ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HOÀNG THỦY
BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
DO VI PHẠM QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG,
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TSKH ĐÀO TRÍ ÚC
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Đóng góp của đề tài 5
7. Kết cấu của đề tài 5
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU
DÙNG VÀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM
QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG 6
1.1 Khái quát chung về người tiêu dùng và quyền lợi của người tiêu dùng 6
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng và quyền lợi của người tiêu dùng 6
1.1.2 Đặc điểm của người tiêu dùng Việt Nam 12
1.1.3 Các quyền cơ bản của người tiêu dùng 18
1.2 Khái niệm và đặc điểm của bồi thường thiệt hại do vi phạm
quyền lợi người tiêu dùng 26
1.2.1 Khái niệm 26
1.2.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
quyền lợi người tiêu dùng 28
1.2.3 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền
lợi người tiêu dùng 44
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BỒI
THƢỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM QUYỀN LỢI NGƢỜI
TIÊU DÙNG 47
2.1 Cơ sở pháp lý về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người
tiêu dùng 47
2.2 Thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật Việt Nam về bồi
thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng 51
2.2.1 Sơ lược lịch sử chế định bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền
lợi người tiêu dùng 51
2.2.2 Những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về bồi thường
thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng và nguyên nhân 54
2.2.3 Thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm
Thương mại thế giới WTO, là thành viên của ASEAN, APEC. Điều đó đồng
nghĩa với việc hàng hóa, sản phẩm nước ngoài sẽ tràn vào thị trường Việt
Nam và tất yếu là cạnh tranh sẽ vô cùng khốc liệt. Tính hai mặt của vấn đề
này ngày càng được thể hiện rõ nét. Xét về mặt tích cực, người tiêu dùng sẽ
được lợi khi có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn sản phẩm chất lượng tốt và phù
hợp với túi tiền của mình nhưng ngược lại mặt trái của vấn đề cũng là ở chỗ
đó. Một khi người tiêu dùng đứng trước các sản phẩm hàng hóa vô cùng
phong phú, đa dạng, nhà sản xuất nào cũng tung ra các chiêu thức quảng cáo
sản phẩm mình là tốt nhất thì người tiêu dùng có thực sự dễ dàng khi lựa chọn
được sản phẩm chất lượng như ý?
Có một thực tế mà chúng ta dễ dàng nhận ra là chưa khi nào vấn đề
người tiêu dùng lại được đặt ra cấp thiết như hiện nay. Đặc biệt trong thời
gian gần đây, trên thị trường xuất hiện nhiều phương thức kinh doanh mới
như bán hàng qua mạng, qua điện thoại… giao dịch điện tử để để đặt mua
hàng hóa, dịch vụ từ một nước khác cũng đang phát triển. Những phương tiện
giao dịch hiện đại tạo sự thuận tiện cho các bên nhưng bên cạnh những tiện
ích thì đây cũng là môi trường làm phát sinh những hành vi vi phạm quyền lợi
người tiêu dùng ngày một tinh vi và phức tạp hơn.
Người tiêu dùng là một tác nhân kinh tế quan trọng và chiếm số lượng
đông đảo trong xã hội nhưng lại bị vi phạm quyền lợi nhiều nhất. Gần đây,
2
trên thực tế đã xảy ra các vụ vi phạm của các nhà sản xuất, kinh doanh mà
người tiêu dùng là đối tượng bị xâm phạm quyền lợi. Đã có nhiều vụ vi phạm
quyền lợi người tiêu dùng liên quan đến thực phẩm bị nhiễm độc; buôn bán
hàng cấm, hàng nhập lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng v.v… Cụ thể hàng
loạt các vụ vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích của người tiêu dùng được
phát hiện như vụ xăng pha aceton, vụ nước tương nhiễm chất 3-MCPD, vụ
gian lận xăng dầu hay gần đây nhất là việc phát hiện hàng loạt các cơ sở kinh
doanh mỡ động vật không rõ nguồn gốc xuất xứ, vụ sữa melamine trẻ em, vụ
mũ bảo hiểm không bảo đảm chất lượng… Những vụ việc này đã gây thiệt
Việt Nam” của Đoàn Văn Trường, NXB Khoa học và kỹ thuật hay “Tìm hiểu
luật bảo vệ người tiêu dùng các nước và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng Việt
Nam” của Viện Nhà nước và pháp luật, NXB Lao động 1999; “Khách hàng là
thượng đế” của tác giả Phạm Côn Sơn, NXB Phương Đông năm 2006; “Bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng và trách nhiệm của chúng ta” của tác giả Lê
Văn Thiệu (Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam); “Người
tiêu dùng trước xu thế hội nhập thị trường khu vực AFTA” của TS. Nguyễn
Mộng Hùng… Vấn đề này cũng được đề cập ở các báo và tạp chí như “Bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng trong pháp luật cạnh tranh” của tác giả Ngô
Vĩnh Bạch Dương, tạp chí Nhà nước và pháp luật số 11/2000; TS. Nguyễn
Văn Vân với “Hợp đồng theo mẫu và vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng”, Đặc san khoa học pháp lý… “Đặc điểm văn hóa tiêu dùng Việt Nam
mới” của Viện Nghiên Cứu Tư Vấn Phát Triển Xã Hội - Trường ĐH Quốc
Gia TP.HCM (2009) được đăng trên http://vicongdong.vn, ngày 10/05; “Vì
sao người tiêu dùng vẫn chưa "mặn mà" với Vinastas” của tác giả Y Nhung
(2010) đăng trên http://vneconomy, ngày 14/10… Tuy nhiên, các công trình
và các bài viết nêu trên chỉ tiếp cận ở góc độ khái quát về khoa học pháp lý
4
đối với bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng hoặc
nghiên cứu nó trong từng lĩnh vực, dưới những góc độ khác nhau hay là
những vấn đề cụ thể mang tính thời sự. Chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách tổng thể và chuyên sâu về trách nhiệm bồi thường do vi phạm quyền
lợi người tiêu dùng.
Yêu cầu có những công trình nghiên cứu một cách toàn diện về vấn đề
này để rút ra được những cơ sở lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng từ đó tìm ra nguyên nhân và
giải pháp hoàn thiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi
người tiêu dùng vì thế thật sự cần thiết đối với mọi người nói chung, người
tiêu dùng nói riêng.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
luật, đồng thời nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, của toàn xã hội và
trách nhiệm của cộng đồng trong việc đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người
tiêu dùng nói chung và quyền được bồi thường nói riêng.
- Đề tài có thể là tài liệu tham khảo thêm của những người quan tâm.
7. Kết cấu của đề tài
Kết cấu của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về quyền lợi người tiêu dùng và bồi thường
thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại do vi
phạm quyền lợi người tiêu dùng.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện chế định bồi
thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng.
6
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG
VÀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM QUYỀN LỢI
NGƢỜI TIÊU DÙNG
1.1 Khái quát chung về ngƣời tiêu dùng và quyền lợi của ngƣời tiêu dùng
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng và quyền lợi của người tiêu dùng
Nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, trong đó mọi cá nhân, tổ chức đều được tự do sản xuất, kinh
doanh thu lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật. Xã hội có người bán, người
mua và quan hệ mua – bán được điều tiết theo quy luật cung cầu của thị
trường. Lúc này, một trong những vấn đề được xã hội quan tâm hàng đầu là
vấn đề người tiêu dùng.
Tuy nhiên, chúng ta hãy quay ngược thời gian nhìn lại quá khứ, khi mà
nền kinh tế mới chỉ là “tự cung tự cấp”. Lúc đó xã hội có sản xuất và có tiêu
thụ nhưng sản phẩm làm ra là để phục vụ ngay cho cuộc sống của người sản
trí của chủ thể này trong các mối quan hệ của nền kinh tế, đặc biệt là mối
quan hệ cung - cầu.
Ở Việt Nam, vấn đề người tiêu dùng mới xuất hiện một số năm gần
đây. Nhiều nước trên thế giới đã đi trước chúng ta vài chục năm và việc bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng đã có nhiều bước phát triển lớn. Đã có nhiều
định nghĩa khác nhau về người tiêu dùng:
“IOCU” (International Organization of Consumer Unions) - Tổ chức
Quốc tế người tiêu dùng được thành lập vào 01/04/1960 do 5 nước Mỹ, Anh,
Hà Lan, Bỉ, Úc ký quyết định trong “Hội nghị quốc tế khuyến khích và thử
8
nghiệm, người tiêu dùng” tại La Hay; đến năm 1985 đổi tên thành “CI”
(Consumer International). Theo Luật mẫu bảo vệ người tiêu dùng của tổ chức
này thì “người tiêu dùng có nghĩa là người yêu cầu hay sử dụng hàng hóa hay
dịch vụ cho những mục đích cá nhân, trong gia đình hay nội trợ”. [7]
Trong lời phát biểu tại Thượng viện Mỹ ngày 15/03/1962 tổng thống
Mỹ John Kenedy đã nói một câu nổi tiếng: “người tiêu dùng theo định
nghĩa, bao gồm toàn thể chúng ta. Họ là nhóm người đông đảo nhất, có ảnh
hưởng và chịu ảnh hưởng của hầu hết các quyết định về kinh tế, dù là của
Nhà nước hay tư nhân”.
Theo Bộ luật Dân sự của Cộng hòa liên bang Đức: “Người tiêu dùng
là bất kỳ một thể nhân nào khi ký kết một giao dịch pháp lý không nhằm
mục đích kinh doanh và cũng không phục vụ hoạt động hành nghề độc lập
của mình”. [6] Luật Bảo vệ người tiêu dùng Đài Loan: “Người tiêu dùng là
những người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ vì
mục đích tiêu dùng.” [6]
Luật Bảo vệ người tiêu dùng Malaysia 1999: “người tiêu dùng là người
mua hoặc sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ cho mục đích sinh hoạt cá nhân
hoặc sinh hoạt gia đình… và không gồm việc mua hoặc sử dụng hàng hóa vì
mục đích chính để bán lại hoặc đưa vào quá trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ
khác hoặc để dùng cho việc sửa chữa, gắn thêm vào hàng hóa khác.” [6]
mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá
nhân, gia đình, tổ chức.” [23.Khoản 1, Điều 3]. Cách định nghĩa như trên khá
gọn, súc tích, nêu bật và đi thẳng vào vấn đề, nêu lên bản chất của người tiêu
dùng. Theo đó, ta có thể hiểu người tiêu dùng theo nghĩa rộng bao gồm cả cá
nhân, tổ chức nhưng khái niệm cũng được giới hạn bởi “mục đích”. Người
10
tiêu dùng có thể là người mua đồng thời là người sử dụng; cũng có thể mua để
tặng, cho; mua để phục vụ chung cho nhu cầu của toàn gia đình hay cho tổ
chức nhưng mục đích ở đây đều là “tiêu dùng sinh hoạt”, nói chung là các yếu
tố đầu vào để tổ chức phục vụ cho hoạt động của tổ chức mình (có thể là thỏa
mãn tiêu dùng gia đình, tiêu dùng trong Hội, Đoàn…). Như vậy, Luật đã loại
bỏ các chủ thể mua sắm hàng hóa hay sử dụng dịch vụ vào mục đích kinh
doanh (đây cũng là cách hiểu phổ biến hiện nay về khái niệm người tiêu
dùng). Tương tự như vậy, ta có thể phân biệt khái niệm người tiêu dùng
(consumer) hoặc người tiêu dùng cuối cùng (end consumer) với khái niệm
khách hàng (customer). Khái niệm “khách hàng” mang nghĩa rộng hơn, dùng
để chỉ người mua hàng hóa, dịch vụ để sử dụng cho bản thân hoặc làm
nguyên liệu cho sản xuất, kinh doanh. Do vậy, người mua, sử dụng hàng hóa,
dịch vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh không thuộc phạm vi điều chỉnh
của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng.
Bên cạnh khái niệm “người tiêu dùng”, một khái niệm nữa chúng ta cần
làm rõ đó là khái niệm “quyền lợi người tiêu dùng”. Quyền lợi của người tiêu
dùng là một trong những quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp và
pháp luật của nhiều nước trên thế giới và được xã hội tôn trọng. Tuy nhiên,
trong khoa học nói chung cũng như trong khoa học pháp lý và thậm chí trong
Bản hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng cũng chỉ nêu ra
những quyền cơ bản của người tiêu dùng mà không có khái niệm quyền lợi
của người tiêu dùng. Khi được hỏi, các nhà khoa học thường chỉ đưa ra những
quan điểm, những lập luận chung nhất. Hiện nay chưa có một khái niệm chính
thống nào giải thích về quyền lợi của người tiêu dùng.
12
1.1.2 Đặc điểm của người tiêu dùng Việt Nam
Để khái quát được đặc điểm của người tiêu dùng không phải là điều dễ
dàng bởi vì trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội với những điều kiện,
hoàn cảnh lịch sử, kinh tế khác nhau thì Nhà nước có các chính sách, chế độ
khác nhau và nhận thức của người tiêu dùng cũng khác. Bên cạnh đó là sự
khác biệt về trình độ dân trí giữa các vùng, miền, giữa nông thôn với thành
thị, miền núi với đồng bằng… Bởi vậy, không thể xét đặc điểm của bộ phận
để khái quát nên toàn bộ, cũng không thể nhìn phiến diện ở một mặt nào đó
mà ta phải có cái nhìn bao quát, tổng thể đồng thời phân tích vấn đề ở từng
giai đoạn khác nhau.
Theo kết quả nghiên cứu lựa chọn xếp hạng 30/185 nền kinh tế có thị
trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới vừa được tập đoàn tư vấn AT Kearney
công bố, “Chỉ số phát triển bán lẻ chung năm 2007” (GRDI) của Việt Nam
đạt 74 điểm, xếp thứ 4 sau Ấn Độ và Nga, Trung Quốc. Năm 2008, thị trường
bán lẻ nước ta “qua mặt” cả ba “người khổng lồ” Ấn Độ, Nga và Trung Quốc
để chiếm thứ hai trong “làng bán lẻ” thế giới. Năm 2009, đạt 55 điểm, tuy có
giảm trong bảng xếp hạng, nhưng nếu ổn định được tình hình vĩ mô và khôi
phục được sự hấp dẫn, thì tương lai phát triển của thị trường bán lẻ nước ta sẽ
rất sáng trở lại[31]. Điều này cho thấy trong những năm gần đây, người Việt
Nam đầu tư khá nhiều cho tiêu dùng. Cùng với việc mở cửa cũng như hội
nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã trở thành một trong những thị trường thu
hút các nhà đầu tư. Mặt khác, nhiều doanh nghiệp trong nước cũng ý thức
được điều này nên sẵn sàng đầu tư công nghệ, cải tiến dây chuyền sản xuất để
có thể cung cấp những mặt hàng tốt nhất, đáp ứng nhu cầu thị trường, đồng
thời nâng cao năng lực cạnh tranh. Vì vậy, người tiêu dùng Việt Nam cũng có
nhiều cơ hội để lựa chọn sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của mình. Theo kết quả
khảo sát của AC Nielsen thực hiện tại 47 nước trên thế giới về mức độ niềm
13
tin người tiêu dùng những tháng đầu năm 2007, 50% người tiêu dùng Việt
người như vậy cũng không thụ động ngồi chờ maketings của nhân viên cũng
như họ sẵn sàng khiếu nại khi hàng hóa, dịch vụ có vấn đề… số lượng những
người tiêu dùng như vậy dần tăng lên nhất là tại các thành phố, đô thị lớn.
Tóm lại, nền văn hóa tiêu dùng Việt Nam mới sẽ gồm 03 đặc điểm căn
bản sau: Tiêu dùng dựa trên giá trị; tiêu dùng thông minh và tiêu dùng có
trách nhiệm [39]. Những đặc điểm này được hiểu như sau:
* Thứ nhất, tiêu dùng dựa trên giá trị
Trong nền Văn hóa tiêu dùng Việt Nam mới, người tiêu dùng sẽ không
còn bị động chờ đợi, tìm kiếm những giá trị trong hàng hóa – dịch vụ, mà
người tiêu dùng trở nên chủ động “đặt hàng” với doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh những sản phẩm phù hợp những chuẩn mực về giá trị mà mình yêu cầu.
Để chứng minh giá trị một thương hiệu hàng hóa đó, doanh nghiệp phải làm rõ
đồng thời 03 nội dung mà cộng đồng tiêu dùng có thể chấp nhận và nhận diện
được: Chất lượng sản phẩm – Trách nhiệm xã hội - Văn hóa kinh doanh.
Tiêu dùng dựa trên giá trị là hành vi lựa chọn những sản phẩm - dịch vụ
tốt, bền, giá cả phù hợp, thỏa mãn cao nhất nhu cầu cá nhân của người tiêu
dùng. Tức tiêu dùng là hoạt động sử dụng giá trị của sản phẩm hay dịch vụ
nào đó để thỏa mãn nhu cầu nhất định của mình. Là lực lượng chủ động, có
quyền lực thực sự, giúp nuôi dưỡng và phát triển doanh nghiệp, thể hiện tinh
thần trách nhiệm với sự phát triển xã hội - quốc gia.
Khi người tiêu dùng chọn mua giá trị trong hàng hóa cũng đồng nghĩa
họ thúc đẩy doanh nghiệp tạo ra các giá trị khác. Như vậy, chọn mua sản
phẩm tức là chọn mua doanh nghiệp, người tiêu dùng cần tìm hiểu doanh
nghiệp trước khi chọn mua sản phẩm. Một nền Văn hóa tiêu dùng Việt Nam
15
mới theo chủ nghĩa giá trị không chỉ mang lại lợi ích trực tiếp cho người tiêu
dùng, mà còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng sáng
tạo ra giá trị phục vụ cộng đồng. Nói cách khác, tiêu dùng có thể tác động
đến doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa phù hợp với yêu cầu về giá
trị mà tiêu dùng đặt ra.
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường cũng có mặt trái, văn hóa tiêu dùng
của người Việt Nam cũng còn nhiều vấn đề đáng quan tâm.
Việc tiêu dùng một cách lãng phí, xa hoa… không phải là không tồn tại
trong xã hội Việt Nam hiện nay. Đồng thời, hơn 20 năm sau đổi mới, số
không nhỏ người tiêu dùng Việt Nam vẫn chưa làm quen với văn hóa tiêu
dùng hiện đại. Cách đây một vài năm người tiêu dùng chỉ quen mua sắm tại
chợ, đặc biệt là các chợ cóc, chợ tạm mọc lên ở khắp mọi nơi. Đi đâu ta cũng
có thể thấy cảnh mua bán, ngã giá ngay dưới lòng đường hay trên vỉa hè vừa
mất mỹ quan, vừa gây mất trật tự an toàn giao thông. Lực lượng trật tự đô thị
giải quyết không xuể. Tình hình chỉ tạm lắng khi Chính phủ ban hành bởi
Nghị định số 14/2003/NĐ-CP ngày 19/02/2003 quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Giao thông đường bộ, trong đó có những quy định hướng
dẫn về việc bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn
giao thông đô thị.
Cuộc sống hiện đại ngày nay cũng làm thay đổi thói quen người tiêu
dùng, thay vì mua hàng tại chợ họ đến siêu thị. Có thể chỉ để tham khảo giá cả
nhưng hầu hết là để mua khối lượng hàng lớn cho nhiều ngày. Tuy nhiên, đó
chỉ là mặt tích cực nhưng nếu chúng ta chịu để ý quan sát thì sẽ không mấy khó
khăn để nhận ra cảnh không đẹp mắt. Người ta lựa hàng hóa tại các quầy khác
nhau nhưng khi không mua nữa họ không xếp lại quầy cũ mà bỏ lại ở những
17
quầy khác hoặc để lại xe đẩy. Có người lại xé vỏ bao, thử sản phẩm ngay trong
siêu thị. Tình trạng gian lận trong siêu thị cũng xảy ra rất nhiều. Những cảnh
chướng mắt như vậy không hiếm nhưng chính điều này khiến chúng ta phải
suy ngẫm. Nếu cứ giữ nét tính cách này liệu người tiêu dùng có thể hội nhập
với thị trường thế giới đang vô cùng sôi động, và như vậy là họ đang dần hủy
hoại những quyền thiêng liêng mà xã hội đang tích cực bảo vệ họ.
Nhìn ra những nước phát triển ta có thể thấy sự khác biệt lớn nhất giữa
họ và người tiêu dùng Việt Nam là ở trình độ nhận thức. Họ hiểu biết rất rõ về
quyền lợi và trách nhiệm của mình hơn nữa họ lại được giáo dục một cách khá
khác biệt trước đám đông như điện thoại di động, xe hơi, các mặt hàng công
nghệ đều phải thể hiện cho được đẳng cấp của người chủ, cho dù đôi khi công
năng sử dụng không thực sự cần thiết. Khuynh hướng bắt chước lối sống và
cách hưởng thụ của thanh niên các nước khác có xu hướng tăng, nhưng lại chỉ
bắt chước phần giá trị ảo, chứ không phải ở chiều sâu văn hóa.
1.1.3 Các quyền cơ bản của người tiêu dùng
Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng là một lĩnh vực đã sớm hình
thành và phát triển trên thế giới. Tuy vậy, những quyền của người tiêu dùng
lại không được xác định một cách đồng hành. Mãi cho đến ngày 15 tháng 03
năm 1962 với lời phát biểu của Tổng thống Mỹ John Kennedy tại Thượng
viện Mỹ những quyền của người tiêu dùng dần dần được hình thành và phát
triển. Tuyên bố của Kennedy lúc đầu chỉ đề cập đến bốn quyền cơ bản của
người tiêu dùng. Đó là:
- Quyền được an toàn;
- Quyền được thông tin;
- Quyền được lựa chọn;
19
- Quyền được bày tỏ quan điểm.
Tuy đây mới chỉ là sự ghi nhận ban đầu những quyền cơ bản của người
tiêu dùng nhưng vào thời điểm đó là một sự tiến bộ mang tiến bộ mang tính
lịch sử vì từ đây người tiêu dùng đã chính thức có cơ sở pháp lý để tự bảo vệ
cho quyền lợi của mình. Năm 1983, Liên hợp quốc đã chính thức tuyên bố
ngày 15 tháng 3 là ngày Quyền của người tiêu dùng thế giới.
Dựa vào bốn quyền trên, trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình,
Quốc tế người tiêu dùng IOCU (sau này là CI) và các tổ chức người tiêu dùng
các nước đã bổ sung thêm 4 quyền nữa, đó là:
- Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản;
- Quyền được bồi thường;
- Quyền được giáo dục;
- Quyền được sống trong một môi trường lành mạnh và bền vững.
mọi người tiêu dùng trên thế giới. Quyền cơ bản của người tiêu dùng được
quy định cụ thể và đầy đủ tại Điều 8, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,
bao gồm các quyền sau:
* Thứ nhất, quyền được an toàn [23. Khoản 1, Điều 8].
Lâu nay vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường ngày càng
trở thành vấn đề cấp thiết của đời sống tiêu dùng. Đảm bảo được quyền này
cho người tiêu dùng nghĩa là bảo vệ người tiêu dùng chống lại các sản
phẩm, dịch vụ, quá trình sản xuất có hại đến sức khỏe và đời sống. Quyền
này không chỉ liên quan đến nhưng sản phẩm, hàng hóa an toàn mà còn
liên quan đến các dịch vụ và quá trình sản xuất. Các sản phẩm và dịch vụ
không được chứa đựng nguy cơ gây mất an toàn khi sử dụng thông thường.
Các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn an toàn bị cấm không được sản xuất và
21
lưu thông trên thị trường; nếu sản phẩm đã được tung ra thị trường thì phải
được thu hồi xử lý.
* Thứ hai, quyền được thông tin [23. Khoản 2, Điều 8].
Những thông tin cần thiết và trung thực là điều quan trọng đầu tiên để
người tiêu dùng biết đến và tiếp cận sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất, kinh
doanh. Bởi vậy khi người tiêu dùng quyết định lựa chọn một mặt hàng hay
một dịch vụ nào đó nghĩa là họ tin tưởng vào những thông tin về sản phẩm.
Để có một môi trường kinh doanh lành mạnh và một xã hội phát triển thì nhà
sản xuất phải tuyệt đối trung thực khi đưa ra những thông tin liên quan đến
sản phẩm của mình. Điều đó tạo được uy tín và tâm lý an tâm ở người tiêu
dùng. Nếu việc cung cấp thông tin là thiếu chính xác thậm chí sai lệch để cố
tình gây sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng là vi phạm nghiêm trọng quyền
được thông tin của người tiêu dùng. Nội dung thông tin cho người tiêu dùng
có thể được thực hiện thông qua việc ghi nhãn, các hướng dẫn sử dụng hay
qua các giới thiệu quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Đây là quy định hoàn toàn mới của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng so với Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước đây. Xuất phát