ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ KIM THOA BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM QUYỀN LỢI
CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ
VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 3
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BỒI THƢỜNG
THIỆT HẠI DO VI PHẠM QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG 8
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về người tiêu dùng và quyền của người tiêu
dùng 8
1.2. Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng 20
CHƢƠNG 2. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI
TIÊU DÙNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 34
2.1. Các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về bồi thường thiệt hại do vi
phạm quyền lợi của người tiêu dùng 34
2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về bồi
thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng 56
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM
QUYỀN LỢI CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG 73
3.1. Những vấn đề tồn tại trong pháp luật dân sự Việt Nam về bồi thường thiệt
hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng 73
3.2. Các đề xuất hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam về bồi thường thiệt hại
do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng 86
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
3
MỞ ĐẦU
cập cả về phương diện quy định và công tác tổ chức thực thi. Trong pháp luật
Việt Nam, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng được bảo vệ bằng
nhiều cách thức khác nhau, bằng nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Pháp
lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999, Bộ luật Dân sự năm 2005,
Luật chất lượng sản phẩm hàng hoá năm 2007, Pháp lệnh về quảng cáo … và
các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, những quy định này nói chung, quy
định về việc bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng nói
riêng, vẫn còn chung chung, các chính sách cũng không thật rõ, nên vẫn chưa
tạo lập được cơ chế thực sự hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến trách nhiệm
bồi thường thiệt hại - một trong những chế tài được áp dụng với các tổ chức, cá
nhân có hành vi vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng cả dưới góc độ lý luận
và thực tiễn sẽ góp phần phân tích và làm rõ các quy định của pháp luật dân sự
Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trên cơ sở đánh giá và
so sánh với hệ thống pháp luật của các quốc gia phát triển, thông qua đó có
những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật dân
sự Việt Nam về vấn đề này, tạo ra một khung pháp lý hoàn thiện góp phần thúc
đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập.
2. Tình hình nghiên cứu
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một nội dung rất quan trọng trong
pháp luật dân sự Việt Nam và các nước trên thế giới. Nó tạo ra khả năng bảo
đảm bồi thường cho người bị thiệt hại một cách kịp thời và đầy đủ nhất. Đây là
một vấn đề rất khó về lý luận và phức tạp trong thực tiễn áp dụng. Chế định này
cũng chỉ được đề cập thông qua các giáo trình và các đề tài về trách nhiệm dân
sự nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người
tiêu dùng nói riêng. Ở Việt Nam, nghiên cứu về vấn đề này cũng chỉ giới hạn ở
giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội và một số công trình đăng trong các
tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành.
5
Trong khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay chỉ có một số công trình gần
cách đầy đủ và toàn diện về vấn đề này.
Chính vì những lý do trên nên đề tài “Bồi thường thịêt hại do vi phạm
quyền lợi của người tiêu dùng theo Pháp luật Dân sự Việt Nam” là công trình
khoa học đầu tiên trong khoa học pháp lý của Việt Nam. Đề tài nhằm giải quyết
một cách tương đối có hệ thống những vấn đề có liên quan đến trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng, góp phần hoàn thiện
pháp luật dân sự của nước ta, đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, nhu
cầu hội nhập quốc tế.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng quy định của
pháp luật về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của
người tiêu dùng trong pháp luật dân sự Việt Nam. Từ đó, đưa ra các kiến nghị,
đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật dân sự trong vấn đề này, bảo
đảm việc nhận thức và áp dụng chúng một cách thống nhất trong thực tiễn.
Trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự Việt Nam
là một đề tài có phạm vi rất rộng và phức tạp, vì vậy luận văn này chỉ đi sâu
nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn liên quan đến trách
nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng.
Luận văn sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề có liên quan đến bồi thường thiệt hại do vi
phạm quyền lợi của người tiêu dùng, tìm hiểu một số quy định có liên quan đến
vấn đề này theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới.
Thứ hai, đi sâu tìm hiểu và phân tích các quy định về bồi thường thiệt hại
do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam, nghiên cứu thực trạng
các quy định pháp luật dân sự cũng như thực tiễn áp dụng các quy định pháp
luật dân sự về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng, từ
7
đó chỉ ra những tồn tại trong các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về vấn
đề này.
Thứ ba, trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các
1.1.1. Khái niệm Người tiêu dùng
Trong nền kinh tế thị trường, các giao dịch dân sự, thương mại, kinh tế
diễn ra khá nhộn nhịp và đa dạng với nhiều chủ thể tham gia vào các quan hệ
này (cá nhân, tổ chức, hộ gia đình …) dưới nhiều hình thức khác nhau (hợp
đồng viết tay, thoả thuận miệng, thông qua giao dịch điện tử …). Song không
phải mọi chủ thể tham gia vào các quan hệ mua bán, dịch vụ nêu trên đều được
coi là người tiêu dùng được bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng.
Người tiêu dùng là những ngưòi mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục
đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức. Từ tiếng Anh chỉ
người tiêu dùng là consumer, hoặc có nơi gọi là “end consumer” (người tiêu
dùng cuối cùng) để phân biệt với người mua, khách hàng nói chung (tiếng Anh
là customer). Khái niệm “khách hàng” mang nghĩa rộng hơn, dùng để chỉ người
mua hàng hoá, dịch vụ để sử dụng cho bản thân hoặc làm nguyên liệu cho sản
xuất, kinh doanh [8]. Do vậy, người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục
đích sản xuất, kinh doanh không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật bảp vệ
người tiêu dùng. Khái niệm người tiêu dùng hiểu theo nghĩa hẹp là người mua,
sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia
đình, tổ chức. Hiểu theo nghĩa rộng, người tiêu dùng ngoài mục đích mua bán
hàng hoá, sử dụng dịch vụ để phục vụ nhu cầu sinh hoạt có thể còn phục vụ cho
nhu cầu tái sản xuất kinh doanh.
Như vậy, có thể thấy rằng người tiêu dùng là tất cả mọi người, không
phân biệt tuổi tác, thành phần, dân tộc, giới tính, địa vị xã hội. Hơn nữa, người
9
tiêu dùng có mặt ở khắp mọi nơi, từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa,
hải đảo…
Trong một nền kinh tế, sức mua của người tiêu dùng chính là đòn bẩy, là
động lực thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ phát triển. Chính
bởi vậy, yêu cầu về việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng
được đặt ra như một yêu cầu tất yếu khách quan, cần có sự kết hợp của nhiều
viện, khu giải trí, vui chơi … Người tiêu dùng ở thành thị cũng rất đa dạng như
công nhân, thương nhân, trí thức, người lao động, nhà lãnh đạo kinh tế, nhà khoa
học, nhà quản lý, nhà chính trị, nhà báo, … Những năm đổi mới đã mang lại cho
các thành phố, thị xã một bộ mặt mới đầy màu sắc hấp dẫn, đáp ứng được tốt
hơn những nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng. Hàng hoá ngày một đa dạng
hơn, phong phú hơn, chất lượng nhiều mặt hàng được cải tiến hơn trước. Xuất
hiện nhiều hình thức dịch vụ, nhiều dạng khuyến mại mà trước đây không có.
Những biến đổi theo chiều hướng tích cực này ở những mức độ khác nhau
đã đáp ứng được những yêu cầu khác nhau của người tiêu dùng thành thị từ mức
thấp, bình thường đến mức cao, kể cả những đòi hỏi khắt khe của một số thị hiếu
đặc biệt. Tuy nhiên, tình hình diễn biến trong thời gian qua cũng đặt ra nhiều
vấn đề phức tạp trong tiêu dùng ở thành thị đòi hỏi phải được giải quyết. Từ chỗ
mọi chi dùng thiết yếu cho cuộc sống đều được kế hoạch hoá theo hệ thống định
mức và tem phiếu với một danh mục mặt hàng hạn chế, ngày nay người tiêu
dùng đã đứng trước một thị trường đầy ắp các loại hàng hoá khác nhau: hàng tốt
lẫn hàng xấu, hàng rẻ tiền lẫn với hàng cực đắt tiền, hàng nội lẫn hàng ngoại,
hàng thật lẫn hàng giả - mà hàng giả vẫn càng ngày càng có xu hướng phát triển.
Người tiêu dùng ở thành thị có trình độ kiến thức tiêu dùng cao hơn ở nông
thôn, nhưng cũng rất lúng túng khi lựa chọn để mua hàng vì thiếu những thông
tin đáng tin cậy, mà trên thị trường thì lại thừa những quảng cáo dễ gây mơ hồ
và những thông tin sai lệch.
Người tiêu dùng là phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số tiêu dùng
ở nước ta (50,84% tổng dân số). Đây là nhóm người tiêu dùng đông đảo và quan
11
trọng nhất, có mối quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với cuộc sống tiêu dùng ở nước
ta. Phụ nữ Việt Nam thường là người giữ vai trò chủ chốt trong sinh hoạt của gia
đình, do đó, trong lĩnh vực tiêu dùng họ không chỉ lo cho bản thân mình mà còn
lo cho chồng, con và mọi người trong gia đình. Trong lĩnh vực tiêu dùng, người
phụ nữ có nhiều kinh nghiệm hơn nam giới. Thường xuyên phải đi chợ, tới các
cửa hàng để mua sắm nên người phụ nữ có nhiều hiểu biết về lựa chọn hàng
tập thể hoá trong thoả mãn nhu cầu tinh thần khá cao. Một số hình thức hoạt
động nhìn bề ngoài có vẻ đáp ứng được những nhu cầu tinh thần của từng cá
nhân riêng lẻ như phim ảnh, văn công, sách báo, các buổi phát thanh trên đài …
nhưng thực chất sự đơn điệu trong nội dung của các hoạt động đó đã vô tình tạo
ra và duy trì sự phi cá tính trong cách thức thoả mãn nhu cầu cũng như trong sự
phát triển nhu cầu của con người. Điều này có ý nghĩa lịch sử khi nhìn nhận theo
mục đích của cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước. Nhưng nếu
xét theo góc độ phát triển xã hội nói chung thì đó là một hiện tượng tiêu cực.
Trình độ phát triển nhu cầu và trình độ tiêu dùng thấp không thể thúc đẩy nền
sản xuất xã hội phát triển.
Từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các điều kiện kinh tế – xã hội đã
nhanh chóng thay đổi. Có 4 yếu tố cơ bản tác động mạnh đến đặc điểm phát
triển hệ thống nhu cầu của người dân [29], bao gồm:
a) Phương thức quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường và các chính
sách khuyến khích sản xuất của các thành phần kinh tế đã căn bản làm thay đổi
thị trường hàng hoá tiêu dùng trong nước. Thời gian bao cấp trước kia chưa bao
giờ có được một thị trường các loại sản phẩm có thể thoả mãn các nhu cầu khác
của người dân một cách đa dạng và phong phú như hiện nay.
b) Những thay đổi trong quản lý kinh tế nói trên không chỉ làm cho các
sản phẩm tiêu dùng trở nên đa dạng mà còn tạo ra nhiều cơ hội để mỗi người
dân có thể tăng thêm thu nhập, có điều kiện để thoả mãn những nhu cầu hiện có.
13
c) Chính sách mở cửa, tăng cường giao lưu không chỉ về mặt kinh tế mà
cả về văn hoá với các nước đã tạo điều kiện cho lối sống của người nước ngoài
du nhập vào Việt Nam, làm cho người dân Việt Nam tiếp cận được với phong
cách sống, mức sống cao hơn của họ. Đó chính là một trong những yếu tố có
khả năng kích thích, làm này sinh những nhu cầu mới của người dân trong nước,
đặc biệt là cư dân đô thị.
d) Cùng với những thay đổi trong môi trường sống là những thay đổi
mà ngành thương nghiệp dường như là người ban phát và người tiêu dùng là
người được tiếp nhận sự ban phát đó mà không được lựa chọn theo ý muốn của
mình.
(ii) Trong những năm đổi mới kinh tế xã hội, nguyện vọng, mong muốn
của người tiêu dùng đã bắt đầu được các nhà sản xuất, lưu thông, những người
làm dịch vụ chú ý tìm hiểu và thực hiện với khả năng tích cực của họ. Tiếng nói
của người tiêu dùng bắt đầu được các nhà quản lý lắng nghe. Vị trí của người
tiêu dùng bắt đầu được đề cao trên thị trường. Đã xuất hiện tạp chí về người tiêu
dùng, nhiều báo đã xuất hiện chuyên mục cho người tiêu dùng và đăng nhiều bài
báo liên quan đến người tiêu dùng.
(iii) Từ khi cả nước đi vào xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước tới nay,
người tiêu dùng nước ta vẫn chưa được chuẩn bị đầy đủ kiến thức, hiểu biết, tâm
lý, thói quen tiêu dùng phù hợp với nền kinh tế thị trường hiện nay và cho thời
gian tới. Người tiêu dùng chưa thật rõ về quyền lợi và trách nhiệm của mình ra
sao cũng như phương thức để tự bảo vệ quyền lợi của mình như thế nào.
(iv) Người tiêu dùng nước ta hiện nay còn thiếu hệ thống pháp luật và
chính sách đầy đủ để bảo vệ mình. Trong thời gian qua, Pháp lệnh Bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng cũng như một số Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư
… của Chính phủ và các Bộ được ban hành cũng đã có một số điều quy định có
liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng nhưng những quy định đó còn rời rạc,
15
chấp vá, không đầy đủ. Điều đó khiến người tiêu dùng thiếu tự tin, chưa thấy rõ
được quyền lợi và nghĩa vụ của mình, dẫn đến thụ động trong các hoạt động.
(v) Người tiêu dùng Việt Nam cho đến nay còn chưa được hướng dẫn,
chưa được thông tin và định hướng thích hợp để có thể tự chủ trong các hoạt
động của mình. Sự thiếu hướng dẫn và thiếu thông tin cần thiết làm cho người
tiêu dùng dễ bị các quảng cáo, thông tin sai lệch làm lạc hướng trong việc lựa
chọn và mua hàng hoá bất lợi cho mình. Sự thiếu định hướng làm cho người tiêu
dùng dễ sa vào lối sống tiêu dùng không lành mạnh, lối sống tiêu dùng của bên
Thượng việc Mỹ đã phát biểu: “… Theo định nghĩa, người tiêu dùng là tất cả
chúng ta. Họ là nhóm người đông đảo nhất, có tác động và chịu tác động của
hầu hết các quyết định về kinh tế, dù là của nhà nước hay tư nhân. Thế nhưng
họ lại là nhóm người quan trọng duy nhất mà quan điểm của họ lại thường
không được lắng nghe…” [8]. Từ phát biểu của Tổng thống Mỹ những quyền
của người tiêu dùng dần đần được hình thành và phát triển. Tuyên bố Kennedy
lúc đầu chỉ đề cập bốn quyền cơ bản của người tiêu dùng, đó là: quyền được an
toàn, quyền được thông tin, quyền được lựa chọn và quyền được bày tỏ quan
điểm. Bốn quyền này là cốt lõi của hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trên thế giới trong giai đoạn đó.
Qua quá trình hoạt động thực tiễn của Quốc tế người tiêu dùng và các tổ
chức người tiêu dùng các nước, bốn quyền của người tiêu dùng đã được bổ sung
thêm. Theo đề xuất của Quốc tế người tiêu dùng (CI) ngày 09/05/1985, Đại hội
đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết số 39/948 có tên gọi là “Các
nguyên tắc chỉ đạo để bảo vệ người tiêu dùng”, trong đó công bố 08 quyền của
người tiêu dùng [8,29], bao gồm:
1. Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản
2. Quyền được an toàn
3. Quyền được thông tin
4. Quyền được lựa chọn
5. Quyền được lắng nghe
17
6. Quyền được khiếu nại và bồi thường
7. Quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng
8. Quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững.
Với sự phê chuẩn của Liên hợp quốc, những quyền của người tiêu dùng
đã được đưa lên vị trí hợp pháp và được quốc tế công nhận, được tất cả các quốc
gia dù là phát triển hay đang phát triển thừa nhận. Ngày nay, 08 quyền cơ bản
của người tiêu dùng đã được Liên hợp quốc, cộng đồng quốc tế và các chính phủ
thừa nhận. Chính phủ nhiều nước đã đưa nội dung 08 tám quyền của người tiêu
lập quyền, nghĩa vụ được pháp luật bảo đảm, nếu các cam kết, thoả thuận đó
không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
- Trong giao lưu dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào
được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào. Mọi cam kết, thoả
thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên.
- Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do
khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng,
tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau.
- Trong quan hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác
lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào …
Thứ hai, người tiêu dùng có quyền đòi bồi hoàn, bồi thường thiệt hại khi
giá cả hàng hoá, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng, giá cả đã
công bố hoặc hợp đồng đã giao kết.
Quyền được bồi thường còn được gọi là quyền được khiếu nại và bồi
thường của người tiêu dùng. Khi gặp những điều thiệt thòi, những điều không
vừa ý trong quan hệ với các nhà sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng có quyền
được khiếu nại. Khi những khiếu nại là chính xác và đúng đắn, người tiêu dùng
có quyền được bồi thường. Nhà sản xuất, kinh doanh phải bồi thường cho người
tiêu dùng nếu sản phẩm dịch vụ do họ cung ứng không đúng với nội dung đã
giới thiệu, quảng cáo, giao kết hợp đồng. Các khiếu nại của người tiêu dùng có
19
thể được giải quyết bằng cách hoà giải giữa người cung ứng và người tiêu dùng
thông qua các văn phòng khiếu nại của người tiêu dùng, bằng cách trực tiếp giữa
người cung ứng và người tiêu dùng hoặc thông qua các cơ quan quản lý nhà
nước liên quan, hoặc trong trường hợp không giải quyết được thì có thể thông
qua hệ thống toà án dân sự. Bồi thường thoả đáng cho những khiếu nại chính
đáng của người tiêu dùng sẽ nâng cao được tín nhiệm của doanh nghiệp, cải
thiện được hình ảnh của doanh nghiệp trong con mắt người tiêu dùng.
Thứ ba, người tiêu dùng có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy
định của pháp luật đối với việc sản xuất, kinh doanh hàng cấm, hàng giả, hàng
trên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là thuận mua, vừa bán phù hợp
với ý chí của các bên, không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của
người thứ ba. Vi phạm pháp luật dân sự gây thiệt hại cho người khác là một hiện
tượng khách quan. Để đảm bảo nguyên tắc công bằng, bảo vệ mạnh mẽ hơn
người bị thiệt hại và tăng cường trách nhiệm của người gây thiệt hại, từ đó đẩy
mạnh việc phòng ngừa thiệt hại xảy ra, pháp luật buộc người thực hiện hành vi
vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại. Và để bảo vệ
một cách tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người bị vi phạm, việc bồi
thường kịp thời và đầy đủ là một trong các nguyên tắc bồi thường thiệt hại.
1.2.1. Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Về mặt lý luận, khi nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì tìm
hiểu về khái niệm và những đặc điểm nổi bật của trách nhiệm bồi thường thiệt
hại là một việc làm cần thiết phải được coi trọng.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại được Bộ luật Dân sự 2005 quy định tại Điều 307 về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại nói chung và chương XXI về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái
niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách
nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi
thường…. Dưới góc độ khoa học pháp lý, mỗi người sống trong xã hội đều phải
21
tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm
đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ
pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất
lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù
đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại (BTTH). Như vậy,
có thể hiểu trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm Dân sự mà theo đó thì khi
một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải
bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách
đó là cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám
hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh
viện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề…
Có nhiều căn cứ khác nhau để phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại,
cụ thể như sau:
* Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được
phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Đây là cách phân loại cơ bản nhất bởi lẽ xác định cơ sở giải quyết bồi
thường theo hợp đồng và ngoài hợp đồng sẽ rất khác nhau. Chính vì vậy, xác
định được rõ hai loại trách nhiệm này sẽ giúp cho việc áp dụng pháp luật dân sự
một cách đúng đắn.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự
mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại
cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình
gây ra. Như vậy, cơ sở để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp
đồng bao gồm:
23
- Trách nhiệm BTTH theo hợp đồng bao giờ cũng phải dựa trên cơ sở một
hợp đồng có trước tức là giữa người được hưởng bồi thường và người gây ra
thiệt hại trước đó phải có một quan hệ hợp đồng.
Nếu giữa hai bên không tồn tại một hợp đồng nào thì nếu có thiệt hại xảy
ra bao giờ cũng sẽ là những thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng và bên gây thiệt
hại chỉ có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Chính
vì vậy, BTTH trong trường hợp hợp đồng vô hiệu, hủy bỏ hợp đồng và vi phạm
đề nghị giao kết hợp đồng là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi lẽ hợp
đồng chưa được giao kết giữa các bên hoặc được coi là chưa hề tồn tại.
- Trách nhiệm BTTH theo hợp đồng chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm
nghĩa vụ theo hợp đồng tức là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp
chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị
mất hoặc giảm sút.
Trách nhiệm BTTH về tinh thần được hiểu là người gây thiệt hại cho
người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín
của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công
khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp những tổn thất về tinh thần
cho người bị thiệt hại như sự buồn rầu, lòng đau thương…
Việc phân biệt hai loại trách nhiệm này có ý nghĩa trong việc xác định
nghĩa vụ chứng minh và mức bồi thường: Về nguyên tắc, người bị thiệt hại phải
có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại xảy ra và mức bồi thường sẽ bằng mức thiệt
hại. Tuy nhiên, nguyên tắc này chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp đó là trách
nhiệm BTTH về vật chất còn trong trường hợp BTTH về tinh thần thì rõ ràng
những tổn thất về tinh thần là những tổn thất không thể nhìn thấy, không thể tính
toán và không thể chứng minh được. Chính vì vậy, trong trường hợp này pháp
luật cần quy định một mức nhất định để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp
dụng trong trường hợp một người có hành vi xâm phạm đến các quyền nhân
thân của người khác.