Quyền có việc làm của người lao động theo pháp luật lao động Việt Nam - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ TUYẾT NHUNG

QUYỀN CÓ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
THEO PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 62 38 01 07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Chí

HÀ NỘI - 2016


MỤC LỤC
MỞ ĐÀU .................................................................................................................... 1

Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
THUYẾT NGHIÊN CỨU .............................................................................. 7
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu .......................................................................... 7
1.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu ................................................................................ 14

Chƣơng 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CÓ VIỆC LÀM
CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG ........... 16
2.1. Lý luận chung về quyền có việc làm của người lao động ................................. 16
2.2. Quyền có việc làm của người lao động trong pháp luật lao động ..................... 26

ICESCR

: Công ước các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

ICCPR

: Công ước về các quyền dân sự, chính trị

ILO

: Tổ chức Lao động Quốc tế

LĐTB&XH

: Lao động Thương binh và Xã hội

UBND

: Ủy ban nhân dân

HĐND

: Hội đồng nhân dân

TAND

: Tòa án nhân dân

BLLĐ


KTTT

: Kinh tế thị trường

TTLĐ

: Thị trường lao động

XKLĐ

: Xuất khẩu lao động

DVVL

: Dịch vụ việc làm

NKT

: Người khuyết tật

LĐN

: Lao động nữ

CTN

: Chưa thành niên

HĐLĐ:



WTO

: Tổ chức Thương mại thế giới

TPP

: Hiệp định Thương mại Xuyên Thái Bình Dương

CĐCS

: Công đoàn cơ sở

TLTT

: Thương lượng tập thể

PBGDPL

: Phổ biến, giáo dục pháp luật

QHXH

: Quan hệ xã hội


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền có việc làm là một trong những quyền cơ bản của con người để đảm bảo
cuộc sống và sự phát triển toàn diện. Việc thực hiện quyền có việc làm cho NLĐ

càng đóng vai trò quan trọng kết nối cung cầu lao động, qua đó tận dụng tối đa
nguồn nhân lực cho phát sự triển của đất nước, từng bước nâng cao chất lượng việc
làm, cải thiện đời sống và bảo đảm quyền có việc làm của NLĐ.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, so với yêu cầu thực tiễn, nhất
là trong bối cảnh nước ta đang thực hiện mục tiêu hoàn thiện hệ thống văn bản pháp
luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thì việc bảo đảm các quyền con người
nói chung và quyền có việc làm của NLĐ vẫn là một vấn đề tồn tại, còn nhiều hạn
chế, bất cập cần khắc phục. Các văn bản PLLĐ, chính sách về việc làm ra đời nhưng
việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chưa đầy đủ, thống nhất, chưa thực
sự theo sát thực tiễn, hiệu quả còn thấp. Công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện PLLĐ,
chính sách về việc làm chưa được thường xuyên, việc xử lý vi phạm chưa thực sự
nghiêm minh, ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền có việc làm của NLĐ.
Mặc dù TTLĐ Việt Nam đã bước đầu hình thành và phát triển nhưng tập trung
chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn có nhiều các khu công nghiệp, khu chế xuất ở ba
vùng kinh tế trọng điểm, còn ở các tỉnh khác mức độ rất sơ khai. Di chuyển lao động
diễn ra mạnh, nhưng chủ yếu theo hướng từ Bắc vào Nam và từ nông thôn ra thành thị,
nơi TTLĐ sôi động. Hệ thống thông tin TTLĐ chưa hoàn thiện, hệ thống giao dịch việc
làm chưa mạnh, chủ yếu vẫn là hình thức trực tiếp giữa NLĐ và NSDLĐ. Thực trạng
bảo đảm quyền có việc làm cho NLĐ ở nước ta đang đặt ra những vấn đề cấp bách
cần được giải quyết. Tình hình thất nghiệp và thiếu việc làm đang diễn biết hết sức
phức tạp, theo chiều hướng bất lợi và luôn ở mức cao, vấn đề lừa đảo đưa NLĐ Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài vẫn diễn ra hết sức phức tạp. Bên cạnh đó vấn đề
việc làm đang đứng trước những thách thức rất lớn về bối cảnh kinh tế toàn cầu, về
chất lượng lao động, độ bền vững trong việc làm, hiệu quả tạo việc làm, cơ cấu đào
tạo cũng như phân bổ lao động theo ngành và theo vùng lãnh thổ.
Thực trạng trên cho thấy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý
luận cũng như thực tiễn áp dụng các quy định của PLLĐ về quyền có việc làm của
NLĐ, từ đó đưa ra những định hướng và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện PLLĐ về
quyền có việc làm cho NLĐ có ý nghĩa quan trọng và có tính cấp thiết. Cũng từ những
lý do nêu trên, nghiên cứu sinh quyết định lựa chọn đề tài “Quyền có việc làm của

3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn, nội dung
của pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia liên quan đến quyền có việc làm
của NLĐ, thực trạng quy định pháp luật và thực trạng thực thi PLLĐ Việt Nam về
quyền có việc làm của NLĐ.

3


3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền có
việc làm của NLĐ trong PLLĐ; thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về quyền
có việc làm của NLĐ để xây dựng các luận cứ cho việc hoàn thiện PLLĐ về quyền
có việc làm của NLĐ ở Việt Nam hiện nay. Về mặt thời gian, luận án sẽ tập trung
nghiên cứu các quy định của PLLĐ Việt Nam về quyền có việc làm của NLĐ được
quy định trong BLLĐ năm 2012 đến nay.
Những nội dung liên quan đến vấn đề lao động, nguồn nhân lực, lao động trẻ
em, lao động là người giúp việc gia đình, lao động là người nước ngoài làm việc tại
Việt Nam, giải quyết tranh chấp lao động và đình công, luận án xin không đề cập
đến hoặc nếu có đề cập thì chỉ dừng lại ở mức độ nhất định.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử. Các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về việc bảo đảm
quyền con người, quyền công dân cũng là phương pháp luận nghiên cứu của đề tài.
Ngoài ra, luận án sẽ áp dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, liên
ngành, luật học so sánh và thực hiện khảo cứu qua những tài liệu thứ cấp trong và
ngoài nước để làm sáng tỏ các vấn đề cần được nghiên cứu trong phạm vi đề tài.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng linh hoạt, cụ thể như sau:
Chương 1: Phương pháp tổng hợp, thống kê, thu thập, phân tích, tiếp cận đa
ngành nhằm đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.

trên thế giới để chỉ ra những vấn đề hợp lý, chưa hợp lý, những hạn chế, bất cập
trong các quy định PLLĐ hiện hành của Việt Nam.
- Luận án đưa ra các định hướng và giải pháp, kiến nghị sửa đổi, bổ sung
nhằm hoàn thiện PLLĐ Việt Nam, nâng cao hiệu quả trong việc ghi nhận, bảo vệ,
bảo đảm và thúc đẩy quyền có việc làm của NLĐ.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
Về phương diện lý luận, luận án góp phần củng cố và hoàn thiện cơ sở lý luận
về quyền có việc làm của NLĐ theo PLLĐ Việt Nam để các nhà làm luật, các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền, NSDLĐ, NLĐ tham khảo, vận dụng trong quá trình
thực hiện hoặc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện PLLĐ về quyền có việc làm của NLĐ.
Về phương diện thực tiễn, luận án góp phần nâng cao hơn nữa trách nhiệm của
các chủ thể, hiệu quả các biện pháp hỗ trợ và bảo đảm thực hiện quyền có việc làm
của NLĐ. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về lao
động. Đồng thời kết quả nghiên cứu mà luận án đưa ra có thể làm tài liệu tham khảo

5


cho việc nghiên cứu, giảng dạy môn Luật Lao động trong các trường đại học, cao
đẳng ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận
án gồm 04 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận về quyền có việc làm của người lao động
trong pháp luật lao động
Chƣơng 3: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về quyền có việc làm của
người lao động
Chƣơng 4: Hoàn thiện pháp luật lao động về quyền có việc làm của người lao
động ở Việt Nam

Nghiên cứu về “Quy n của NL

theo LL

của Nh t

n” [65] của tác giả

Mutsuko Asakura có đưa ra các tiêu chuẩn, định nghĩa mối QHLĐ và công cụ để
thiết lập các tiêu chuẩn lao động. Tác giả phân tích các nguyên tắc cơ bản của PLLĐ
và các quyền của NLĐ nêu rõ một số khái niệm về HĐLĐ, NLĐ, NSDLĐ và mối

7


QHLĐ trong Luật Tiêu chuẩn lao động của Nhật Bản. Đặc biệt, tác giả nêu quy định
về trách nhiệm hình sự đối với những người vi phạm quyền của NLĐ.
Nghiên cứu “Employee job rights: Foundation Considerations”, của Molz,
Rick - Journal of Business Ethics (1986-1987); August 1987, page 449. Theo tác
giả, quyền của mọi người được có và giữ việc làm là một chủ đề phức tạp và có tính
nhạy cảm, vì vậy quyền của NLĐ đã trở thành một vấn đề gây tranh cãi, với một số
Tòa án ra luật cho NLĐ có quyền cơ bản trong việc giữ công việc của họ. Tác giả
xác định những giả thuyết cơ sở và phân tích sắc bén về các quyền của NLĐ, theo
tác giả những quyền này là những đòi hỏi lẫn nhau giữa NLĐ và NSDLĐ trong việc
đưa ra các giải pháp tốt nhất cho vấn đề về các quyền của NLĐ. Để thành công thì
điều này đòi hỏi sự cam kết của cả hai bên.
Sách “Globalization and the future of labour law” (2006), John D.R. Craig
and S.Micael Lynk. Tài liệu đã đề cập đến nội dung mà luận án quan tâm đó là
không phân biệt đối xử buộc thôi việc khi LĐN trong giai đoạn mang thai, bảo đảm
quyền cho LĐN được trở lại làm việc và hưởng mức lương tương đương với vị trí


qua đầu tư trực tiếp nước ngoài vào

Việt Nam” [14] của Bùi Anh Tuấn nghiên cứu những vấn đề lý luận về việc làm,
giải quyết các vấn đề việc làm và tạo việc làm cho NLĐ qua vốn FDI. Tác giả đã
đưa ra khái niệm “việc làm”; phân tích thực trạng tạo việc làm qua vốn FDI, những
nhân tố hạn chế tạo việc làm qua vốn FDI vào Việt Nam và đưa ra những giải pháp
tạo việc làm cho NLĐ qua vốn FDI vào Việt Nam. Tác giả đã đưa ra khái niệm về
việc làm tiếp cận dưới góc độ kinh tế học. Nghiên cứu sinh sử dụng khái niệm này
để làm phong phú thêm quan niệm về việc làm dưới nhiều góc độ khác nhau trong
quá trình thực hiện đề tài.
Luận án Tiến sĩ “Tạo việc làm cho L N Hà Nội trong thời kỳ CNH, H H”,
của Trần Thị Thu. Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về việc làm, luận
giải hai điều kiện của khái niệm việc làm [99], tạo việc làm cho NLĐ ở các nước
đang phát triển và khả năng vận dụng vào phân tích việc làm, tạo việc làm cho
LĐN, đặc biệt trong thời kỳ CNH, HĐH hiện nay. Tác giả đề cập đến những nhân
tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho LĐN trong thời kỳ CNH, HĐH, đi sâu phân tích
và đánh giá thực trạng việc làm, chỉ ra các nhân tố tạo việc làm, một số mô hình tạo
việc làm cho LĐN, chỉ ra những nguyên nhân của tình hình việc làm và tạo việc
làm cho LĐN Hà Nội và đưa ra một số giải pháp tạo việc làm cho LĐN Hà Nội
trong CNH, HĐH.
Cuốn sách “Những vấn đ lý lu n và thực tiễn của nhóm quy n kinh tế, văn
hóa và xã hội” của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, do GS.TS Võ Khánh Vinh
làm chủ biên. Đây là công trình có ý nghĩa rất lớn về mặt lý luận và thực tiễn khi
nghiên cứu về quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội.

9


Liên quan đến quyền của NLĐ, quyền có việc làm phải kể đến bài viết “Các

thực hiện các quyền con người khác...[53]. Từ những luận giải đã gợi mở cho nghiên
cứu sinh định hướng nghiên cứu về quyền có việc làm của NLĐ dưới góc độ quyền
con người. Bên cạnh đó, tại chương II, phần “bảo đảm quyền con người của NLĐ”,
“Bảo đảm quyền tự do việc làm của NLĐ trong PLLĐ Việt Nam” là những nội dung
rất hữu ích, có giá trị tham khảo trong việc nghiên cứu đề tài, vì quyền có việc làm
của NLĐ tiếp cận dưới góc độ quyền con người là một nội dung hoàn toàn mới.
Cuốn sách “Giới thiệu Công ước quốc tế v các quy n kinh tế, xã hội và văn
hóa” [49] của Trung tâm nghiên cứu quyền con người - Quyền công dân, Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội. Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện quyền

10


về con người theo ICESCR, công trình tập trung đi sâu phân tích nội hàm các quyền
được ghi nhận trong ICESCR, các Bình luận/Khuyến nghị chung của Ủy ban về các
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của UN, mô tả cơ chế giám sát việc thực thi
ICESCR. Đặc biệt, công trình có nhiều nội dung phân tích, bình luận về quyền làm
việc của NLĐ. Công trình thực sự là một nguồn tài liệu quý để nghiên cứu sinh
tham khảo, kế thừa và hoàn thiện luận án của mình, nhất là tại chương 2.
Thứ hai, nhóm các nghiên cứu liên quan đến các quy định v quy n có việc
làm của NL theo PLL Việt Nam và thực trạng áp dụng
Một số công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề: Các giáo trình, tập bài
giảng môn Luật Lao động của một số trường Đại học viết về các nội liên quan đến đề tài
như “Giáo trình Luật Lao động Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công
an nhân dân phát hành năm 2013 do TS Lưu Bình Nhưỡng làm chủ biên (103); “Giáo
trình Luật Lao động” của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Nxb Hồng Đức xuất
bản năm 2013 do PGS.TS.Trần Hoàng Hải làm chủ biên; “Giáo trình Luật Lao động”
của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội phát
hành năm 1990 do tác giả Phạm Công Trứ làm chủ biên. Các tài liệu này cung cấp cho
nghiên cứu sinh nhiều quy định của PLLĐ hiện hành và vận dụng các quy định pháp luật

nghiên cứu sinh hoàn thành luận án. Bài “Chính sách việc làm - Thực trạng và gi i
pháp” của Nguyễn Thúy Hà [76] nghiên cứu nhiều nội dung liên quan đến chính sách
việc làm và thực tiễn áp dụng ở nước ta qua hơn 25 năm đổi mới đất nước. Tác giả đã
phân tích, đánh giá và chỉ ra những ưu điểm, vấn đề còn hạn chế, bất cập trong chính
sách việc làm ở nước ta, đặc biệt tác giả đã đưa ra nội dung dự báo về những khó
khăn, thách thức trong việc bảo đảm quyền có việc làm của NLĐ ở nước ta giai đoạn
2016 - 2020. Đây là nội dung có giá trị tham khảo trong việc nghiên cứu đề tài.
Bên cạnh các công trình nói trên, còn một số bài viết mang tính nghiên cứu, trao
đổi đưa đến các nội dung khác nhau về vấn đề mà luận án lựa chọn, đây cũng chính là
những tài liệu thật sự hữu ích giúp nghiên cứu sinh phân tích, đánh giá các quy định
của PLLĐ về việc bảo vệ, bảo đảm quyền có việc làm của NLĐ, đồng thời gợi mở
cho nghiên cứu sinh hướng hoàn thiện PLLĐ về quyền có việc làm của NLĐ trong
thời gian tới như: bài của Tuấn Kiệt “

o đ m quy n lợi của NL ” [105],“Việt Nam

luôn nhất quán b o đ m quy n lợi của NL ” [108]; Hải Châu “60 doanh nghiệp vi
phạm số giờ lao động” [32]; Thanh Hoài “Lao động Việt Nam bỏ trốn ở nước ngoài
và những hệ lụy” [92]; Trương Lê Mỹ Ngọc “Gi i pháp ngăn chặn tình trạng lao
động xuất khẩu bỏ trốn” [103] và “XKL

qua 6 năm thực hiện lu t: Còn nhi u

vướng mắc”; Thanh Hằng “Thực hiện chính sách đối với L N còn nhi u bất c p”
[91]; “Ưu đãi thuế nếu tuyển 30% lao động khuyết t t chưa thu hút doanh nghiệp”
[106]; La Hoàn “Thực trạng HTN ở Việt Nam và gi i pháp đi u hành” [53]; Hoàng
Tuyết “Cần phát huy tối đa vai trò của C CS” [37]; Trần Tố Hảo “Xây dựng đội
ngũ công nhân lao động trong đi u kiện CNH, H H” [101]; Vũ Đức Đam “ ổi mới
toàn diện dạy ngh , b o đ m an sinh xã hội” [111]...
1.1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

Thứ nhất, về mặt lý luận, xác định rõ các quyền của NLĐ, đưa ra khái niệm và
luận giải nhằm làm sáng tỏ bản chất quyền có việc làm của NLĐ, qua đó chỉ ra đặc
điểm để làm rõ sự khác biệt giữa quyền có việc làm của NLĐ với quyền làm việc.
Thứ hai, luận giải nhu cầu phải điều chỉnh bằng pháp luật về quyền có việc làm
của NLĐ, đánh giá các quy định của pháp luật trong việc ghi nhận, bảo đảm thực
hiện và thúc đẩy quyền có việc làm của NLĐ; về trách nhiệm của các chủ thể trong
việc bảo vệ, bảo đảm nhằm duy trì quyền có việc làm của NLĐ.

13


Thứ ba, về thực tiễn, đi sâu phân tích, đánh giá các quy định của PLLĐ Việt
Nam về quyền có việc làm của NLĐ, về trách nhiệm của các chủ thể, các biện pháp
nhằm bảo đảm quyền có việc làm NLĐ và thực tiễn áp dụng các quy định này, qua
đó làm rõ hơn vai trò của các chủ thể trong việc ghi nhận, bảo vệ, bảo đảm và thúc
đẩy quyền có việc làm của NLĐ hiện nay.
Thứ tư, chỉ ra các hướng, các giải pháp hoàn thiện các quy định của PLLĐ Việt
Nam nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện PLLĐ về quyền có việc làm của NLĐ.
1.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
1.2.1. Lý thuyết nghiên cứu
- Các lý thuyết về quyền con người;
- Các lý thuyết về quyền làm việc, quyền có việc làm của NLĐ dưới góc độ
quyền con người;
- Các lý thuyết về nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật về quyền có việc làm của
NLĐ, ghi nhận, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy quyền có việc làm của NLĐ
theo pháp luật quốc tế và PLLĐ Việt Nam.
1.2.2. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết về quyền làm việc, quyền có việc làm của NLĐ hiện nay như thế
nào? Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật về quyền có việc làm của NLĐ? Việc ghi
nhận, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy quyền có việc làm của NLĐ; trách nhiệm của

trình, bài viết nghiên cứu về quyền có việc làm của NLĐ, quyền có việc làm của
NLĐ theo PLLD Việt Nam và thực trạng áp dụng cho tới nay chưa nhiều, chủ yếu
mới đề cập ở phạm vi nhỏ, hẹp, chưa mang tính hệ thống.
Hai là, luận án đã chỉ ra những vấn đề mà nhóm các công trình nghiên cứu chưa
giải quyết thấu đáo hoặc tiếp tục phải nghiên cứu đề hoàn thiện. Đó là cần làm rõ về
mặt khoa học những cơ sở lý luận về quyền làm việc, quyền có việc làm của NLĐ
gồm: khái niệm quyền làm việc, khái niệm, đặc điểm quyền có việc làm của NLĐ.
Cần làm sáng tỏ nhu cầu phải điều chỉnh bằng pháp luật về quyền có việc làm của
NLĐ, đánh giá các quy định của pháp luật trong việc ghi nhận, bảo đảm thực hiện và
thúc đẩy quyền có việc làm của NLĐ; trách nhiệm của các chủ thể trong việc bảo vệ,
bảo đảm nhằm duy trì và thúc đẩy quyền có việc làm của NLĐ. Đồng thời đi sâu
phân tích, đánh giá các quy định của PLLĐ Việt Nam về quyền có việc làm của
NLĐ và thực tiễn áp dụng các quy định này, từ đó chỉ ra các hướng và các giải pháp
hoàn thiện các quy định của PLLĐ Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
PLLĐ về quyền có việc làm của NLĐ.

15


Chƣơng 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CÓ VIỆC LÀM
CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
2.1. Lý luận chung về quyền có việc làm của ngƣời lao động
2.1.1. Khái niệm và đặc điểm quyền có việc làm của người lao động
2.1.1.1. Khái niệm quy n có việc làm của người lao động
a. Quy n có việc làm của người lao động xuất phát từ quy n con người
Quyền con người là một phạm trù đa diện, có quá trình phát triển rất lâu đời trong
lịch sử nhân loại, là một vấn đề khá phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức,
chính trị, pháp lý... Tùy theo cách tiếp cận, nhìn nhận mà có nhiều quan điểm khác
nhau về quyền con người. Đến nay có khoảng 50 định nghĩa về quyền con người đã

pháp luật của mỗi quốc gia và pháp luật quốc tế. Trong luận án này, tác giả đồng
tình với định nghĩa quyền con người của Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
Quyền con người là vấn đề luôn được UN quan tâm, với mục tiêu duy trì hòa
bình và an ninh thế giới, UN đã soạn thảo hàng trăm văn kiện quốc tế về quyền con
người. Năm 1948, UN đã thông qua UDHR để ghi nhận tất cả các quyền con người
trên các lĩnh vực trong 30 điều. Bản Tuyên ngôn được đánh giá là một trong những
thành tựu lớn của UN bởi đây không chỉ là văn kiện đầu tiên khẳng định các nguyên
tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người đã được ghi nhận trong Hiến chương, mà
còn ghi nhận các quyền và tự do của con người một cách cụ thể như các quyền liên
quan đến chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, dân sự. Trên cơ sở UDHR, UN đã cụ thể
hóa các quy định về quyền con người bằng các Tuyên bố, Công ước, trong đó phải kể
đến hai Công ước quốc tế quan trọng nhất năm 1966 đó là ICESCR và ICCPR. Hai
công ước này ghi nhận các quyền con người trên tất cả năm lĩnh vực của đời sống xã
hội như dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.
Ở Việt Nam quyền con người, quyền công dân được quy định đầy đủ trong Hiến
pháp năm 2013 với 36 điều. Hiến pháp quy định: Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam,
các quy n con người, quy n công dân v chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội
được công nh n, tôn trọng, b o vệ, b o đ m theo Hiến pháp và pháp lu t. Quy n con
người, quy n công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của lu t trong trường hợp
cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, tr t tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội,
sức khỏe của cộng đồng [83, Điều 14]. Theo Hiến pháp các quyền con người ở Việt
Nam cũng được chia thành năm nhóm đó là quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa
và xã hội. Bên cạnh đó, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia các Công ước quốc tế
về quyền con người như ICESCR và ICCPR, Công ước về quyền trẻ em năm 1989,
Công ước về quyền của NKT năm 2006... Nội dung của các Công ước đều được nội
luật hóa trong các văn bản pháp luật Việt Nam. Điều này cho thấy việc coi trọng, bảo

17



trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. NLĐ hợp pháp ngày nay được đặt vào
vị trí chủ thể, có quyền tự do tìm kiếm việc làm, hoặc tạo ra việc làm cho người

18


khác trong khuôn khổ pháp luật, không còn bị phân biệt đối xử cho dù làm việc
trong hay ngoài khu vực nhà nước.
Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào hai điều kiện là thu nhập và tính hợp pháp để xác
định hoạt động lao động của con người có được thừa nhận là việc làm hay không còn
phụ thuộc vào pháp luật của mỗi nước và nó thay đổi theo từng thời kỳ. Bởi trên thực
tế, có những hoạt động lao động tuy cũng tạo ra thu nhập, đôi khi còn là thu nhập rất
cao, nhưng ở quốc gia này thì được coi là việc làm, ở quốc gia khác lại không được
thừa nhận là việc làm. Ví như hoạt động mại dâm ở Việt Nam thì không được thừa
nhận là việc làm bởi đó là hoạt động bị pháp luật ngăn cấm, trong khi ở Thái Lan hay
Philipines thì lại được thừa nhận là việc làm. Trong luận án này, tác giả đồng tình
với quan niệm về việc làm theo quy định của PLLĐ Việt Nam. Quan niệm về việc
làm ở nước ta, một mặt đã tiếp thu có chọn lọc các quan niệm về việc làm của các
quốc gia trên thế giới, của ILO, mặt khác đã thể hiện tính khái quát cao đồng thời
nêu lên các yếu tố cấu thành việc làm. Như vậy, việc làm là hoạt động không bị
pháp luật cấm, luôn gắn liền với NLĐ và tạo ra thu nhập cho họ. Vậy, một câu hỏi
đặt ra thế nào là NLĐ và họ có các quyền gì?
Theo Từ điển Kinh tế học: “Người làm thuê hay NL

là người được người khác

hoặc doanh nghiệp thuê để cung cấp dịch vụ lao động với tư cách đầu vào - nhân tố trong
quá trình s n xuất hàng hóa và dịch vụ” 77, tr.383. Theo ILO, người được đi làm việc
hoặc được đi lao động trên lãnh thổ của mình và trên những phương tiện vận chuyển có
đăng kiểm trong lãnh thổ của mình không một ai ở tuổi dưới mức tối thiểu đó được đi

hội, kể cả BHXH [57, Điều 6, 7, 8, 9]. Mặc dù các quyền của NLĐ được ghi nhận
trong UDHR và được cụ thể hóa trong ICESCR nhưng đó chỉ là sự ghi nhận mang
tính nguyên tắc chung. Các quyền của NLĐ còn được ghi nhận và bảo vệ bởi rất
nhiều văn kiện do ILO. Đặc biệt, ILO đã xây dựng các tiêu chuẩn lao động quốc tế
nhằm ghi nhận và bảo vệ các quyền của NLĐ thông qua việc ban hành 189 Công
ước và 203 khuyến nghị. Đây chính là những công cụ pháp lý chủ yếu, quan trọng
nhằm khuyến trợ công bằng xã hội và bảo đảm các quyền của NLĐ. Theo ILO,
quyền của NLĐ gồm 21 quyền sau: (1) Quyền làm việc (2) quyền công đoàn độc
lập (3) quyền không bị ép làm việc không lương (4) quyền nam nữ hưởng lương
bằng nhau (5) quyền không bị phân biệt đối xử (6) quyền không bị phân biệt đối xử
nếu có con cái (7) quyền được giúp đỡ và có việc làm thích hợp nếu bệnh tật (8)
quyền được đào tạo, bồi dưỡng có ăn lương (9) quyền không bị đuổi việc (10)
quyền được trả lương bằng tiền (11) quyền hưởng lương trên hoặc bằng mức tối
thiểu (12) quyền được trả lương nếu chủ sử dụng lao động bị phá sản (13) quyền
được nghỉ ít nhất nguyên một ngày mỗi tuần (14) quyền được quyền lợi tương
đương, nếu làm việc bán thời gian (15) quyền làm không quá 40 tiếng/tuần (16)
quyền nếu làm ca đêm (17) quyền an toàn lao động (18) quyền được bồi thường nếu
có tai nạn (19) quyền được nghỉ khi bị bệnh và chữa bệnh, quyền của phụ nữ mang
thai hoặc cho con bú sữa mẹ (20) quyền của lao động xuất khẩu (21) quyền được có
tiếng nói tham gia vào công việc phát triển đơn vị, cơ sở, bộ phận... nơi mình đang

20


lao động thông qua công đoàn, quản đốc hoặc cá nhân có ý kiến. Ngoài việc ghi
nhận hàng loạt quyền của NLĐ, ILO còn đưa ra cơ chế để theo dõi, giám sát việc
thực hiện các quyền này. Theo đó mọi quốc gia thành viên của ILO, ngay cả khi
quốc gia đó chưa phê chuẩn các công ước vẫn phải có nghĩa vụ nộp báo cáo quốc
gia hàng năm cho ILO. ILO yêu cầu các quốc gia thành viên cần phê chuẩn và sau
khi phê chuẩn các công ước phải có nghĩa vụ thi hành nhằm đảm bảo các quyền của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status