai thác ruộng đất là chính. Nếu chỉ tính riêng những hộ có mức
ruộng đất sở hữu cao, vượt hơn mức bình quân chung của địa phương, tức là những
hộ có sở hữu ruộng đất từ 2 ha trở lên chiếm đến 40,80 % số hộ. Và số hộ có mức
phải tăng nhanh tỉ trọng thì mới có thể phân công lại lao động và dân số đang tập
trung đông đảo trong nông thôn, thu hút vào các ngành nghề kinh tế ngoài nông
nghiệp. Điều đó còn có ý nghĩa quan trọng cho việc sử dụng ruộng đất có hiệu quả
cao sau khi được tích tụ. Vì mức độ và quy mô ruộng đất bình quân trên hộ lúc này
sẽ đạt đến tỉ lệ rất lớn. nhất là ở những vùng trọng điểm vể sản xuất nông nghiệp.
Xu hướng tích tụ, tập trung ruộng đất trong nông thôn đồng bằng sông
Cửu Long một khi dã diễn ra sẽ dẫn đến sự phân công lao động trong nông nghiệp
một cách hợp lý, nhất là đối với diện tích ruộng đất sử dụng. Những hộ nông dân
có quy mô ruộng đất sử dụng thấp và sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả có xu
hướng chuyển dịch ruộng đất để chuyển hình thức kinh doanh. Nói cách khác, quá
trình tích tụ, tập trung ruộng đất sẽ gắn liền với quá trình phân hoá nông dân, đầy
một bộ phân nông dân nghèo, ít và thiếu ruộng đất đến chỗ mất dần ruộng đất,
chuyển sang các ngành nghề ngoài nông nghiệp hoặc trở thành những người làm
thuê. Song, trong nông thôn đồng bằng sông Cửu Long thời gian qua, quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhịp độ đô thị hoá, công nghiệp hoá diễn ra không
nhanh đã phần nào hạn chế quá trình này.
14
15
Trên thực tế, trong nông thôn đồng bằng sông Cửu Long cho đến
những năm giữa thập niên 90, số hộ nông dân ít và thiếu ruộng đất đã không giảm
mà còn gia tăng. Một phần đông trong số họ trở thành những người làm thuê trong
nông thôn vì lý do chuyển nhượng, sang bán hết ruộng đất và các tư liệu sản xuất
khác, số liệu báo cáo của Hội nông dân Việt Nam cho thấy : trung bình mỗì tỉnh
đồng bằng sông Cửu Long có từ 10.000 đến 15.000 hộ nông dân không có ruộng
đất sản xuất phải đi làm thuê. Con số thống kê được trong toàn vùng có đến 83.563
hộ nông dân không ruộng đất. Xu hướng này ngày càng tăng trong những năm lùi
về sau này bởi một nguyên nhân cơ bản là các hộ nông dân có ít ruộng đất lại thiếu
vốn, nông cụ, các phương tiện sản xuất, không đủ khả năng cạnh tranh trong nền
nông nghiệp hàng hoá đang ngày một phát triển cao dẫn đến làm ăn thất bát, thua
lỗ, cuối cùng phải sang bán ruộng dất với giá rẻ để rồi trắng tay, đi làm thuê. Chỉ
tập trung ruộng đất. Do đó, xu hướng tích tụ, tập trung ruộng đất tuy diễn ra ở mức
độ chưa lớn nhưng mặt trái dễ nhận thấy của nó là sự gia tăng số hộ không ruộng
đất ở nông thôn ngày một đông hơn. Kéo theo đó, một đội ngũ khá đông lao động
làm thuê và lao động thất nghiệp trong nông thôn cứ ngày càng tăng đần lên. Kết
quả điều tra của Tổng cục Thông kê vào năm 1997 cho thấy trong nông thôn đồng
bằng sông Cửu Long có đến 436.000 hộ không ruộng đất, chuyên đi làm thuê,
chiếm tỉ lệ 17,4 % số hộ nông thôn toàn vùng và chiếm 64,8 % tổng số hộ nông
thôn chuyên làm thuê của cả nước. Lực lượng này tập trung đông ở những vùng có
xu hướng tích tụ, lập trung ruộng đất cao như Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang,
Sóc Trăng, Nhìn chung, ở đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 17,37 % số hộ
nông dân chuyên làm thuê và có thu nhập từ lao động làm thuê chiếm chủ yếu thì
các tính Đồng Tháp, Kiên Giang có tỉ lệ cao hơn và đặc biệt là An Giang cao gần
gấp đôi . Như vậy, trong xu hướng vận động, phát triển mới của vấn đề ruộng đất ở
16
17
đồng bằng sông Cửu Long, một bộ phận nông dân không ruộng đất chuyên làm
thuê trong nông thôn tồn tại khá đông chính là hệ quả khách quan của quy luật phát
triển của nền kinh tế thị trường, nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá.
17
18
CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG TỪ 1996 ĐẾN NAY
2.1. Vài nét về sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở
Việt Nam.
Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam là
một quá trình tương đối phức tạp và trải qua nhiều thời kỳ thăng trầm khác nhau.
Sau giải phóng, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
thực hiện chủ trương cải tạo nông nghiệp, Nhà nước quốc hữu hóa các đồn điền
thành các nông trường quốc doanh. Các điền trang, trang trại tư nhân lớn của địa
chủ, phú nông, tư sản nông thôn cũng bị cải tạo, phần lớn ruộng đất chia cho nông
đất”
1
. Như vậy sau 30 năm tổ chức phong trào hợp tác hóa, đến đây đã có quan hệ
đúng đắn về kinh tế hộ và kinh tế hợp tác trong nông nghiệp. Do việc coi hộ gia
đình nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, nên các hộ được giao quyền sử dụng đất-
loại tư liệu sản xuất chủ yếu, một cách ổn định lâu dài và có quyền sở hữu các tư
liệu sản xuất khác. Các hộ gia đình phát triển theo cơ chế thị trường tự hoạch toán,
tự trang trải, lấy thu bù chi và làm ăn có lãi…Đây chính là động lực cho các hộ gia
đình hoạt động theo phương thức sản xuất hàng hóa để trở thành “Các trang trại
gia đình”. Bên cạnh đó, Chính phủ thực hiện Chương trình 327 về phủ xanh đất
trống đồi trọc, chủ trương giao đất rừng cho dân, nhiều hộ gia đình nhất là ở khu
vực miền Đông Nam Bộ, đã mượn đất trồng rừng, trồng cây công nghiệp dài ngày
1 Nghị quyết của Bộ chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn. NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1998, trang 12.
19
20
như cao su, điều, bạch đàn, cây ăn quả…và đã hình thành các hộ có diện tích canh
tác lớn theo mô hình kinh tế trang trại gia đình.
Như vậy kinh tế trang trại gia đình đã ra đời và phát triển nhờ những
chính sách của Đảng và Nhà nước.
Chỉ thị 100/CT – TW ngày 13/1/1981 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng chủ trương khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, thì kinh
tế hộ gia đình mới dần dần được khẳng định là đơn vị kinh tế tự chủ. Đây chính là
điều kiện cơ bản cho kinh tế trang trại ở Việt Nam ra đời và phát triển. Sau đó Ban
chấp hành Trung ưởng Đảng khóa IV và khóa V còn ra một loạt các chỉ thị quan
trọng khác liên quan đến khuyến khích phát triển sản xuất hàng hóa trong lĩnh vực
nông, lâm, ngư nghiệp là:
-Chỉ thị 29/CT – TW về giao đất, giao rừng và củng cố quan hệ sản
xuất ở miền núi.
-Chỉ thị 35/CT – TW về phát triển kinh tế gia đình.
2
Tiếp sức cho kinh tế trang trại phát triển, Nghị quyết số 05-NQ/TW
của Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII và sau đó là
Luật Đất đai (tháng 9/1993), đã chủ trương: “…Nhà nước khuyến khích phát triển
kinh tế cá thể, tư nhân trong nông thôn, lâm ngư nghiệp, công nghiệp dịch vụ nông
thôn. Đặc biệt khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các loại
giống mới có hiệu quả kinh tế cao; khai thác đồi núi trọc, bãi bồi ven biển, nuôi
trồng thủy sản, đánh bắt ngoài khơi; xây dựng các nông, lâm, ngư trại với quy mô
thích hợp; phát triển tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp, dịch vụ nông thôn, tham
2 Nghị quyết của Bộ chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn. NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1998, trang 17.
21
22
gia xây dựng kết cấu hạ tầng. Khuyến khích các nhà kinh doanh từ thành phố, thị
xã về nông thôn lập nghiệp…”
3
.
Đặc biệt là ngày 02/2/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số
03/2000/ NQ – CP về kinh tế trang trại. Toàn bộ nghị quyết nêu rất đầy đủ về sự
đánh giá của Nhà nước đối với những mặt tích cực cũng như hạn chế của kinh tế
trang trại; đồng thời cũng nêu rõ những quan điểm và chính sách của Nhà nước đối
với sự phát triển kinh tế trang trại: “Sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp
phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mang thêm diện tích đất trồng, đất
núi trọc, đất hoang hóa, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển; tạo
thêm việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo; tăng thêm
nông sản hàng hóa. Một số trang trại đã góp phần sản xuất và cung ứng giống tốt,
làm dịch vụ, kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng…”.
4
Từ đây, kinh tế hộ nông dân đã hoàn toàn tự chủ trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Sản xuất nông nghiệp phát triển, xuất khẩu lương thực, thực
đến nay
2.2.1. Những đặc điểm cơ bản của kinh tế trang trại ở đồng bằng sông
Cửu Long
Sự phát triển kinh tế trang trại ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ thực
sự nở rộ từ năm 1996 và những đặc điểm của kinh tế trang trại ở khu vực đồng
bằng Sông Cửu Long với các khu vực khác trong cả nước cũng có những điểm
khác biệt. Nhìn chung so với miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên thì kinh tế trang
trại ở đồng bằng Sông Cửu Long có số lượng nhiều hơn. Đây là vùng có diện tích
3.987.6000ha, thuộc loại đất nông nghiệp phì nhiêu nhất và có nhiều điều kiện
23
24
thuận lợi khác nhau cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa nước, vì thế
đồng bằng Sông Cửu Long được coi là vựa lúa của cả nước. Chỉ tính riêng diện
tích trồng lúa đã lên tới 2.038.840ha, hơn gấp hai lần diện tích lúa ở đồng bằng
sông Hồng và cho sản lượng gấp ba lần so với đồng bằng sông Hồng, do đó các
trang trại ở đồng bằng sông Cửu Long cũng có một số đặc điểm khác các vùng.
Trang trại ở đồng bằng sông Cửu Long đại đa số là trang trại trồng lúa
có kết hợp với chăn nuôi lợn, gà, vịt la loại gia súc, gia cầm sống chủ yếu vào
nguồn nông sản phong phú ở đây. Nhìn chung đây là vùng “đất ít, người đông”,
bình quân đất đai trên một hộ nông dân ở vùng này thấp. Theo điều tra khảo sát ở
tỉnh An Giang – một tỉnh có nhiều ruộng đất phì nhiêu nhất đồng bằng sông Cửu
Long cũng chỉ trên dưới 7000 mét vuông trên một hộ, một mức diện tích khá
khiêm tốn cho việc phát triển trang trại ở một vùng thiên về trồng trọt. Tuy bình
quân đất thấp, nhưng bù lại đất phần lớn là phù sa mới bồi đắp nên rất màu mỡ, phì
nhiêu, lại có đầy đủ nước ngọt quanh năm, rất thích hợp cho các loại cây hàng năm
nhất là lúa màu và cây ăn quả. Những ưu đãi của thiên nhiên đã biến đồng bằng
sông Cửu Long thành vùng nổi tiếng là vựa lúa, miệt vườn độc đáo nhất của Việt
Nam. Các trang trại ở đồng bằng sông Cửu Long phát triển theo hướng phù hợp
với đặc điểm môi trường tự nhiên: đó là các trang trại trồng lúa, trồng cây hoa màu
hàng năm như đậu, lạc, và cây ăn quả…chứ không có các trang trại trồng cây công
chịt, mặt nước ao hồ, đầm lầy, bưng, vịnh nhiều dày đặc khắp nơi do đó ngành
nuôi trồng đánh bắt thủy sản không chỉ phát triển ở vùng ven biển như miền Đông
Nam Bộ mà còn được phân bố phát triển mạnh ở khắp tất cả các tỉnh miền Tây
Nam Bộ. Tỉnh nào cũng có nhiều trang trại chuyên nuôi trồng thủy sản với quy mô
25