Một số vấn đề về Quản lý Nhà nước đối với đất đai của Thành phố Hà Nội - Pdf 39

LUẬN VĂN:
Một số vấn đề về Quản lý Nhà nước đối
với đất đai của Thành phố Hà Nội


lời mở đầu
Đất đai là tiền đề ban đầu, là cái nôi của loài người và là cơ sở quan trọng nhất của sự
tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Trong lời nói đầu của Luật đất đai năm 1993 đã
nêu: “Đất đai là tài nguyên vô cùng qúy giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần
quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng
các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội và quốc phòng”.
Hà Nội là thủ đô của nước CNXHCN Việt Nam, là một trong những trung tâm văn
hoá, chính trí, kinh tế, xã hội lớn nhất của cả nước. Trong nền kinh tế thị trường, vấn đề về
quản lý và sử dụng đất đai luôn nhạy cảm và nó tác động trực tiếp vào quá trình phát triển
kinh tế xã hội của Thủ đô. Đất đai ngày càng trở nên có giá khi Hà Nội ngày một phát triển
và dân số ở Hà Nội ngày một tăng (chủ yếu là tăng dân số cơ học), kéo theo nó sẽ phát sinh
những phức tạp trong quản lý và sử dụng đất đai. Vì thế, tăng cường vai trò quản lý Nhà
nước về đất đai là vô cùng cần thiết và cấp bách. Với sự cần thiết đó trong thời gian thực tập
tốt nghiệp em đã chọn nghiên cứu đề tài: “Một số vấn đề về Quản lý Nhà nước đối với đất
đai của Thành phố Hà Nội”.
Đề tài nghiên cứu với mục đích nhằm nâng cao vai trò quản lý Nhà nước về đất đai
và sử dụng đất đai hợp lý hơn trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Ngoài lời mở đầu, kết luận và mục tài liệu tham khảo bài bài luận văn tốt nghiệp của
em gồm có 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về đất đai.
Chương II: Nội dung quản lý Nhà nước về tình hình sử dụng đất ở Thành phố Hà Nội.
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý tình hình sử
dụng đất ở Thành phố Hà Nội.


Chương I

Vai trò của đất đai đối với sản xuất và đời sống thật to lớn và đa dạng. Đùng như vậy
hội nghị các bộ trưởng châu Âu năm 1973 (họp tại Luân Đôn _ Anh) nhận định: “Đất đai là
một trong những cái qúy nhất của loài người, nó tạo điều kiện cho sự sống của thực vật,
động vật và con người trên trái đất”.
Dưới góc độ chính trị - pháp lý, đất đai là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ
quốc gia, gắn liền với chủ quyền quốc gia. Không thể có quan niệm về quốc gia không có
đất đai. Sự tôn trọng chủ quyền quốc gia trước hết phải được thể hiện ở việc tôn trọng lãnh
thổ quốc gia.
Vì vậy, việc xâm phạm đất đai là xâm phạm lãnh thổ và chủ quyền quốc gia mà Nhà
nước là người đại diện. Để bảo vệ chủ quyền đó Nhà nước phải sử dụng công quyền thực
hiện quản lý, bảo vệ đất đai, để chống mọi sự xâm phạm đất đai, xâm phạm lãnh thổ quốc
gia. Tôn trọng chủ quyền quốc gia, an ninh lãnh thổ cũng là một nguyên tắc hàng đầu của
luật pháp quốc tế. Lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt
Nam chính là lịch sử hào hùng của công cuộc mở đất, giữ đất của ông cha ta, lịch sử chiến
thắng mọi thế lực thù địch xâm phạm bờ cỏi đất Việt. Đất đai trở thành giá trị thiêng liêng,
là xương máu của bao thế hệ con người Việt Nam. Đất đai và giải quyết vấn đề đất đai - từ
vai trò quan trọng trên đã trở thành tâm điểm của các cuộc các mạng trong lịch sử. Nhà
nứoc XHCN ngay khi mới ra đời cũng đã đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề đất đai. Ngay
từ khi cách mạng tháng mười thành công, V.L Lênin đã ký Sắc lệnh về ruộng đất, xác định
quyền sở hữu duy nhất của Nhà nước Xô Viết đối với đất đai. ở nước ta trong qúa trình lãnh
đạo Cách mạng Đảng đã coi đất đai, giải quyết vấn đề đất đai là một trong những vấn đề cốt
tử. Nhà nước ta, ngay khi ra đời sau thắng lợi của cách mạng tháng tám lịch sử đã ban hành
nhiều Sắc lệnh, đạo luật để quản lý đất đai. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, bên cạnh
việc ban hành các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, Nhà nước đã ban hành sắc
lệnh giảm tô, giảm tức, đến ngày 4/12/1953 Quốc hội đã ban hành Luật cải cách ruộng đất
nhằm xóa bỏ sở hữu đất đai của phong kiến và đế quốc. Trong cách mạng XHCN, Đảng và


Nhà nước luôn kiện toàn pháp luật về đất đai, cốt để quản lý tốt về đất đai, từ đó phát huy
được vai trò vô cùng to lớn về nhiều mặt của đất đai. Việc ban hành Luật Đất đai năm 1993

đai và được sử dụng lại cho các lần canh tác tiếp theo. Đất đai dùng để canh tác có khả năng
tạo ra một khối lượng lương thực lớn hơn khối lượng đủ để duy trì sự sống của người lao
động. Adam Smith đã dẫn: “ đất, trong hầu hết các tình huống, sản sinh ra một lượng lương
thực nhiều hơn so với số lượng đủ để duy trì sự sống của người lao động”.
b. Đất đai là một tư liệu sản xuất gắn liền với hoạt động của con người và nó tham
gia vào tất cả các ngành sản xuất trong cuộc sống của con người.
Trong qúa trình hoạt động sản xuất, đất đai trở thành tư liệu sản xuất không thể thiếu
được. Tác động của con người vào đất đai thông qua hoạt động sản xuất đa dạng phong phú
với nhiều vẻ khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp nhằm khai thác triệt để nguồn tài nguyên
thiên nhiên này vì lợi ích của mình. Những tác động đó có thể làm thay đổi tính chất sử
dụng của đất đai, từ đất đai hoang sơ thành đất đai canh tác được, hoặc đất đai từ mục đích
sử dụng này sang mục đích sử dụng khác. Hoặc những tác động để cải tạo chất đất, làm tăng
độ màu mỡ của đất đai. Tất cả những tác động ấy của con người làm cho đất đai vốn dĩ là
sản phẩm của tự nhiên trở thành một sản phẩm của lao động. Như Mac - Anghen đã dẫn:
“tuy có những thuộc tính tự nhiên như nhau nhưng một đám đất được canh tác có giá trị lớn
hơn một đám đất bỏ hoang”.
Con người không tạo ra được đất đai, nhưng bằng những lao động của mình (lao
động sống và lao động vật hóa) mà cải thiện đất đai, làm cho đất đai từ xấu trở thành tốt hơn
và làm tăng sản lượng ruộng đất.
c. Đặc điểm về sự chiếm hữu và sở hữu đất đai.
Từ xa xưa, khi loài người còn sống thành bầy đàn, con người chuyển từ săn bắt sang
trồng cây trên những đất đai chiếm được và trở thành sở hữu chung của cộng đồng.
Cùng với tiến trình phát triển của xã hội loài người chế độ sở hữu và chiếm hữu đất
đai cũng phát triển theo nhiều kiểu khác nhau. Tuy nhiên “Sở hữu ruộng đất khác với các
hình thái sở hữu khác ở chổ là, đến một trình độ phát triển kinh tế nhất định, nó trở nên


thừa và có hại, ngay cả khi xét trên quan điểm của phương thức tư bản chủ nghĩa” ( trích
Mac - Anghen toàn tập, tập 25 phần II, trang 252. NXB Chính trị quốc gia, năm 1994).
d. Tính đa dạng phong phú của đất đai.

hóa, sinh vật học....tạo nên độ phì nhiêu của đất; kết cấu và độ bền vững của đất; mức độ
thoái hóa của đất; mức độ chua mặn của đất...
Việc đánh giá và phân hạng đất đai là một công tác khoa học rất phức tạp, nhằm xác
định tác dụng sử dụng đất cụ thể cho từng vùng, từng diện tích đất. Đây là việc làm hết sức
cần thiết trong điều kiện nền kinh tế thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, sản xuất
phát triển và ổn định đời sống của nhân dân. Việc xác định giá cả của các loại đất đòi hỏi
phải phân hạng đất, đồng thời phải xem xét cụ thể vị trí, địa hình, mục đích sử dung của
từng đơn vị diện tích đất, cũng như xem xét quan hệ cung - cầu được hình thành trên thị
trường bất động sản và xu hướng biến động của chúng. Đó là cơ sở rất quan trọng cho việc
tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, tính tiền khi giao đất, bồi thường thiệt hại khi thu hồi
đất, tính quyền sử dụng đất khi góp vốn liên doanh...
Điều 12, Luật đất đai năm 1993 quy định: “Nhà nước xác định giá các loại đất để
tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài
sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất đai khi thu hồi đất. Chính phủ quy định khung
giá các loại đất đối với từng vùng và theo từng thời gian”.
Để đánh giá đất đai, Luật đất đai quy định việc chỉ đạo và tổ chức, lập bản đồ Địa
chính như sau:
 Chính phủ chỉ đạo và tổ chức viêc lập bản đồ địa chính thống nhất trên phạm vi cả
nước. Cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương ban hành quy trình kỹ thuật, quy phạm xây
dựng bản đồ địa chính.
 Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố thực thuộc Trung ương chỉ đạo, tổ chức thực
hiện việc lập bản đồ địa chính ở địa phương mình.
 Bản đồ địa chính được lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn.
 Bản đồ địa chính gốc được giữ tại cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương. Các bản
sao được lưu giữ tại cơ quan quản lý đất đai tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, huyện,
quận, thị xã, Thành phố thuộc tỉnh và Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn; bản sao có giá
trị như bản gốc.


Để quản lý chặt chẽ đất đai, trên cơ sở bản đồ địa chính và hiện trạng sử dụng đất đai

 Khi thực hiện việc chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê quyền sử dụng
đất.
 Khi thực hiện các hợp đồng về sử dụng đất.
Sau khi đăng ký đất đai thì quyền sử dụng đất đai mới có cơ sở pháp lý và cơ sở để
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Điều 33, Luật đất đai quy định các trường hợp trên đây có trách nhiệm đăng ký sử
dụng đất tại ủy ban nhân dân xã, phường. ủy ban nhân dân xã, phường có trách nhiệm lập và
quản lý sổ địa chính, đăng ký vào sổ địa chính đất chưa sử dụng và sự biến động về việc sử
dụng đất.
d. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai là giấy chứng nhận pháp lý xác nhận quan hệ
hợp pháp giữa Nhà nước với quyền sử dụng đất của người sử dụng đất đai. Cần phân biệt
Quyết định giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quyết định giao đất là cơ sở


phát sinh quyền sử dụng đất, còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở của mối quan
hệ pháp lý giữa Nhà nước với người sử dụng đất trong qúa trình quản lý và sử dụng đất đai.
Điều 36, Luật đất đai quy định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:
 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương phát
hành.
 Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Quyết định giao đất thì cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Trong trường hợp Chính phủ giao đất thì ủy ban nhân tỉnh, Thành phố
trực thuộc Trung ương giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
 Trong trường hợp thửa đất có nhiều cá nhân không cùng một hộ gia đình hoặc
không cùng một tổ chức sử dụng, thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp đến từng
tổ chức, từng hộ gia đình, từng cá nhân.
Người sử dụng đất (các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân) được ủy ban nhân dân xã,
phường xác nhận thì được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét và giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Diện tích đất đang sử dụng được ghi rõ trên bản đồ địa chính (hình dáng,
kích thước của thửa đất, vị trí, ranh giới, loại, hạng đất...) và diện tích đang sử dụng được

dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Khoản 1 Điều 17, Luật Đất đai quy định nội dung quy hoạch đất đai như sau:
+ Khoanh định các loại đất: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư
nông thôn, đất đô thị, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng của từng địa phương và cả nước.
+ Điêu chỉnh việc khoanh định cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh
tế- xã hội trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương.


Khoản 2 Điều 17, Luật Đất đai quy định nội dung kế hoạch sử dụng đất đai là khoanh
định việc sử dụng từng loại đất trong từng thời kỳ kế hoạch và điều chỉnh việc sử dụng đất
đai cho phủ hợp với quy hoạch đất đai.
- Xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là thực hiện quyền quản lý về đất đai của
các cơ quan có thẩm quyền nhằm đảm bảo quy hoach, kế hoạch sử dụng đất đai của cấp
dưới hợp lý, phù hợp với quy hoạch,kế hoạch chung, đồng thời đảm bảo quy hoạch, kế
hoạch đó có hiệu lực pháp lý.
Điều 18, Luật Đất đai quy định về thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đai như sau:
- Quốc hội Quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong cả nước.
- Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương.
- Uỷ ban nhân dân cấp trên xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của Uỷ ban
nhân dân cấp dưới trực tiếp.
- Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai nào
thì có quyền cho phép bổ sung điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch đó.
b. Những quy định về giao đất.
Đất đai là một tài nguyên vô cùng qúy giá. Quỹ đất đai có hạn, trong khi đó nhu cầu
đất đai để phát triển sản xuất, phục vụ xây dựng và đời sống ngày càng tăng. Vì vậy, việc
phân phối và phân phối lại đất đai đảm bảo công bằng và hợp lý là một trong những nội

 Từ 3 ha trở xuống đối với đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng, đất khu dân cư
nông thôn, đất đô thị và từ 5 ha trở xuống đối với đất trồng, đồi núi trọc cho mỗi


công trình đường bộ, đường sắt, đường điện, đê điều và từ 10 ha trở xuống đối với
đất trồng, đồi núi trọc cho mỗi công trình xây dựng hồ chứa nước.
 Giao đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng để hộ gia đình, cá nhân làm nhà ở; đất
chuyên dùng để sử dụng vào mục đích chuyên dùng khác hoặc để làm nhà ở; đất đô
thị định mức do Chính phủ quy định.
 Kế hoạch giao đất khu dân cư nông thôn để Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, Thành
phố thuộc tỉnh giao đất cho hộ gia đình cá nhân làm nhà ở.
 Giao đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp cho các tổ chức.
 Quyết định mức giao đất cho mỗi hộ nông dân được sử dụng làm nhà ở theo Quyết
định của Chính phủ đối với từng vùng như khung giá 400m2/hộ.
 Quyết định diện tích giao đất cho nhà chùa, nhà thờ, thánh thất đang sử dụng.
 Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, Thành phố trực thuộc tỉnh có các thẩm quyền sau:
 Giao đất cho các hộ gia đình và cá nhân sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm
nghiệp.
 Giao đất khu dân cư nông thôn cho hộ gia đình và cá nhân làm nhà trên cơ sở quy
hoạch đã được xét duyệt của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung
ương.
 Giao đất chưa sử dụng cho các tổ chức và cá nhân theo hình thức có thời hạn hoặc
tạm thời.
Các quy định về thẩm quyền giao đất như trên thể hiện tính chặt chẽ, rõ ràng và
nghiêm túc nhằm quản lý tốt đất đai - nguồn tài nguyên vô giá.
c. Những quy định về cho thuê đất.
Điều 29, Luật đất đai quy định: “Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc
cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất để sản xuất, kinh doanh theo quy định của



được quy định như sau: ở nông thôn thì làm tại Uỷ ban nhân dân xã, ở đô thị thì làm tại Uỷ
ban nhân dân quận, thị xã, Thành phố trực thuộc tỉnh.
+ Hộ gia đình, cá nhân sử dung đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được chuyển quyền
sử dụng đất khi:
 Chuyển đi nơi khác.
 Chuyển làm nghề khác.
 Không có khả năng sản xuất.
+Đối với đất ở, các hộ gia đình cá nhân được quyền chuyển nhượng ở các trường hợp
sau:
 Chuyển đi nơi khác.
 Không còn nhu cầu ở.
+ Hộ gia đình cá nhân được thừa kế quyền sử dụng đất dai thoe điều 76, Luật đất đai.
+ Hộ gia đình, cá nhân được thế chấp quyền sử dụng đất đai được thực hiện theo điều
77, Luật đất đai.
+ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy
sản trong những trường hợp khó khăn và được chính quyền địa phương xác nhận, thì được
quyền cho thuê đất theo thời hạn và mục đích quy định.


Thu hồi đất.
Để đảm bảo quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai, Nhà nước thực hiện biện pháp
thu hồi đất trong những trường hợp cần thiết. Điều 26, điều 27 và điều 28, Luật đất đai quy
định các trường hợp bị thu hồi đất, thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước trong việc thu hồi
đất và các nguyên tắc khi thu hồi đất.
3. Các quy định về kiểm tra, giám sát việc quản lý và sử dụng đất đai của Nhà
nước.
Kiểm tra, giám sát việc quản lý và sử dụng đất đai là một trong những nội dung của
chế độ quản lý Nhà nước về đất đai. Thông qua việc kiểm tra, giám sát, phát hiện những vi
phạm, những bất hợp lý trong việc thực hiện pháp luật về đất đai của Nhà nước, trong việc
quản lý và sử dụng đất đai.

việc xử lý như trên còn cần phải bồi thường cho người bị thiệt hại.


Chương II
Nội dung quản lý Nhà nước về tình hình sử dung đất ở Thành phố Hà Nội.
I. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của Thành phố Hà Nội.
1. Đặc điểm tự nhiên.
Thành phố Hà Nội là thủ đô của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm Bắc Bộ, giới hạn trong khoảng từ 20053’ đến 21023’ vĩ
độ Bắc, 105044’ đến 106002’ độ kinh Đông, tiếp giáp với năm Tỉnh: Thái Nguyên ở phía
Bắc, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Đông, Vĩnh phúc ở phía Tây, Hà Tây và Hà Nam ở phía
Nam. Hà Nội có diện tích 927,39 km2, khoảng cách dài nhất từ phía Bắc đến phía Nam
Thành phố trên 50 km và chỗ rộng nhất từ Tây sang Đông gần 30 km.
Là một Thành phố lớn nằm ở hai bên bờ sông Hồng trên vùng đồng bằng trù phú và
nổi tiếng từ lâu đời, Hà Nội có vai trò và địa thế đẹp và thuận lợi để trở thành trung tâm
chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trong nhất của nước ta.
Về mặt hành chính, Hà Nội là Thành phố trực thuộc Trung Ương, bao gồm 7 quận nội
thành (Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Thanh Xuân và Cầu Giấy) có diện tích
là 82,78 km2 (chiếm 8,9% diện tích toàn Thành phố) với 102 phường và 5 huyện ngoại
thành (Sóc Sơn, Đônh Anh, Gia Lâm, Thanh Trì và Từ Liêm) có diện tích 844,61 km2
(chiếm 91,1% diện tích toàn Thành phố) với 108 xã và 8 thị trấn. Về mặt diện tích tự nhiên,
Hà Nội là đơn vị hành chính vào loại nhỏ nhất trong 61 tỉnh, Thành phố ( chỉ trên Bắc Ninh,
Hà Nam và Hưng Yên ).
a. Địa hình.
Đại bộ phận diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với độ
cao trung bình từ 5-10 m so với mực nước biển. Còn lại chỉ có khu vực đồi núi ở phía Bắc


và Tây Bắc của huyện Sóc Sơn thuộc rìa phía Nam của dãy núi Tam Đảo có độ cao từ 20
đến trên 400 m với đỉnh cao nhất là núi Chân Chim cao 462 m.

hoạt động của hai mùa gió và các qúa trình thời tiết, đặc biệt diễn ra trong mỗi mùa. Vì thế
ở Hà Nội có năm rét sớm có năm rét muộn, có năm mùa nóng kéo dài, nhiệt độ cao nhất
(tháng 5-1962) lên tới 42,80C, lại có năm nhiệt độ thấp nhất xuống tới 2,70C(tháng 1-1955).
c.Thuỷ văn.
Hà Nội có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc với nhiều khúc sông mới chảy qua khu
vực sông Hồng ở phía Nam Thành phố với các sông Đuống và sông Nhuệ, và lưu vực sông
cầu ở phía Bắc với sông Cà Lô. Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài hơn 93 km với lưu
lượng nước bình quân hàng năm rất lớn, tới 2640 m3/s với tổng lượng nước chảy qua tới
83,5 triệu m3. Sông Đuống chỉ lưu quan trọng của sông Hồng trên địa bàn Hà Nội hàng năm
cũng vận chuyển một lượng nước là 27,3 triệu m3 với lưu lượng bình quân 861 m3/s. Các
sông ở Hà Nội có thuỷ chế theo hai mùa rõ rệt: Mùa lũ thường kéo dài 5 tháng, từ tháng 6
đến tháng 10, cao nhất vào tháng 8, trên sông Hồng mực nước trung bình của tháng 8 lên tới
8,6m trong khi mực nước trung bình cả năm có 4,97 m, đặc biệt trong mùa lũ lịch sử 1971,
mực nước cao nhất đo được ở Hà Nội là 14,13 m (ngày 22-8 1971). Mùa cạn thường kéo dài
hơn, tới 7 tháng, từ tháng 11 đến tháng 5, với mức thấp nhất cả về mức nước lẫn lưu lượng
nước vào tháng 3. Trên sông Hồng mực nước trung bình của tháng 3 là 2,56 m.
Hà Nội có nhiều hồ, đầm tự nhiên và hệ thống sông, kênh để tiêu và tưới nước. Do
yêu cầu đô thị hoá, nhiều ao, hồ đã bị san lấp để lấy đất xây dựng. Một số đầm và vùng
trũng ở Thanh Trì, được cải tạo để thả cá hoặc kết hợp để trồng lúa.Khu vực nội thành tập
trung khá nhiều hồ như hồ: Bảy Mẫu, Hoàn Kiếm, Thuyền Quang, Thủ Lệ, Văn Chương,
Giảng Võ… đặc biệt có Hồ Tây nằm ở quận Ba Đình và quận Tây Hồ rộng gần 500 ha là
một thắng cảnh đẹp của thủ đô và là nơi cung cấp thủy sản có giá trị.
Hà Nội có nguồn nước ngầm khá phong phú hiện đang được khai thác để Thỏa mãn
nhu cầu nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất, đặc biệt ở khu vực nội thành.
d. Thổ nhưỡng và sinh vật.


Hà Nội có 4 loại đất chinh đố là đất phù sa trong đê, đất phù sa ngoài đê, đất bạc màu
và đất đồi núi.
Phần lớn đất đai của Hà Nội thuộc nhóm đất phù sa của các hệ thống sông Hồng và

Khai-Vĩnh Tuy, Thượng Đình, Đông Anh, Cầu Diễn-Nghĩa Đô, Gia Lâm-Yên Viên, Trương
Định-Đuôi Cá, Văn Điển-Pháp Vân, Chiêm, cầu Bươu. Nhìn chung các khu vực này đã xây
dựng từ lâu (1960), phần lớn thiết bị thuộc loại cũ, nhiều lao động hiệu quả thấp. Nhiều khu
vực công nghiệp tập trung xen kẻ với các khu vực dân cư đông đúc (Thượng Đình, Minh
Khai-Vĩnh Tuy, Trương Định-Đuôi cá), việc xử lý chất thải không tốt gây ảnh hưởng rất lớn
đến môi trường và đời sống dân cư. Vì vậy ở các khu vực công nghiệp này, chủ yếu đầu tư
theo chiều sâu, thay đổi thiết bị công nghệ, hiện đại hoá sản xuất.
- Khu vặc Minh Khai-Vĩnh Tuy: có 3 xí nghiệp quốc doanh trung Ương và địa
phương, với 3 ngành then chốt là dệt, chế biến lương thực-thực phẩm và cơ khí. Các xí
nghiệp lớn là dệt 8-3, liên hợp dệt sợi Hà Nội, bia Halida, kẹo Hải Hà, Hải Châu...
- Khu vực Thượng Đình có 29 xí nghiệp quốc doanh với hai ngành công nghiệp chủ
chốt là cơ khí và vật liệu xây dựng. Ngành cơ khí công nghiệp đang được đầu tư theo chiều
sâu theo hướng chuyên môn hoá: cơ khí dùng (phụ tùng xe đạp và xe đạp hoàn chỉnh), sửa
chữa lắp ráp ôtô, động cơ điện. Các nhà máy lớn: chế tạo thiết bị điện, động cơ điện Việt
Hưng.
- Khu vực Trương Định-Đuôi cá: có 13 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh với hai
ngành chủ chốt là chế biến lương thực - thực phẩm và cơ khí. Các xí nghiệp lớn ở đây là xí
nghiệp đồ hộp xuất khẩu, mì Hoàng Mai, cơ khí 120...
- Khu vực Pháp Vân-Văn Điển có 14 xí nghiệp quốc doanh với hai ngành then chốt là
công nghiệp hoá chất và cơ khí. Các xí nghiệp ở đây là hoá chất Văn Điển, pin, phân lân...
- Khu vực Cầu Diễn - Nghĩa Đô: có 82 xí nghiệp quốc doanh với 2 ngành chủ đạo là
chế biến lương thực - thực phẩm và hoá chất. Các xí nghiệp 3 khu vực này mới hơn so với
khu vực Thượng Đình,Trương Định - Đuôi Cá song thiết bị chưa hiện đại.


- Khu vực Gia Lâm - Yên Viên: có 21 xí nghiệp quốc doanh với 3 ngành then chốt là
cơ khí, chế biến gỗ và hoá chất. Các nhà máy lớn: hoá chất Đức Giang, diêm Thống Nhất.
- Khu vực Chèm: có 5 xí nghiệp quốc doanh với 2 ngành công nghiệp then chốt là vật
liệu xây dựng và dệt.
- Khu vực Cầu Bưu: có 5 xí nghiệp quốc doanh với 2 ngành then chốt là vật liệu xây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status