BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN
HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ NHUNG
HÀ NỘI - 2015
Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu và thông tin của luận văn. Đồng
thời tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi
trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn.
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên
luận văn không tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết, rất mong nhận được sự
thông cảm và những ý kiến đóng góp của các thầy, cô và các anh chị học viên.
Xin trân trọng cám ơn.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG ......................................................................................... 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng ............................................................................................................. 8
1.1.1. Khái niệm thiệt hại............................................................................... 8
1.1.2. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ....................................... 12
1.1.3. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng 15
1.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng .. 16
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ...................................................................................... 18
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG VÀ THỰC TIỄN BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DOVI PHẠM HỢP ĐỒNG ............................................................ 19
2.1. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng ........................................................................................................... 19
2.1.1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
các chi phí đi lại, thời gian theo kiện ............................................................... 74
3.2.4. Xây dựng hệ thống cơ quan giám định tại các địa phương đủ năng lực
giám định các thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra ........................... 75
3.2.5. Củng cố năng lực phát hiện và xử lý vi phạm của các tổ chức, cơ quan
nhà nước có thẩm quyền để nâng cao hiệu quả răn đe, phòng ngừa đối với các
bên có hành vi vi phạm. .................................................................................. 80
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 ...................................................................................... 83
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 86
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
1
KÝ HIỆU, CHỮ
VIẾT TẮT
BLDS 2005
DIỄN GIẢI
Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 được Quốc hội
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI,
kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005
2
LTM 2005
Luật Thương mại số 36/2005/QH 11 được Quốc hội
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI,
Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn về xét xử bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sau gần 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước đi vững
chắc và từng bước có sự phát triển đột phá. Các doanh nghiệp kinh doanh trên thị
trường được chủ động sản xuất, kinh doanh và tự do cạnh tranh. Để trao đổi các sản
phẩm hàng hoá, phát triển các hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải có sự thoả thuận
và thống nhất ý chí của những người có sản phẩm hàng hoá về việc trao đổi sản
phẩm hàng hoá đó. Đó là mối quan hệ ý chí, phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa
những người có hàng hoá và được củng cố thêm bằng pháp luật. Như vậy quan hệ
trao đổi sản phẩm hàng hoá là mối quan hệ kinh tế giữa những người có hàng hoá
được thiết lập trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên mà hình thức thể hiện của nó
là bản giao kèo, bản giao kèo này chính là hợp đồng. Quan hệ trao đổi sản phẩm
hàng hoá trở thành quan hệ pháp luật khi được pháp luật điều chỉnh và hợp đồng trở
thành hình thức pháp lý của nó.
Trước yêu cầu đổi mới trong bối cảnh hội nhập, ngày 14/6/2005 Quốc hội đã
thông qua Bộ luật dân sự và Luật Thương mại. Bộ luật dân sự năm 2005(BLDS
2005) và Luật Thương mại 2005 (LTM 2005) ra đời đã đánh dấu bước phát triển
của pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam. Các loại hợp đồng được điều chỉnh bởi pháp
luật chuyên ngành có những điểm riêng nhất định, thông thường mỗi loại hợp đồng
cụ thể ngoài việc phải tuân thủ những quy định chung về hợp đồng trong Bộ luật
dân sự và Luật Thương mại còn chịu sự điều chỉnh của các Luật chuyên ngành .
Khi một hợp đồng được xác lập có hiệu lực pháp luật, các bên có nghĩa vụ
phải thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận, đã cam kết nhưng trên thực tế có rất
nhiều tình trạng vi phạm các cam kết đã thoả thuận, đã giao kết trong hợp đồng.
Việc vi phạm các nghĩa vụ theo hợp đồng (không thực hiện, thực hiện không đúng,
không đầy đủ nghĩa vụ) sẽ dẫn đến bên vi phạm phải chịu những chế tài do pháp
thẩm quyền, mà khi đó chế tài bồi thường thiệt hại rất ít khi được Toà án và trọng
tài chấp nhận khi bên bị vi phạm yêu cầu bồi thường do những khó khăn trong việc
xác định mức thiệt hại cụ thể cũng như căn cứ chứng minh cho các thiệt hại. Hơn
2
nữa, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng từ phía các bên vi phạm
là rất hạn chế, phần lớn họ chây ì, nại ra những lý do không chính đáng nhằm kéo
dài thời gian khi phải bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm hợp đồng.
Vấn đề đặt ra trong điều kiện như vậyphải có các biện pháp hữu hiệu để bảo
vệ bên bị vi phạm, bị thiệt hại, mà biện pháp hữu hiệu nhất vẫn là pháp luật. Đây là
lý do tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng – Lý luận và thực tiễn” để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Luật kinh tế tại Viện Đại học mở Hà Nội. Hy vọng với thành công của việc nghiên
cứu đề tài sẽ góp phần nhỏ vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ
người bị vi phạm hợp đồng, nhằm phòng ngừa các hành vi vi phạm hợp đồng, giáo
dục ý thức tôn trọng pháp luật đối với các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng, củng
cố quan hệ hợp đồng, nâng cao kỷ luật hợp đồng cũng như khôi phục lợi ích của
bên bị vi phạm.
2. Tình hình nghiên cứu
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là một đề tài rộng
được nhiều ngành luật điều chỉnh như luật hình sự, dân sự, thương mại. Do vậy,
nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là vấn đề đã
và đang được nhiều nhà khoa học trong nước rất quan tâm, nghiên cứu trong giai
đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay. Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng dưới góc độ Luật hình sự được các nhà làm luật quan
tâm tới hành vi vi phạm quyền lợi của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng gây
ra các hậu quả nghiêm trọng cho xã hội thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Mặt khác,
dưới góc độ Luật Dân sự thì các nhà làm luật quan tâm tới trách nhiệm dân sự của
nước và pháp luật, Số 2/2011, tr 49-54 viết về “Thời hạn khiếu nại và thời hiệu khởi
kiện trong quan hệ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng dân sự” và bài “Bàn về thời
hiệu khởi kiện theo pháp Luật thương mại Việt Nam” (Th.s Kiều Dương, tạp chí
Dân chủ và pháp luật, Số 10/2014, tr 20-23)
Các bài viết này thường phân tích một cách rất sâu một vấn đề nằm trong chế
tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, nhưng do tính chất của các bài viết
nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh hoặc một trường hợp cụ thể
4
liên quan đến bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mà không thể phân tích
toàn diện các khía cạnh của chế định này.
Và còn có rất nhiều những công trình nghiên cứu, những bài viết khác có giá
trị viết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mà trong luận văn
này tôi chưa thống kê hết được. Trên đây là những công trình nghiên cứu có giá trị,
đã đóng góp cho nhiều cho sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
ở Việt Nam. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng chỉ đề cập đến các vấn đề mang tính chung trên phạm
vi cả nước còn vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng được
hoàn thiện về mặt lý luận bám sát thực tiễn thì chưa được nghiên cứu đề cập. Do
vậy, học viên lựa chọn đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng – Lý luận và thực tiễn ” để nghiên cứuvới mục đích nghiên cứu tổng quát các
khó khăn, bất cập trong thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng và để tránh không bị trùng lắp với các đề tài đã từng đề cập trước đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do vi phạm hợp đồng, luận văn sẽ làm sáng tỏ một số nội dung như: khái niệm
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng; Cơ sở để bên bị vi phạm
nghiên cứu khoa học như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, diễn giải,
phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống… để chứng minh cho những luận
điểm được đưa ra trong luận văn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Về mặt lý luận đề tài nghiên cứu là công trình nghiên cứu một cách có hệ
thống các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng, góp phần xây dựng các luận cứ khoa học cho việc bảo vệ bên bị vi phạm
6
hợp đồng theo pháp luật hiện hành. Ngoài ra còn phục vụ trực tiếp cho quá trình
hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vi
phạm hợp đồng, hoàn thiện các quy định của pháp luật, các căn cứ pháp lý để phòng
ngừa các hành vi vi phạm hợp đồng, nhằm giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật đối
với các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng, củng cố quan hệ hợp đồng, nâng cao kỷ
luật hợp đồng cũng như khôi phục lợi ích của bên bị vi phạm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, từ viết tắt, các
bảng biểu, nội dung của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1:Lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng và thực tiễn bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng
7
Chương 1
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp
đồng được đề cao, tất cả các hợp đồng đều là sự thỏa thuận. Tuy nhiên không thể
suy luận ngược lại: Mọi sự thỏa thuận của các bên đều là hợp đồng. Chỉ được coi là
hợp đồng những thỏa thuận thực sự phù hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ưng
thuận đích thực giữa các bên. Hợp đồng phải là giao dịch hợp pháp do vậy sự ưng
thuận ở đây phải là sự ưng thuận hợp lẽ công bằng, không vi phạm điều cấm của
pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Các hợp đồng được giao kết dưới tác động của
sự lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc là không có sự ưng thuận đích thực. Những
trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng bức thì dù có sự ưng thuận cũng không
được coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu của hợp đồng. Như vậy, một sự thỏa
thuận không thể hiện ý chí đích thực của các bên thì không phát sinh các quyền và
nghĩa vụ pháp lý của các bên.
- Thứ hai, ý chí chỉ phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý khi người giao
kết có đầy đủ năng lực hành vi để xác lập hợp đồng.
- Yếu tố thứ ba không thể thiếu của hợp đồng chính là đối tượng. Sự thống
nhất ý chí của các bên phải nhằm vào một đối tượng cụ thể. Mọi hợp đồng phải có
đối tượng xác định. Đối tượng của hợp đồng phải được xác định rõ rệt và không bị
cấm đưa vào các giao dịch dân sự – kinh tế. Chẳng hạn, đối tượng của hợp đồng
mua bán phải là những thứ không bị cấm. Nếu đối tượng của hợp đồng là bất hợp
pháp thì hợp đồng bị coi là vô hiệu.
Một khi hợp đồng được hình thành một cách hợp pháp thì nó có hiệu lực
như pháp luật đối với các bên giao kết. Đây là nguyên tắc cơ bản của pháp luật
hợp đồng. Sau khi hợp đồng được xác lập với đầy đủ các yếu tố thì hợp đồng đó
có hiệu lực ràng buộc như pháp luật, các bên buộc phải thực hiện cam kết trong
hợp đồng, mọi sự vi phạm sẽ dẫn đến trách nhiệm tài sản mà bên vi phạm sẽ phải
gánh chịu. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng, xử lý vi phạm hợp đồng, tòa án
hoặc trọng tài phải căn cứ vào các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong hợp
đồng để ra bản án hoặc quyết định công bằng, đúng đắn. Khi các mối quan hệ về
9
bởi bản chất của các quan hệ pháp luật dân sự là những quan hệ mang tính tài sản.
10
Ngày nay những tư tưởng pháp lý này của các luật gia La Mã đã được các
nhà lập pháp kế thừa. Chẳng hạn theo điều 1149 của Bộ luật dân sự nước Cộng hoà
Pháp quy định “Những thiệt hại phải bồi thường cho người cho quyền gồm những
khoản mà họ mất và mức lợi mà họ không được hưởng”. Ngoài ra các nhà lập pháp
ngày nay còn phát triển và xác định thêm thiệt hại bao gồm cả thiệt hại phi vật chất,
thiệt hại về tinh thần. Bộ luật dân sự Nhật bản quy định tại điều 707 thì một người
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cả những thiệt hại phi vật chất bất kể thiệt hại
như vậy xảy ra đối với quyền lợi, uy tín hay tài sản của người khác. Hay Bộ luật
dân sự của Cộng Hoà Liên Bang Đức [8]có quy định:
“1. Đối với trường hợp do vi phạm của hoạt động tố tụng thì có quy định: trong
trường hợp gây thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ cũng như trong trường hợp bị
phạt tù giam thì người bị thiệt hại cũng có quyền yêu cầu bồi thường bằng tiền đối
với những tài sản không mang tính tài sản.
2. Người phụ nữ cũng có quyền yêu cầu tương tự nếu người này bị thiệt hại trong các
trường hợp vi phạm đạo đức nghiêm trọng hoặc bị cưỡng bức quan hệ tình dục ngoài
hôn nhân bằng âm mưu thâm độc, bị đe doạ hoặc lạm dụng mối quan hệ phụ thuộc.”
Về mặt thuật ngữ: “Thiệt hại là những mất mát hư hỏng nặng nề về người, và của”
Theo quan điểm pháp lý của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam thì “Thiệt
hại là tổn thất về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân tổ chức
được pháp luật bảo vệ”
Ở Việt Nam trước khi có Bộ luật dân sự chính thức quy định về vấn đề này
thì tồn tại hai quan điểm trái ngược về xác định thiệt hại phi tài sản - thiệt hại về
tinh thần… Quan điểm thứ nhất cho rằng thiệt hại tinh thần không thể bồi thường vì
tính mạng, tình cảm của con người là vô giá. Do đó, không có căn cứ để xác định
mức thiệt hại. Quan điểm thứ hai cho rằng thiệt hại cả về vật chất và tinh thần đều
phải bồi thường vì mọi tính toán chỉ mang tính tương đối, mà bản chất của bồi
phát triển với nhiều giai đoạn thể hiện bản chất khác biệt. Có thể khái quát các giai
đoạn phát triển cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:
12
Giai đoạn thứ nhất: Trong thời kỳ cổ đại, khi chính quyền trong xã hội còn
chưa được tổ chức một cách vững chãi, các cá nhân mỗi khi bị xâm phạm vào
quyền lợi được tự ý trả thù để trừng phạt đối phương hoặc bắt đối phương làm nô lệ
hay lấy tài sản của họ.
Trong giai đoạn thứ hai: người gây ra sự tổn hại có thể nộp một số tiền chuộc
hay thục kim cho nạn nhân để tránh trả thù. Chế độ này còn được gọi là chế độ thục
kim. Chế độ thục kim đã trải qua hai giai đoạn phát triển:
(1) Khi chưa có sự can thiệp của pháp luật, các bên tự thoả thuận với nhau về
tiền chuộc, đó là chuộc lỗi tự nguyện; (2) Nhờ sự can thiệp của chính quyền, các
bên tranh chấp bắt buộc phải giải quyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số tiền
chuộc lỗi theo ngạch giá do pháp luật quy định, đó là chế độ thục kim bắt buộc.
Tiền thục kim này có thể coi như vừa là một hình phạt, vừa có tính chất bồi thường
thiệt hại. Vào thời kỳ Luật 12 bảng, Cổ luật La Mã mới bắt đầu chuyển từ chế độ tự
ý thục kim sang bắt buộc thục kim.
Giai đoạn thứ ba: chứng kiến sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự.
Chính quyền, trước hết can thiệp để trừng phạt những tội phạm chỉ liên quan đến
trật tự xã hội, không liên hệ đến cá nhân. Sự can thiệp này rất cần thiết, vì nếu
không có sự thanh trừng của xã hội, những vụ phạm pháp này không được chú ý tới
vì không làm hại trực tiếp đến quyền lợi của tư nhân. Sự can thiệp của chính quyền
dần dần được nới rộng đến sự phạm pháp liên quan đến quyền lợi của các cá nhân
như các vụ ẩu đả, trộm cắp. Về phương diện hình sự, cá nhân mất hết quyền phục
thù và chỉ còn quyền xin bồi thường tổn hại của mình về dân sự. Tuy trong một số
trường hợp, Luật La Mã đã tiến tới sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự,
nhưng nhà làm luật chưa quy định được hẳn một nguyên tắc trách nhiệm tổng quát,
bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm bồi thường
thiệt hại được Bộ luật dân sự 2005 quy định tại Điều 307 về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại nói chung và chương XXI về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng. Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi
thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường…
14
Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống
trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của
mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người
vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó
phải chịu hậu quả bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất
lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại.
Trách nhiệm pháp lý được nói đến trong luận văn này sẽ được nghiên cứu
theo hướng là hậu quả bất lợi phải gánh chịu do có hành vi vi phạm pháp luật. Do
đó, trách nhiệm pháp lý chỉ xuất hiện khi thực tế có xảy ra vi phạm pháp luật, nếu
không có vi phạm pháp luật thì không được truy cứu trách nhiệm pháp lý. Trách
nhiệm pháp lý cũng chỉ được áp dụng đối với những chủ thể vi phạm pháp luật và
những chủ thể này phải có năng lực trách nhiệm pháp lý. Trong đó, vi phạm pháp
luật được hiểu là “hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm
pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ”[48,tr
500].Hợp đồng là một quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nên hành vi vi phạm
các nghĩa vụ trong hợp đồng được xem là vi phạm pháp luật. Do vậy, chủ thể vi
phạm nghĩa vụ trong hợp đồng sẽ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý.
1.1.3. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
-Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó
thứ ba thì trách nhiệm dân sự phát sinh chỉ có thể là trách nhiệm ngoài hợp đồng.
Trường hợp này không áp dụng đối với hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba bởi
lẽ đây là trường hợp ngoại lệ vì người thứ ba cũng là người có quyền lợi liên
quan và được đề cập đến trong hợp đồng.
1.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra khi có hành vi vi phạm nghĩa
vụ dân sự và đã gây ra thiệt hại. Một người chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự khi
người đó có lỗi, do vậy việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
nghĩa vụ phải dựa trên các cơ sở sau:
16
Thứ nhất, có hành vi vi phạm hợp đồng: là một loại trách nhiệm pháp lý nên
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng chỉ được phát sinh khi có sự
vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng và áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm đó.
Hành vi vi phạm hợp đồng có thể là hành động hoặc không hành động.
Thứ hai, yếu tố lỗi: lỗi trong trách nhiệm dân sự là trạng thái, tâm lý bên
trong của người gây thiệt hại thể hiện nhận thức và mong muốn của mình về hành
vi gây thiệt hại. Lỗi là điều kiện để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
người gây thiệt hại. Nếu bên có nghĩa vụ hợp đồng không có lỗi, thì không phải
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm.
Thứ ba, có thiệt hại thực tế xảy ra: thiệt hại được coi là yếu tố bắt buộc và
tiền đề để quyết định có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không. Thiệt
hại trong vi phạm hợp đồng được hiểu là thiệt hại về vật chất. Có thể là thiệt hại
trực tiếp hoặc gián tiếp và việc xác định thiệt hại là điều vô cùng quan trọng.
Thứ tư, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy
ra: giữa hai yếu tố này phải có mối liên hệ nội tại, tất yếu, trong đó hành vi vi phạm
trên thực tế phải là nguyên nhân gây ra hậu quả. Nếu hành vi vi phạm hợp đồng của
một bên gây ra mà do nguyên nhân khác thì sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi