Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng những vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 47

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO VI PHẠM QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
1.1. Khái niệm chung của pháp luật về TN BTTH do vi phạm QLNTD
1.1.1. Khái niệm về người tiêu dùng và TN BTTH do vi phạm QL NTD
Khái niệm người tiêu dùng (NTD) là khái niệm rất quan trọng, được sử dụng xuyên
suốt trong các quy định của pháp luật về NTD. Vì trọng tâm của pháp luật bảo vệ NTD chính
là NTD, do vậy nên nội hàm của các khái niệm này sẽ là kim chỉ nam cho các nội dung khác
được quy định trong luật bảo vệ NTD và trong vấn đề TN BTTH do vi phạm quyền lợi NTD.
Có nhận định từng cho rằng “Một nền pháp chế văn minh phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu”(1) và
pháp luật về bảo vệ NTD cũng không nhằm ngoài nhận định này, bởi vì trong các quan hệ
giữa NTD và nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ thì NTD luôn ở thế yếu hơn, thiếu thông tin hơn,
ít chuyên nghiệp hơn, nên cần thiết phải có sự can thiệp nhất định của nhà nước vào quan hệ
này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên yếu thế. Thực hiện được điều này nghĩa là
đang từng bước góp phần đưa pháp luật phát triển đến trình độ dân chủ văn minh hiện đại, đáp
ứng nhu cầu thiết yếu của người dân cũng như các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan
hệ pháp luật, đặc biệt là giai đoạn đất nước hội nhập sâu rộng, cần có các chính sách và quy
định không những đầy đủ các vấn đề mà còn cần cụ thể từng vấn đề đó. Xuất phát từ yêu cầu
nói trên, việc xác định các đối tượng nào sẽ được gọi là NTD là một vấn đề hết sức quan trọng,
nó đảm bảo cho việc xác định đúng được TN BTTH mà chủ đề này hướng tới, dưới đây là
một số khái niệm về NTD theo pháp luật Việt Nam và trên thế giới.
“NTD là người cuối cùng sử dụng, tiêu dùng hàng hóa, ý tưởng, dịch vụ nào đó, NTD
lúc theo tổ chức này là người mua hoặc đưa ra quyết định như là NTD cuối cùng, điều này có
nghĩa khi một người mua một sản phẩm, có thể là thức ăn hoặc bất kỳ một chế phẩm, dịch vụ
nào đó, họ có thể tặng hoặc cho người khác sản phẩm họ đã mua, nhưng trong trường hợp này
họ vẫn được xem là NTD mặc dù bản thân họ không hề trực tiếp sử dụng và thụ hưởng sản
phẩm đó”.(2)
(1) Nguyễn Như Phát (2003), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay,
NXB Công an nhân dân, H, , tr 10
(2)Khái niệm NTD trong luận văn của A-Z( />
1


2


Còn tại Việt Nam, pháp luật đã đưa ra được khái niệm pháp lý hoàn chỉnh về NTD,
song cần nhận thức chính xác về giá trị ứng dụng của khái niệm này. Theo quy định tại Điều
3 Luật BVQLNTD năm 2010 đã định nghĩa về NTD như sau: “NTD là người mua, sử dụng
hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức”, với
quy định này không quy định rõ NTD là cá nhân hay pháp nhân, tuy nhiên dựa trên tinh thần
của điều 3, Luật BVQLNTD thì “NTD” là các cá nhân, tổ chức mua hoặc sử dụng hợp pháp
hàng hoá, dịch vụ không nhằm mục đích kinh doanh.
Có thể thấy rằng, thuật ngữ NTD lúc này không còn là khái niệm chung chung như
nhân dân, nam giới, nữ giới, già trẻ, thanh niên,… NTD phải được hiểu là những cá thể mua
và sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt (end consumer). Việc cụ thể hóa khái
niệm trên giúp từng NTD cụ thể ý thức được chính họ đang có các quyền của NTD sản phẩm
mà pháp luật quy định cho họ, từ đó giúp mỗi người đều có khả năng sử dụng các công cụ
pháp lý để tự vệ khi có sự vi phạm, cho dù sự vi phạm chỉ là cá biệt, không phổ biến và giá trị
thiệt hại không đáng kể.
Trước khi tìm hiểu khái niệm về TN BTTH do vi phạm quyền lợi NTD, cần phải nắm
rõ như thế nào là thiệt hại. Ta có thể hiểu thiệt hại là tổn thất, mất mát về tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của cá nhân tổ chức đươc pháp luật bảo vệ, và thiệt hại
này có mối quan hệ về nhân quả với hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân, tổ chức sản
xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ đó.
Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi NTD là một trường hợp cụ thể của TN BTTH
ngoài hợp đồng nhưng trong một số trường hợp cũng có thể là phát sinh trong quan hệ hợp
đồng (hợp đồng miệng) được quy định trong BLDS năm 2015. Nhưng trong luật này nhà làm
luật vẫn chưa đưa ra khái niệm cụ thể về TN BTTH trong trường hợp này, đồng thời tính đến
thời điểm hiện tại vẫn chưa có bất kì một văn bản luật nào hướng dẫn hay nêu định nghĩa cụ
thể cho nội dung này, thay vào đó, tại điều 608 BLDS 2015 chỉ quy định một cách chung nhất
rằng: “cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất kinh doanh không đảm bảo chất lượng hàng
hóa mà gây thiệt hại cho NTD thì phải bồi thường”. Từ quy định tại điều luật này có thể đưa

dụng sản phẩm nếu như việc sử dụng chúng tiềm ẩn những nguy hại nhưng không được cảnh
báo trước.

(7) Tạp chí dân chủ và pháp luật Cơ quan ngôn luận của bộ tư pháp :
/>
4


Pháp luật trách nhiệm sản phẩm được xây dựng dựa trên ba nguyên lý cơ bản về sự vi
phạm nghĩa vụ bảo đảm, sự bất cẩn và trách nhiệm nghiêm ngặt. Có thể nhận thấy, đây cũng
chính là ba cơ sở khởi kiện của người bị thiệt hại trong các vụ án liên quan đến trách nhiệm.(8)
Tuy nhiên, NTD ít sử dụng nghĩa vụ đảm bảo để làm cơ sở khởi kiện vì để áp dụng ta
cần phải chứng minh bản chất mối quan hệ giữa người bán, người cung cấp hàng hóa và người
mua. Nói là như vậy nhưng thực tế để chứng minh cho vấn đề này thì không hề đơn giản. Nếu
như sản phẩm mua về có lỗi và gây ra thương tích, NTD phải chứng minh rằng hành vi của
nhà sản xuất khi thiết kế ra sản phẩm là không đủ tiêu chuẩn hoặc không hợp lí, nhưng đối với
NTD thì việc sử dụng sản phẩm và xem xét đến quy trình giám sát chất lượng của các sản
phẩm mình sử dụng thì hầu như là không thể.
Chế định về trách nhiệm sản phẩm theo quy định ở các quốc gia phát triển được hiểu
là người sản xuất phải chịu trách nhiệm nếu như sản phẩm của họ bị kém chất lượng và việc
sử dụng sản phẩm kém chất lượng này trong điều kiện bình thường gây ra những thiệt hại cho
người sử dụng. Đây là một bước tiến trong việc BVQLNTD, bởi vì để đảm bảo quyền lợi của
mình thì với nguyên tắc này, người khởi tiêu dùng không cần chứng minh sự cẩu thả của nhà
sản xuất hay nghĩa vụ đảm bảo. NTD lúc này chỉ cần chứng minh rằng sản phẩm kém chất
lượng, nguy hiểm hoặc có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe họ và thực tế đã gây thiệt hại nào
đó.
Luật BVQLNTD năm 2010 đã tiếp thu tinh thần của chế định về trách nhiệm sản phẩm
và đã quy định NTD không có nghĩa vụ phải chứng minh lỗi sản phẩm. Tại Điều 42 của Luật
BVQLNTD năm 2010 quy định nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự về BVQLNTD. Tuy
nhiên trong thực tế các nhà nghiên cứu đã phân tích thì việc quy định NTD không có nghĩa vụ

NTD mà nhóm đã nghiên cứu được. Việc xác định rõ đâu là NTD, thế nào là TN BTTH do vi
phạm quền lợi NTD giúp việc nghiên cứu về chế định này được rõ ràng và chính xác hơn, qua
đó đưa ra được những nhận định và phương hướng đánh giá thực hiện một cách chính xác như
mục tiêu ban đầu đã đặt ra, góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ NTD và đưa
những kiến nghị, đề xuất này vào thực tiễn áp dụng.
(9) Ngô Thu Trang, Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp
/>
6


1.1.2. Đặc điểm của TN BTTH do vi phạm quyền lợi NTD
Trong các biện pháp chế tài được áp dụng đối với chủ thể có hành vi xâm phạm quyền
lợi của NTD như: chế tài hình sự, chế tài hành chính, chế tài dân sự thì chế tài dân sự được
coi là biện pháp chế tài mang tính thiết thực nhất trong việc bảo vệ quyền lợi của NTD, bởi
hậu quả từ việc áp dụng biện pháp chế tài này mang lại. Nếu như hậu quả của biện pháp áp
dụng chế tài hành chính, chế tài hình sự là tác động vào nhân thân người thực hiện hành vi vi
phạm hoặc động viên một phần lợi ích vật chất và ngân sách nhà nước (tiền phạt) thì hậu quả
của việc áp dụng chế tài dân sự đối với chủ thể có hành vi xâm phạm quyền lợi của NTD là
nhằm khôi phục, bù đắp, bảo đảm những lợi ích nhất định cho chính người bị xâm phạm.
Chế tài dân sự đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi của NTD là hậu quả
pháp lý bất lợi được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi xâm phạm quyền lợi của
NTD, theo đó các chủ thể này buộc phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định hoặc phải bồi
thường thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra.
TN BTTH do vi phạm quyền lợi của NTD: hành vi xâm phạm quyền lợi của NTD và
có thể gây ra thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và
lợi ích hợp pháp khác của NTD. Căn cứ phát sinh TN BTTH cho NTD có thể là do tổ chức,
cá nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ và NTD thỏa thuận, nhưng cũng có thể xuất phát từ các
căn cứ do pháp luật quy định. Khi tổ chức, cá nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ gây thiệt hại
cho NTD thì các tổ chức, cá nhân cung cấp hàng hóa dịch vụ đó phải bồi thường thiệt hại do
hành vi vi phạm của mình gây ra. Thiệt hại mà tổ chức, cá nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ

khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ cung cấp. NTD có quyền được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ
hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần

8


thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng. Trên thực tế, những
quyền này vẫn bị xâm phạm.
Bởi thế, việc bảo vệ NTD còn xuất phát từ chính vai trò của họ trong nền kinh tế. Để
phát triển nền kinh tế bền vững thì bất kì nhà nước nào cũng đều phải quan tâm bảo vệ các
thành tố thị trường mà NTD là nhân vật trung tâm. Bên cạnh những hỗ trợ mang tính chất
hướng dẫn, đào tạo, tuyên truyền, cần thiết có một công cụ mạnh hơn để bảo đảm cho NTD
có thể sử dụng để tự mình bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ trước những vi phạm, lạm dụng
của các tổ chức, cá nhân.
Tóm lại, bất kì gia đoạn nào thì NTD cũng đóng vai trò vai quan trọng trong nền kinh
tế và đặc biệt là nền kinh tế thị trường như hiện nay. Chính vì thế, việc bảo vệ quyền lợi của
NTD cũng cần được thực hiện song song với việc phát triển kinh tế, giúp NTD cò thể yên tâm
hơn khi tham gia vào thị trường.
1.2. Lịch sử hình thành của chế định TN BTTH do vi phạm quyền lợi NTD
1.2.1. Lịch sử hình thành chế định về TN BTTH do vi phạm quyền lợi NTD trên thế
giới
Chế định về TN BTTH được hình thành như một xu thế tất yếu trong quá trình phát
triển hệ thống pháp lý bảo vệ NTD, nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ NTD một cách đầy đủ và
hữu hiệu hơn. Chế định pháp luật này được áp dụng đầu tiên ở Hoa Kỳ và sau đó được tiếp
nhận bởi các nước thuộc phạm vi liên minh Châu Âu (EU) và Châu Á (như Trung Quốc, Hàn
Quốc, Nhật và các nước khu vực Đông nam Á (ASEAN)). Pháp luật về TN BTTH do vi phạm
quyền lợi NTD hay còn được gọi bằng trách nhiệm sản phẩm đã được phát triển nhằm đảm
bảo cho sự an toàn và bồi thường thích đáng trong các trường hợp khi một bên bị thương tích

của họ, cũng như TN BTTH là điều đương nhiên mà nhà sản xuất bất cẩn không phải gánh
vác.
Với quan niệm của học thuyết tính tất yếu của hợp đồng thì một người bị thiệt hại chỉ
có thể kiện một người có hành vi bất cẩn nếu người đó là một bên trong giao dịch với người
bị thiệt hại.

(10) Trương Hồng Quang, Một số vấn đề cơ bản về chế định trách nhiệm sản phẩm />
10


Và do đó nghĩa vụ của một người phải có sự cẩn trọng hợp lý chỉ xuất phát từ hợp đồng
và chỉ người nào cùng tham gia quan hệ hợp đồng đó mới có thể kiện vì sự vi phạm nghĩa vụ
theo hợp đồng này. Điều đó cũng có nghĩa là khi một nhà sản xuất bất cẩn bán một sản phẩm
cho một người kinh doanh bán lẻ sau đó người kinh doanh bán lẻ tiếp tục bán sản phẩm cho
khách hàng thì bên người sản xuất không phải chịu trách nhiệm trong việc này. Khách hàng
khi đó không có bất kỳ biện pháp nào để yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại vì không phải người
bán lẻ mà chính nhà sản xuất mới là người gây ra thiệt hại. Do đó quyền lợi của NTD lúc này
có thể bị xâm phạm bởi các sản phẩm từ người sản xuất bất cẩn nhưng lại không có bất cứ
biện pháp nào trong giai đoạn này được đưa ra để bảo vệ cho quyền lợi chính đáng của họ,
cũng như TN BTTH là điều đương nhiên mà nhà sản xuất bất cẩn không phải gánh vác.
Học thuyết về tính tất yếu của hợp đồng (The doctrine of Privity) đã thống trị đời sống
pháp luật thế kỷ 20, mặc dù các toà án thời bấy giờ cũng tạo ra một số ngoại lệ trong việc
tránh để không phủ định việc đòi khôi phục quyền lợi cho những nguyên đơn bị thiệt hại dưới
hình thức thương tích. Tính tất yếu của hợp đồng đã không được sử dụng trong trường hợp
người bán đã lừa dối trong việc che giấu khuyết tật của sản phẩm hay sản phẩm tự nó đã có
thể gây nguy hiểm hoặc có nguy hiểm nhãn tiền đối với sức khoẻ hoặc tính mạng, chẳng hạn
như thuốc độc hay súng. Đối với một số toà án, việc một sản phẩm có khuyết tật kết hợp với
thực tế là bị đơn có mời nguyên đơn sử dụng sản phẩm theo một cách nào đó là đủ để xác định
trách nhiệm. Trong một số trường hợp, thuật ngữ nguy hiểm nhãn tiền được giải thích theo
nghĩa là đặc biệt nguy hiểm với lý do xuất phát từ chính khuyết tật chứ không phải giải thích

ràng, chẳng hạn như sự bảo đảm được tuyên bố đối với công chúng nói chung, thì yêu cầu
phải có quan hệ hợp đồng đã được loại bỏ trong những năm 1930. Chẳng hạn như trong vụ
kiện giữa Baxter kiện Công ty Ford Motor năm 1932 thì sự khẳng định trong tài liệu kèm theo
sản phẩm ô tô của hãng này chỉ rõ rằng “kính chắn gió chống vỡ” thì điều này sẽ tạo thành
một sự bảo đảm rõ ràng đối với người mua về việc kính chắn gió của ô tô sẽ không bị vỡ. (13)

(11), (12), (13) Ths. Trần Thị Quang Hồng* Trương Hồng Quang** Một số vấn đề chung về chế định TNSP
và vai trò của chế định này dưới góc độ bảo vệ NTD- (Bài đăng trên Tạp chí NN & PL số tháng 12/2010)

12


Còn đối với sự bảo đảm ngầm định, việc mở rộng thêm trường hợp ngoại lệ của quy
tắc phải có quan hệ hợp đồng không áp dụng đối với các sản phẩm không phải là thực phẩm.
nhưng với án lệ Henningsen kiện Công ty ô tô Bloomfield 1960 thì Toà án Tối cao New Jersey
đã bác bỏ ngoại lệ về sự hạn chế của yêu cầu phải có quan hệ hợp đồng và xác định rằng sự
đảm bảo ngầm định sẽ là đảm bảo với người sử dụng hoặc tiêu dùng cuối cùng của sản phẩm.
Quyết định Henningsen, với tác dụng làm vô hiệu các miễn trách đối với đảm bảo ngầm định
của nhà sản xuất, đã được học tập trong phần lớn các phán quyết toà án khác sau này.(14)
Tuy nhiên phải đến vụ kiện xảy ra giữa Greenman và Yuba Power Products vào năm
1963, khi Toà án tối cao California(15) khẳng định quy tắc về trách nhiệm nghiêm ngặt đối với
các sản phẩm có khuyết tật thì án lệ này mới chính thức được xem là phổ biến và có tầm ảnh
hưởng mạnh mẽ. Trong một thời gian ngắn, quy tắc về trách nhiệm nghiêm ngặt đã lan ra khắp
nước Mỹ và vào năm 2003, nó đã trở thành luật của phần lớn các bang của Hoa Kỳ và được
hình thành tại các quốc gia khác trên thế giới đây cũng chính là lịch sử hình thành của chế
định về trách nhiệm sản phẩm nói chung và trách nhiệm về bồi thường thiệt hại do vi phạm
quyền lợi của NTD nói riêng trên thế giới.
Học hỏi những kinh nghiệm lập pháp về bảo vệ QL NTD và đồng thời phù hợp với tình
hình Việt Nam thực tại thì Luật BVQLNTD năm 2010, có hiệu lực từ ngày 1/7/2011 đã tạo
lập hành lang pháp lý cần thiết cho việc bảo vệ người tiêu dùng (NTD), xác lập được sự ổn

xuất đối với những thiệt hại đã gây ra cho NTD khi họ sử dụng sản phẩm từ nhà sản xuất đó.
Điển hình là điều 632 BLDS năm 1995 có quy định như sau: “ cá nhân, pháp nhân và các
chủ thể khác sản xuất, phân phối do không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng lương thực, thực
phẩm, thuốc chữa bệnh các hàng hóa khác cho NTD thì phải bồi thường thiệt hại”. Tiếp tục
kế thừa tinh thần này, BLDS năm 2005 có nhiều quy định liên quan đến việc xử lý hành vi
xâm phạm quyền lợi của NTD, cụ thể Điều 604 quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô
ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp
khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà
gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại
phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó”. Điều 630 BLDS

14


năm 2005 quy định “cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất, kinh doanh không bảo đảm
chất lượng hàng hoá mà gây thiệt hại cho NTD thì phải bồi thường”. Điều 1 của pháp lệnh
BVQLNTD năm 1999 đã định nghĩa NTD là người mua , sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục
đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức, có nghĩa là người mua hàng hóa
dịch vụ để bán lại sẽ không được coi là NTD. Đồng thời Điều 9 của pháp lệnh cũng quy định
NTD có quyền đòi bồi hoàn, bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn,
chất lượng, số lượng, giá cả đã công bố hoặc hợp đồng đã giao kết, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện
theo quy định của pháp luật đối với việc sản xuất, phan phối hàng cấm, hàng giả, hàng hóa,
dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng và việc thông tin, quản cáo sai sự thật...
Mặc dù đã có Pháp lệnh bảo vệ NTD và các luật có liên quan điều chỉnh các vấn đề
liên quan đến trách nhiệm đối với việc vi phạm quyền lợi của NTD, nhưng với kết quả nghiên
cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và khảo sát, đánh giá thực tiễn thi hành
các quy định của pháp luật về bảo vệ NTD cho thấy các quy định pháp luật hiện hành có nhiều
bất cập và không phù hợp với yêu cầu của công tác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD
trong tình hình mới. Cụ thể như sau:
Các quy định về bảo vệ NTD còn mang tính tuyên ngôn, khó thực hiện. Pháp lệnh Bảo

doanh,… Các nước này còn đưa ra những chế tài đặc thù như công bố công khai trên các
phương tiện thông tin đại chúng, truy thu lợi nhuận bất hợp pháp… Đây là những chế tài rất
hiệu quả để áp dụng cho các tổ chức, cá nhân vi phạm quyền lợi của NTD. Tuy nhiên, các quy
định của pháp luật Việt Nam hiện hành vẫn chưa đưa ra được những chế tài thể hiện tính đặc
thù, phù hợp trong lĩnh vực này.(16)
Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong công tác bảo vệ NTD chưa
được quy định một cách rõ ràng. Khác với các lĩnh vực khác, hoạt động bảo vệ NTD liên quan
đến nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau. Chính vì vậy, có rất nhiều cơ quan, tổ chức có liên quan
đến công tác này. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật hiện hành chưa tạo ra một cơ chế
phối hợp có hiệu quả để các cơ quan có liên quan có thể phối hợp trong công tác bảo vệ NTD.
Do vậy, các vụ việc vi quyền lợi NTD không được phát hiện và xử lý một cách kịp thời, triệt
để. Các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ NTD cũng chưa được trao đủ thẩm quyền để tiến
hành các hoạt động bảo vệ NTD một cách hiệu quả.

(16) Nguồn: Cục Quản lý thị trường - Bộ Công Thương ngày 02/02/2016

16


Chưa có cơ chế hữu hiệu để các tổ chức bảo vệ NTD hoạt động một cách hiệu quả.
Kinh nghiệm trong công tác bảo vệ NTD của nhiều nước trên thế giới cho thấy, vai trò của
các tổ chức bảo vệ NTD là hết sức quan trọng, góp phần quyết định vào sự thành công của
công tác này, ví dụ như khi quyền và lợi ích hợp pháp của NTD bị xâm hại thì tổ chức bảo vệ
quyền lợi NTD sẽ đứng ra khở kiện cho NTD khi mà NTD có yêu cầu. Ở nước ta, việc ra đời
của các tổ chức bảo vệ NTD đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền và lợi
ích cho NTD. Tuy nhiên, cho đến nay, các tổ chức bảo vệ NTD vẫn hoạt động chưa hiệu quả,
chưa đáp ứng được yêu cầu trong công tác bảo vệ NTD trong tình hình mới.
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này là sự bất cập của các
quy định pháp luật hiện hành. Khác với các tổ chức xã hội khác, các tổ chức bảo vệ NTD hoạt
động mà không có sự đóng góp của các hội viên cũng như không có bất kỳ một nguồn thu ổn

trở thành phương tiện để bên mạnh hơn lấn át bên yếu thế hơn và gây thiệt hại to lớn tới lợi
ích chung của xã hội. NTD luôn là bên thiếu thông tin, đặc biệt là các thông tin và kiến thức
liên quan đến đặc tính kỹ thuật của sản phẩm. Bên cạnh đó, NTD thông thường ít có cơ hội
đàm phán, thương lượng trong quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh. Do đó, pháp luật cần
có các quy định đặc thù để đảm bảo sự cân bằng trong các quan hệ này, qua đó góp phần ổn
định trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích chung của xã hội.
Xã hội hóa công tác bảo vệ NTD theo định hướng này, nhà nước khuyến khích các tổ
chức, cá nhân trong xã hội tham gia cùng Nhà nước trong công tác bảo vệ NTD. Bên cạnh đó,
pháp luật hướng tới sử dụng chính sức mạnh của thị trường để loại bỏ các doanh nghiệp có
hành vi xâm phạm quyền lợi NTD từ đó ngoài việc bảo vệ được lợi ích của NTD còn hướng
tới bảo vệ các doanh nghiệp làm ăn chân chính.
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NTD đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của các tổ chức, cá nhân kinh doanh Các quy định của Luật hướng tới việc nâng cao trách
nhiệm của doanh nghiệp đối với NTD nhưng vẫn đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng
của các chủ thể này. Luật không thể hiện xu hướng quá thiên về bảo vệ NTD mà hạn chế đi
quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp, tránh tạo ra những kẽ hở để một số cá nhân lợi dụng
quyền lợi của NTD gây thiệt hại cho doanh nghiệp (Luật tránh việc tạo ra cơ chế khiếu nại
tràn lan không có cơ sở, không quy định quyền được đổi trả lại hàng hóa sau một thời gian sử
dụng như quy định của pháp luật một số nước).

18


1.3. Phân biệt TN BTTH do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và ngoài hợp đồng
TN BTTH do vi phạm quyền lợi của NTD có thể phát sinh từ quan hệ hợp đồng giữa
tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá dịch vụ với người mua hàng hoá hoặc sử dụng dịch vụ
này thông qua hợp đồng miệng nhưng NTD phải là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho
mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức và đồng thời cũng không vì mục
đích lợi nhuận. Và khi có tranh chấp phát sinh thì NTD phải chứng minh đã có quan hệ hợp
đồng với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá dịch vụ đó. Tuy nhiên TN BTTH do vi phạm

hại do vi phạm hợp đồng thì thời điểm bồi thường là thời điểm xác định nghĩa vụ và thời điểm
phát sinh TN BTTH là khác nhau. Còn thời điểm này, trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng có thể xuất hiện đồng thời.
Từ những phân tích ở trên, thì TN BTTH do vi phạm quyền lợi NTD là một dang cụ
thể của TN BTTH ngoài hợp đồng và cũng có thể phát sinh từ quan hệ hợp đồng (hợp đồng
miệng) và cần lưu ý rằng, hợp đồng phải có hiệu lực. Chính vì thế, việc bồi thường thiệt hại
này nếu NTD chứng minh được đã có quan hệ hợp đồng với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hoá dịch vụ thì sẽ căn cứ vào hợp đồng để giải quyết dựa trên cơ sở các điều kiện phát sinh
TN BTTH do vi phạm hợp đồng. Đồng thời, nếu giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hoá dịch vụ không có quan hệ hợp đồng thì việc bồi thường thiệt hại cho NTD phải tuân
theo những căn cứ phát sinh, nguyên tắc bồi thường và các vấn đề liên quan được quy định
trong Chương XX TN BTTH ngoài hợp đồng tại BLDS 2015 và NQ số 03/2006/NQ-HĐTP
ngày 08/7/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng.

20


1.4. Pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi NTD
Quan hệ tiêu dùng là một loại quan hệ được thực hiện trên cơ sở hợp đồng mua bán,
theo đó, NTD mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của người cung cấp về để sử dụng mà không
vì mục đích kinh doanh (bán lại). Như vậy, quan hệ tiêu dùng không phải là quan hệ thương
mại, được điều chỉnh bởi Luật Thương mại mà chỉ có thể là quan hệ dân sự được điều chỉnh
chung bởi BLDS và đặc biệt là Luật bảo vệ NTD. Cũng cần lưu ý rằng, các lĩnh vực pháp luật
khác như pháp luật cạnh tranh, pháp luật về vệ sinh, an toàn thực phẩm, pháp luật về chất
lượng sản phẩm và rộng ra là cả pháp luật dân sự, hình sự đều có thêm mục đích là bảo vệ
NTD. Tuy nhiên, nếu như những pháp luật này bảo vệ NTD theo phương pháp can thiệp vào
hành vi của nhà sản xuất, kinh doanh, cung cấp sản phẩm hàng hóa dịch vụ thông qua những
hạn chế hoặc cấm đoán hành vi thì pháp luật bảo vệ NTD (với tính cách là một chế định pháp
luật độc lập) lại xuất hiện ở phía NTD.

Tại khoản 3 Điều 3 Luật BVQLNTD 2010 có quy định: Tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm
mục đích sinh lợi, bao gồm thương nhân theo quy định của Luật thương mại, cá nhân hoạt
động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh. Về chủ thể chịu
trách nhiệm bồi thường theo luật này, thì bao gồm tất cả tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm.
Tại khoản 6 Điều 3 Luật chất lượng, sản phẩm hàng hóa 2007 có quy định: Tổ chức,
cá nhân sản xuất, kinh doanh là tổ chức, cá nhân tổ chức và thực hiện việc sản xuất (sau đây
gọi là người sản xuất), nhập khẩu (sau đây gọi là người nhập khẩu), xuất khẩu (sau đây gọi là
người xuất khẩu), bán hàng, cung cấp dịch vụ (sau đây gọi là người bán hàng
Về chủ thể chịu TN BTTH được Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa quy định tại khoản
10 Điều 10, khoản 13 Điều 12, khoản 12 Điều 16 và Điều 61, Điều 62 theo đó người sản xuất,
nhập khẩu phải bồi thường thiệt hại cho NTD trong trường hợp hàng hóa gây thiệt hại do lỗi
của nhà sản xuất, nhập khẩu không đảm bảo chất lượng hàng hóa trừ các trường hợp quy định
tại khoản 1 Điều 62 của Luật chất lượng sản phẩm khoản 2 Điều 62 Luật chất lượng sản phẩm
hàng hóa 2007 hàng hóa 2007. Còn về người bán hàng phải chịu trách nhiệm bồi thường cho
NTD trong trường hợp thiệt hại phát sinh do lỗi của người bán hàng không đảm bảo chất lượng

22


sản phẩm, hàng hóa trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 62 Luật chất lượng sản
phẩm hàng hóa 2007. Ngoài ra ta thấy, theo như quy định của Luật này thì chưa đề cập đến
trường hợp cả nhà sản xuất, nhập khẩu và nhà bán hàng đều có lỗi trong việc không đảm bảo
chất lượng sản phẩm, hàng hóa thiệt hại cho NTD.
NTD- là đối tượng được bảo vệ theo Luật bảo vệ NTD và đồng thời đây cũng là đối
tượng được bồi thường thiệt hại nếu phát sinh trách nhiệm bồi thường. Chính bởi sự ưu tiên
này, nhằm bảo đảm hiệu quả trong việc điều chỉnh và tính công bằng trong áp dụng các ưu
đãi, pháp luật không thể sử dụng nguyên vẹn khái niệm NTD trong kinh tế học hoặc với tính

tổ chức không thể được xem là NTD. Giao dịch phát sinh sẽ được các văn bản pháp luật liên
quan đến hợp đồng bảo vệ, mặc dù đối tượng giao dịch là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng. Trong
ví dụ nêu trên, nếu nhân viên uống nước bị thiệt hại thì có thể kiện nhà cung cấp nước với tư
cách là NTD; còn cơ quan, tổ chức đã mua thì chỉ được kiện nhà cung cấp với tư cách là người
mua hàng trong quan hệ hợp đồng thông thường và có thể trở thành đại diện của NTD.(18)
Việc mua hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cho cá nhân, hộ gia
đình. Mục đích tiêu dùng, sinh hoạt ở đây được hiểu là để phục vụ cho nhu cầu của cá nhân
hay hộ gia đình chứ không phải để bán lại. Cần lưu ý rằng, NTD có thể là người không có
quan hệ trực tiếp với nhà cung cấp. Họ có thể được người khác mua tặng, cho, cấp phát. Ví
dụ, mẹ mua bánh về cho con, đứa con không tham gia giao dịch mua bán nhưng nó vẫn là
NTD.(19)
Tóm lại, chủ thể của quan hệ pháp luật về TN BTTH do vi phạm quyền lợi NTD bao
gồm chủ thể chịu TN BTTH (cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa dịch vụ) trong việc cung
cấp hàng hóa, dịch vụ không đảm bảo chất lượng hoặc không cung cấp đầy đủ các thông tin
cần thiết về việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó cho NTD dẫn đến thiệt hại cho NTD và chủ
thể được bồi thường thiệt hại (NTD).

(18), (19) Trang 24, 25 Giáo trình Luật BVQLNTD, NXB chính trị quốc gia-Sự thật Hà Nội 2012

24


1.4.2. Nội dung của quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi
của NTD
Nội dung quan hệ pháp luật về TN BTTH do vi phạm quyền lợi NTD là quyền, nghĩa
vụ và trách nhiệm pháp lý của các bên khi tham gia vào quan hệ pháp luật này. Đối với NTD
là nói đến quyền được bồi thường thiệt hại, còn nói đến các cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ là nói đến TN BTTH cho NTD.
Trước hết, nói đến quyền được bồi thường thiệt hại của NTD. Cũng như ta đã biết,
NTD có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Để phát triển kinh tế bền vững, bất kì nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status