TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
LỜI MỞ ĐẦU
Cơ chế thị trường và quy luật khắt khe của nó buộc các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh muốn tồn tại và phát triển phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện
công tác kế toán. Trong đó việc xác định các yếu tố đầu vào hợp lý sao cho kết quả
đầu ra cao nhất với giá cả và chất lượng sản phẩm có sức hút đối với người tiêu
dùng là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý.
Để tồn tại và phát triển được, ngoài nhiệm vụ sản xuất được nhiều sản phẩm
đạt chất lượng cao, doanh nghiệp còn phải đặc biệt chú trọng đến công tác quản lý
các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất đó là nguyên vật liệu. Đây là một trong ba
yếu tố chiếm tỷ trọng lớn quyết định đến giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh. Vì vậy việc quản lý chặt chẽ vật liệu trong quá trình thu mua,
dự trữ bảo quản và sử dụng có ý nghĩa lớn trong việc tiết kiệm chi phí, hạ giá thành
sản phẩm, tiết kiệm vốn.
Công ty CP Xây Dựng A&P đã và đang vận hành công tác kế toán trong quản
lý một cách khoa học. Công ty đã chú trọng nâng cao hiệu quả tổ chức công tác kế
toán, không ngừng nâng cao trình độ cán bộ và trang thiết bị hiện đại trong công tác
quản lý doanh nghiệp. Bởi thế công ty đã thu được những kết quả trong công tác kế
toán, trong đó có kế toán nguyên vật liệu giữ một vai trò quan trọng trong quản lý.
Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán nguyên vật liệu trong công ty,
đồng thời được sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Kiều Thị Thu Hiền và các anh chị
phòng kế toán công ty, em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “ Hoàn thiện kế
toán nguyên vật liệu” tại công ty CP Bê Tông và Xây Dựng A&P làm khóa luận tốt
nghiệp.
Kết cấu của khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận, còn bao gồm 3 phần
chính:
Sinh viên: Trần Thị Thu Trang
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.
1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp có ảnh hưởng đến kế toán
nguyên vật liệu.
Xây dựng cơ bản (XDCB) là nghành sản xuất vật chất có vị trí hết sức quan
trọng trong nghành kinh tế quốc dân. XDCB còn là quá trình xây dựng mới, xây
dựng lại, cải tạo, hiện đại hóa khôi phục các công trình nhà máy, xí nghiệp, đường
xá, cầu cống, nhà cửa…nhằm phục vụ cho đời sống xã hội. Đây còn là nghành sản
xuất đặc biệt ở chỗ nó có chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho tất cả các
nghành trong nền kinh tế quốc dân. So với các nghành kinh tế quốc dân khác,
XDCB có những đặc điểm kỹ thuật đặc trưng, thể hiện rõ nét ở vật liệu xây dựng,
sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của nghành.
Sản phẩm XDCB cũng được tiến hành sản xuất một cách liên tục từ khâu
thăm dò, điều tra khảo sát đến thiết kế thi công và quyết toán công trình khi hoàn
thành. Sản phẩm XDCB là những công trình phục vụ cho sản xuất hoặc dân dụng,
chúng được gắn liền trên một địa điểm nhất định như: đất đai, mặt nước, mặt…, nó
được cấu thành từ vật liệu xây dựng, nhân công và máy móc thiết bị. Đặc điểm của
sản phẩm xây dựng là có quy mô, kết cấu phức tạp, thời gian thi công tương đối dài
và có giá trị lớn, khối lượng công trình lớn. Hơn nữa sản phẩm XDCB mang tính
chất cố định nơi sản xuất. Sản phẩm sau khi hoàn thành cũng là nơi tiêu thụ hoặc
đưa vào hoạt động. Sản phẩm xây dựng đa dạng nhưng mang tính chất đơn chiếc,
một công trình xây dựng được thiết kế kỹ thuật riêng tại một thời điểm nhất định.
Quá trình khởi công xây dựng cho đến khi công trình bàn giao được đưa vào sử
dụng thường là thời gian dài bởi vì nó phụ thuộc vào quy mô, tính chất phức tạp về
kỹ thuật của công trình.
nghiệp xây lắp.
* Khái niệm nguyên vật liệu:
Nguyên vật liệu là những đối tượng lao động đã được thể hiện dưới dạng vật
hóa như: sắt, thép trong doanh nghiệp cơ khí, xây dựng … Nguyên vật liệu hình
thành từ những nguồn khác nhau như mua ngoài, tự sản xuất, nhận vốn góp… được
sử dụng để phục vụ cho việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ hay
sử dụng cho bán hàng,cho quản lý doanh nghiệp.
Sinh viên: Trần Thị Thu Trang
4
Lớp: TĐ – KT10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
* §Æc ®iÓm :
Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu trình sản xuất nhất định, và khi tham
gia vào quá trình sản xuất dưới tác động của lao động nguyên vật liệu bị tiêu hao
toàn bộ hoặc thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo ra hình thái vật chất của sản
phẩm.
Trong các doanh nghiệp xây dựng cơ bản thì nguyên vật liệu cũng chính là
đối tượng lao động, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể sản phẩm.
Do đó vật liệu sử dụng trong các nghành, các doanh nghiệp xây lắp rất đa
dạng, phong phú về chủng loại và phức tạp về kỹ thuật. Trong mỗi quá trình sản
xuất: Về mặt hiện vật: Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất,
-
Đối với khâu dự trữ: Đảm bảo một lượng dự trữ nhất định vừa đủ để quá trình
sản xuất không bị gián đoạn, nghĩa là phải dự trữ sao cho không nhỏ hơn mức dự
trữ tối thiểu và không vượt quá mức dự trữ tối đa, đảm bảo cho quá trình sản
xuất thường xuyên liên tục, tránh tình trạng ngưng trệ sản xuất vì thếu nguyên
vật liệu.
- Cuối cùng là khâu sử dụng: Cần thực hiện theo đúng các định mức tiêu hao theo
bảng định mức sao cho việc sử dụng đó là hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao
nhất.
Để tránh nhầm lẫn trong công tác quản lý và kế toán guyên vật liệu trước hết
các doanh nghiệp phải xây dựng được hệ thống danh điểm và số danh điểm cho
nguyên vật liệu. hệ thống danh điểm và số danh điểm của nguyên vật liệu phải rõ
ràng, chính xác, tương ứng với quy cách chủng loại của nguyên vật liệu.
Để quá trình sản xuất kinh doanh liên tục và sử dụng vốn tiết kiệm thì doanh
nghiệp phải có kế hoạch mua, dự trữ nguyên vật liệu ở một mức độ hợp lý. Do vậy,
các doanh nghiệp phải xây dựng định mức tồn kho tối đa và tối thiểu cho từng danh
điểm nguyên vật liệu, tránh dự trữ quá nhiều hoặc quá ít một loại nguyên vật liệu
nào đó. Định mức tồn kho của nguyên vật liệu còn là cơ sở để xây dựng kế hoạch
thu mua nguyên vật liệu và kế hoạch tài chính của doanh nghiệp.
Để bảo quản tốt nguyên vật liệu, giảm thiểu hư hao, mất mát các doanh
nghiệp phải xây dựng hệ thống kho tàng, bến bãi đủ tiêu chuẩn kĩ thuật, bố trí nhân
viên thủ kho có đủ phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn để quản lý nguyên
vật liệu tồn kho và thực hiện các nhiệm vụ nhập, xuất kho, tránh việc bố trí kiêm
nhiệm chức năng thủ kho với tiếp liệu và kế toán vật tư.
Sinh viên: Trần Thị Thu Trang
6
- Nhiên liệu: là những thứ dùng để tạo ra nhiệt năng như than đá, than bùn,
củi, xăng dầu, ga... Nhiên liệu trong các doanh nghiệp thực chất là một loại vật liệu
phụ, tuy nhiên nó được tách ra một loại riêng vì việc tiêu dùng và sản xuất nhiên
liệu chiếm tỷ trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nhiên
Sinh viên: Trần Thị Thu Trang
7
Lớp: TĐ – KT10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
liệu cũng có yêu cầu và kỹ thuật quản lý hoàn toàn khác với các vật liệu phụ thông
thường.
- Phụ tùng thay thế: là loại vật tư được sử dụng cho hoạt động bảo dưỡng, sửa
chữa TSCĐ của doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp để bảo quản, bảo dưỡng,
sửa chữa, khôi phục năng lực hoạt động của TSCĐ đòi hỏi các doanh nghiệp phải
mua sắm dự trữ các loại phụ tùng thay thế.
- Thiết bị và vật liệu xây dựng cơ bản: là các loại vật liệu thiết bị phục vụ cho
hoạt động xây lắp, XDCB tái tạo TSCĐ.
- Vật liệu khác: là các loại vật liệu không được xếp vào các loại trên như bao
bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc chủng hoặc phế liệu thu hồi.
Hạch toán theo cách phân loại nói trên đáp ứng được yêu cầu phản ánh tổng
quát về mặt giá trị đối với mỗi loại nguyên vật liệu. Để đảm bảo thuận tiện, tránh
nhầm lẫn trong công tác quản lý và hạch toán về số lượng và giá trị đối với từng thứ
nguyên vật liệu, trên cơ sở phân loại theo vai trò và công dụng của nguyên vật liệu,
các doanh nghiệp phải tiếp tục chi tiết và hình thành nên “ Sổ danh điểm vật liệu”.
tiết hơn. Căn cứ vào mục đích, công dụng của nguyên vật liệu cũng như nội dung
quy định phản ánh chi phí nguyên vật liệu trên các tài khoản kế toán thì nguyên vật
liệu được chia thành:
- Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất, kinh doanh.
- Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu khác phục vụ quản lý ở các phân xưởng,
tổ, đội sản xuất, cho nhu cầu bán hàng, quản lý doanh nghiệp.
Căn cứ vào nguồn nhập nguyên vật liệu được chia thành:
- Nguyên vật liệu mua ngoài.
- Nguyên vật liệu tự gia công chế biến.
- Nguyên vật liệu nhận góp vốn.
1.3.2. Tính giá nguyên vật liệu
Tính giá nguyên vật liệu là xác định giá trị của chúng theo những nguyên
tắc nhất định về nguyên tắc kế toán nhập, xuất, tồn kho vật liệu có khối lượng lớn,
nhiều chủng loại đảm bảo yêu cầu kịp thời và giảm bớt khối lượng công việc do sự
biến động hàng ngày của vật liệu còn có thể đánh giá theo giá hạch toán.
Giá thực tế của nguyên vật liệu là loại giá được hình thành trên cơ sở
chứng từ hợp lệ chứng minh các khoản chi hợp pháp của doanh nghiệp để tạo ra
nguyên vật liệu.
1.3.2.1 Tính giá nhập kho.
* Đối với giá vốn thực tế nhập kho tùy theo từng lần nhập mà giá vốn được
xác định theo công thức.
Sinh viên: Trần Thị Thu Trang
9
Lớp: TĐ – KT10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
Trong đó chi phí thu mua bao gồm: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản,
phân loại, bảo hiểm, chi phí thuê kho bãi, tiền phạt, tiền bồi thường và hao hụt định
mức trong quá trình vận chuyển.
+ Nếu NVL mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu
thuế giá GTGT tính theo phương pháp khấu trừ thì giá mua ghi trên hoá đơn là giá
chưa có thuế GTGT đầu vào.
+ Nếu NVL mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu
thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc không chịu thuế GTGT hoặc dùng
cho hoạt động sự nghiệp, phúc lợi, dự án thì giá mua ghi trên hoá đơn là tổng giá
thanh toán bao gồm cả thuế GTGT đầu vào.
- Đối với nguyên vật liệu doanh nghiệp tự gia công chế biến.
Trị giá vật liệu
Giá thực tế của vật liệu
+
=
thực tế
Các chi phí gia
xuất gia công chế biến
công chế biến
- Đối với nguyên vật liệu doanh nghiệp thuê ngoài gia công chế biến.
Trị giá
Giá thực tế của
Đối với nguyên vật liệu nhận vốn liên doanh liên kết thì giá thực tế của
nguyên vật liệu là giá trị được các bên tham gia góp vốn thống nhất, đánh giá chấp
thuận.
Đối với nguyên vật liệu vay mượn tạm thời của các đơn vị khác thì giá thực
tế nhập kho được tính theo giá thị trường tương đương của số nguyên vật liệu đó.
Đối với phế liệu thu hồi từ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
thì giá thực tế được tính theo đánh giá thực tế hoặc theo giá bán trên thị trường.
1.3.2.2 Tính giá nguyên vật liệu xuất kho.
Để xác định giá thực tế của nguyên vật liệu xuất kho trong kỳ, tùy theo đặc
điểm của từng doanh nghiệp về số lượng danh điểm, số lần nhập – xuất nguyên vật
liệu, yêu cầu quản lý và trình độ của kế toán, thủ kho, hệ thống kho phòng… có thể
lựa chọn và áp dụng một trong các phương pháp sau đây để tính giá thực tế nguyên
vật liệu xuất kho.
* Phương pháp giá thực tế đích danh (tính trực tiếp) :
Giá thực tế NVL xuất kho = số lượng x đơn giá
Giá trị thực tế của nguyên vật liệu xuất kho tính theo giá thực tế của từng lô
hàng nhập, áp dụng đối với doanh nghiệp sử dụng ít thứ nguyên liệu và công cụ
dụng cụ, có giá trị lớn và có thể nhận diện được.
* Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO):
Theo phương pháp này, nguyên vật liệu được tính giá thực tế xuất kho trên
cơ sở giả định là lô nguyên vật liệu nào nhập trước sẽ được xuất dùng trước, vì vậy
lượng nguyên vật liệu xuất kho thuộc lần nhập nào thì tính theo giá thực tế của lần
nhập đó. Phương pháp này có ưu điểm là cho phép kế toán có thể tính giá nguyên
vật liệu xuất kho kịp thời. Nhược điểm của phương pháp này là phải tính giá theo
Sinh viên: Trần Thị Thu Trang
11
từng
loại NVL xuất kho
Trong đó giá đơn vị bình quân có thể được tính theo một trong 3 cách tùy
theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng, phụ thuộc vào tình hình của doanh
nghiệp.
* Tính theo giá trị bình quân cả kỳ dự trữ:
Theo cách này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của nguyên vật liệu xuất
kho trong kỳ. Tùy theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn
kho căn cứ vào giá mua, giá nhập, lượng nguyên vật liệu tồn kho đầu kỳ và nhập
trong kỳ để tính giá đơn vị bình quân.
Giá đơn vị
bình quân cả
kỳ dự trữ
Giá thực tế NVL tồn đầu kỳ + giá trị NVL nhập trong kỳ
= _____________________________________________________________________
Số lượng NVL tồn đầu kỳ + số lượng NVL nhập trong kỳ
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít danh điểm
nguyên vật liệu nhưng số lần nhập, xuất của mỗi danh điểm nhiều. Cách này tuy
Sinh viên: Trần Thị Thu Trang
12
Lớp: TĐ – KT10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
_______________________________
Số lượng thực tế NVL cuối kỳ trước
Cách này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán và khối lượng tính toán của
kế toán được giảm nhẹ nhưng trị giá hàng xuất không chịu ảnh hưởng của sự thay
đổi giá cả trong kỳ hiện tại. Vì vậy, cách này làm cho chỉ tiêu trên báo cáo kết quả
kinh doanh không sát với thực tế. Trường hợp giá cả thị trường có sự biến động lớn
thì việc tính giá nguyên vật liệu xuất kho theo cách này có thể gây ra bất hợp lý (tồn
kho âm).
* Tính theo giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập:
Sau mỗi lần nhập nguyên vật liệu kế toán phải xác định lượng giá trị của hàng tồn
kho và giá trị bình quân căn cứ vào giá đơn vị bình quân và lượng xuất giữa hai lần
nhập kế tiếp để tính giá xuất theo công thức sau:
Sinh viên: Trần Thị Thu Trang
13
Lớp: TĐ – KT10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
Giá trị bình quân
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
=
kho đầu kỳ
Gía trị thực tế
+
NVL tồn kho
cuối kỳ
NVL xuất kho trong kỳ:
- Phương pháp giá hạch toán:
Đối với nhiều doanh nghiệp có nhiều loại NVL giá cả thường xuyên biến
động, ngiệp vụ nhập – xuất vật liệu diễn ra thường xuyên thì việc hạch toán theo
giá thực tế trở nên phức tạp, tốn nhiều công sức và nhiều khi không thực hiện được.
Do đó việc hạch toán hàng ngày nên sử dụng giá hạch toán.
Giá hạch toán là loại giá ổn định, doanh nghiệp có thể sử dụng trong thời gian
Sinh viên: Trần Thị Thu Trang
14
Lớp: TĐ – KT10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
dài để kế toán nhập, xuất, tồn kho NVL trong khi chưa tính giá thực tế của nó.
Doanh nghiệp có thể sử dụng giá kế hoạch hoặc giá mua vật liệu ở một thời điểm
nào đó hay giá NVL bình quân tháng trước để làm giá hạch toán. Sử dụng giá hạch
doanh nghiệp tự quyết định. Song, cần đảm bảo sự nhất quán trong niên độ kế toán
và phải thuyết minh trong Báo cáo tài chính.
1.4 Nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp xây lắp
Nguyên vật liệu là một bộ phận trọng yếu của tư liệu sản xuất, nguyên vật
liệu là đối tượng của lao động đã qua sự tác động của con người. Trong đó vật liệu
Sinh viên: Trần Thị Thu Trang
15
Lớp: TĐ – KT10
TRNG I HC CễNG ON
KHO LUN TT NGHIP
l nhng nguyờn liu ó tri qua ch bin. Vt liu c chia thnh vt liu chớnh,
vt liu ph v nguyờn liu gi tt l nguyờn vt liu. Vic phõn chia nguyờn liu
thnh vt liu chớnh, vt liu ph khụng phi da vo c tớnh vt lý, húa hc hoc
khi lng tiờu hao m l s thm gia ca chỳng vo cu thnh sn phm. Khỏc vi
vt liu l nhng t liu lao ng khụng cú tiờu chun quy nh v giỏ tr v thi
gian s dng ca ti sn c nh. Trong quỏ trỡnh thi cụng xõy dng cụng trỡnh, chi
phớ sn xut cho ngnh xõy lp gn lin vi vic s dng nguyờn, nhiờn vt liu,
mỏy múc v thit b thi cụng v trong quỏ trỡnh ú vt liu l mt trong ba yu t c
bn ca quỏ trỡnh tham gia vo hot ng sn xut kinh doanh ca doanh nghip vt
liu b tiờu hao ton b v chuyn giỏ tr mt ln vo chi phớ sn xut kinh doanh
trong k.
Nguyờn vt liu cú v trớ ht sc quan trng i vi hot ng sn xut kinh
doanh ca cỏc doanh nghip, nu thiu nguyờn vt liu thỡ khụng th tin hnh c
- Phiu nhp kho (Mu 01 VT): Nhm xỏc nhn s lng hng hoỏ, sn
phm nhp kho lm cn c ghi the kho, thanh toỏn tin hng, xỏc nh trỏch
nhim vi ngi cú liờn quan v ghi s k toỏn.
- Phiu xut kho (Mu 02 VT): Theo doi cht ch s lng sn sm, hng
hoỏ, vt t xut kho cho cỏc b phn s dng trong doanh nghip lm cn c
hch toỏn chi phớ sn xut, tớnh giỏ thnh sn phm, dch v v kim tra
vic s dng, thc hin nh mc tiờu hao vt t.
- Biờn bn kim nghim vt t, sn phm, hng húa (Mu 03 VT): Xỏc nh
s lng, quy cỏch, cht lng vt t, sn phm, hng hoỏ trc khi nhp
kho, lm cn c quy trỏch nhim trong thanh toỏn v bo qun.
- Phiu bỏo vt t cũn li cui k ( Mu 04 VT): Theo doi vt t cũn li
cui k k toỏn n v s dng, lm cn c tớnh giỏ thnh sn phm v
kim tra tỡnh hỡnh thc hin nh mc s dng vt t.
- Biờn bn kim kờ vt t, sn phm, hng húa (Mu 05 VT): Nhm xỏc
nh cht lng, s lng v giỏ tr vt t, sn phm hng hoỏ.
- Bng kờ mua hng (Mu 06 VT): Nhm xỏc nh tờn hng, s lng, quy
cỏch hng hoỏ.
- Bng phõn b nguyờn liu, vt liu, dng c (Mu 07 VT): Dựng phn
ỏnh tng giỏ tr nguyờn liu, vt liu, cụng c , dng c xut kho trong thỏng
theo giỏ thc t v giỏ hch toỏn v phõn b giỏ tr nguyờn liu, vt liu, cụng
Sinh viờn: Trn Th Thu Trang
17
Lp: T KT10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Lớp: TĐ – KT10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Phương pháp này đơn giản trong khâu ghi chép, dễ kiểm tra đối chiếu, dễ
phát hiện sai sót đồng thời cung cấp thông tin nhập, xuất và tồn kho của từng danh
điểm nguyên vật liệu kịp thời, chính xác tuy nhiên phương pháp này việc ghi chép
trùng lặp giữa thủ kho và kế toán ở chỉ tiêu số lượng, làm khối lượng công việc của
kế toán tốn nhiều công sức và thời gian. Do vậy, phương pháp này chỉ thích hợp với
các doanh nghiệp thực hiện công tác kế toán máy và các doanh nghiệp thực hiện kế
toán bằng tay trong điều kiện doanh nghiệp có ít danh điểm vật tư, trình độ chuyên
môn của cán bộ kế toán còn hạn chế.
*Sơ đồ 01: Kế toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp thẻ song song
Phiếu nhập
kho
Sổ kế toán
chi tiết
Thẻ kho
Bảng tổng
hợp NXT
Phiếu xuất
kho
Sổ kế toán
từng kho, cuối tháng trên cơ sở phân loại chứng từ nhập, xuất nguyên vật liệu theo
từng danh điểm và theo từng kho, kế toán lập bảng kê nhập nguyên vật liệu, bảng kê
xuất nguyên vật liệu rồi ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển. Cuối kỳ đối chiếu thẻ kho
với sổ đối chiếu luân chuyển.
Phương pháp này đã có cải tiến hơn phương pháp thẻ song song, tiết kiệm công
tác lập sổ kế toán, giảm nhẹ khối lượng ghi chép của kế toán, tránh việc ghi chép trùng
lặp. Tuy nhiên, thực hiện theo phương pháp này khó kiểm tra, đối chiếu, khó phát hiện
sai sót và dồn công việc vào cuối kỳ nên hạn chế chức năng kiểm tra thường xuyên,
liên tục, hơn nữa làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các khâu kế toán khác. Phương
pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có nhiều danh điểm vật tư nhưng chứng từ
nhập xuất không nhiều, không có điều kiện bố trí riêng từng nhân viên kế toán chi tiết
nguyên vật liệu để theo dõi tình hình nhập xuất hàng ngày.
Sinh viên: Trần Thị Thu Trang
20
Lớp: TĐ – KT10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
*Sơ đồ 02 :Kế toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp sổ đối chiếu luân
chuyển
Phiếu nhập
kho
Lớp: TĐ – KT10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
1.5.2.3: Phương pháp sổ số dư
* Trình tự hạch toán:
- Tại kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho theo dõi số lượng nhập,xuất,tồn. Ngoài
ra, thủ kho phải tập hợp toàn bộ chứng từ nhập kho, xuất kho phát sinh theo từng
nguyên vật liệu quy định. Sau đó lập phiếu giao nhận chứng từ và nộp cho kế toán
kèm theo các chứng từ nhập, xuất kho nguyên vật liệu. Cuối tháng thủ kho còn phải
ghi số lượng tồn kho trên thẻ kho và sổ số dư.
- Tại phòng kế toán : Định kỳ kế toán nhận chứng từ do thủ kho chuyển đến.
Căn cứ vào đó, kế toán lập bảng lũy kế nhập, xuất, tồn. Cuối kỳ tiến hành tính tiền
trên sổ số dư do thủ kho chuyển đến và đối chiếu tồn kho từng danh điểm nguyên
vật liệu trên sổ số dư với bảng lũy kế nhập xuất tồn.
*Sơ đồ 03: Kế toán chi tiết theo phương pháp sổ số dư
phiếu giao nhận
chứng từ nhập
Phiếu nhập
kho
Thẻ kho
Bảng luỹ kế
nhập xuất
- Nhược điểm: Khó khăn trong việc kiểm tra, đối chiếu và khó phát hiện được
sai xót, yêu cầu trình độ quản lý của người kế toán cao.
- Điều kiện áp dụng: Phương pháp này chỉ phù hợp với DN có nhiều loại
NVL, việc nhập xuất diễn ra thường xuyên, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của kế
toán vững.
1.6. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp.
1.6.1 Tài khoản sử dụng
TK 151 – Hàng mua đang đi đường
TK 111 – Tiền mặt
TK 152 – Nguyên liệu, vật liệu
TK 112 – Tiền gửi ngân hàng
TK 153 – Công cụ, dụng cụ
TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ
TK 611 – Mua hàng hoá
TK 131 – Phải thu của khách hàng
TK 331 – Phải trả người bán
TK 138 – Phải thu khác
1.6.2 Phương pháp kế toán.
Nguyên vật liệu là một trong số hàng tồn kho thuộc tài sản ngắn hạn của
doanh nghiệp và được nhập, xuất kho thường xuyên. Tuy nhiên tùy theo đặc điểm
Trị giá vật tư,
hàng hóa xuất
kho trong kỳ
Trị giá vật tư,
= hàng hóa mua
vào trong kỳ
+
Trị giá vật tư,
hàng hóa tồn
đầu kỳ
Trị giá vật tư
- hàng hóa tồn
cuối kỳ
Theo phương pháp này mọi biến động vật tư hàng hóa không theo dõi, phản
ánh trên các tài khoản hàng tồn kho. Giá trị vật tư, hàng hóa mua và nhập kho được
phản ánh trên một tài khoản riêng (tài khoản ”mua hàng”).
Công tác kiểm kê vật tư hàng hóa được tiến hành mỗi cuối kỳ hạch toán để
xác định giá trị vật tư, hàng hóa tồn kho thực tế, trên cơ sở đó kế toán phản ánh vào
các tài khoản hàng tồn kho. Như vậy, khi áp dụng phương pháp KKĐK các tài
khoản hàng tồn kho chỉ sử dụng đầu kỳ kế toán (để kết chuyển số dư đầu kỳ) và
cuối kỳ kế toán (để kết chuyển số dư cuối kỳ).
Phương pháp KKĐK thường được áp dụng ở những doanh nghiệp có nhiều
chủng loại vật tư hàng hóa với quy cách mẫu mã khác nhau, giá trị thấp và được
xuất thường xuyên.
Sinh viên: Trần Thị Thu Trang
Có TK 331:
Có TK 111,112,331
Hóa đơn chưa trả tiền cho người bán
: Tổng giá thanh toán trên hóa đơn.
Sang tháng sau, khi nhận được vật tư nhập kho, căn cứ chứng từ ,ghi:
Nợ TK152,153
: Giá trị thực tế
Có TK 151 : Giá trị thực tế
+ Trường hợp hàng về chưa có hóa đơn:
Sinh viên: Trần Thị Thu Trang
25
Lớp: TĐ – KT10