VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------------
TRẦN ĐĂNG THÀNH
TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG VIỄN THÔNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------------
TRẦN ĐĂNG THÀNH
TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI
DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG VIỄN THÔNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
đồng trong hoạt động Viễn Thông .......................................................................33
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI
THƢỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG VIỄN THÔNG Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY.....................................................................................40
2.1. Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng viễn thông ....................................................................................................40
2.2. Các quy định về giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng viễn thông ....................................................................................................46
2.3. Các trường hợp miễn (loại trừ) trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng viễn thông .............................................................................................48
2.4. Các quy định về áp dụng phối hợp chế tài bồì thường thiệt hại với các hình
thức chế tài khác ...................................................................................................55
2.5. Giải quyết tranh chấp ....................................................................................61
CHƢƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO VI
PHẠM NGHĨA VỤ HỢP ĐỒNG VIỄN THÔNG ..........................................68
3.1. Thực tiễn áp dụng để giải quyết tranh chấp do vi phạm nghĩa vụ trong hợp
đồng viễn thông ....................................................................................................68
3.2. Hoàn thiện quy định về bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong hợp
đồng viễn thông ....................................................................................................69
KẾT LUẬN .........................................................................................................79
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật Dân sự
: Nghĩa vụ dân sự
TNBTTH
: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
TNDS
: Trách nhiệm dân sự
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng các quan hệ thương mại,
đặc biệt là các quan hệ thương mại quốc tế ngày càng đa dạng và phức tạp, trình
độ nhận thức am hiểu về luật của con người ngày càng cao thì các quy định hiện
hành về chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động viễn
thông vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. sự phát
triển nhanh chóng của ngành dịch vụ viễn thông nói chung và dịch vụ thông tin
di động nói nói riêng, trong những năm trở lại đây mạng thong tin di động đã
giúp cho người sử dụng ngày càng được thụ hưởng nhiều dịch vụ có chất lượng
cao hơn với chi phí cạnh tranh. Tuy nhiên, chính sự phát triển nhanh chóng này
cũng là nguyên nhân phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến chất lượng dịch vụ
cũng như đặt ra nhiều vấn đề cần điều chỉnh và thay đổi chính sách để đáp ứng
được thực tế phát triển. Dẫn đến vấn đề khiếu nại ngày càng cáo và phức tạp,
Trong số đó, nhiều khiếu nại có liên quan đến giải quyết bồi thường từ khách
tin di động, thực tế có thể đã có một số nghiên cứu của doanh nghiệp viễn thông
Việt Nam về nội dung này. Bản thân chính các doanh nghiệp viễn thông hiện
nay, cụ thể là Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông cũng đã có nghiên cứu trước
khi công bố mức bồi thường cho khách hàng. Tuy nhiên, những nghiên cứu của
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nhìn chung vẫn chưa được nghiên cứu dưới góc
nhìn từ khách hàng, người sử dụng dịch vụ. Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu,
cùng với thực tiễn công tác tại cơ quan quản lý chuyên ngành về dịch vụ thông
tin di động, tôi cho rằng cần thiết phải có một nghiên cứu chuyên sâu về mức
giới hạn trách nhiệm bồi thường.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập một cách khái quát
về tất cả các hình thức trách nhiệm hợp đồng nói chung dưới góc độ lý luận hoặc
nghiên cứu chuyên sâu về hình thức trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng Viễn Thông ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, khi Bộ luật dân sự năm
2
2005 và Luật viễn thông năm 2009 ra đời và có hiệu lực thì việc nghiên cứu
chuyên sâu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Viễn
Thông ở Việt Nam hiện nay vẫn phải được tiếp tục nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn đặt mục đích tập trung làm rõ những vấn đề lí luận chung nhất
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Viễn Thông ở Việt Nam
hiện nay, đánh giá thực trạng của các quy định pháp luật hiện hành, nêu ra những
tồn tại, bất cập của những quy định này, trên cơ sở đó kiến nghị, sửa đổi một số
quy định của Luật Viễn Thông về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng Viễn Thông ở Việt Nam hiện nay. Từ mục đích trên, luận văn đặt ra
các nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu sau:
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lí luận trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận chung, phân tích, so sánh
được sử dụng chủ yếu để đánh giá, nhận xét về các quy định pháp luật hiện hành
về chế tài trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng viễn thông ở
việt nam hiện nay trong tương quan so sánh với các quy định trước đây. Ngoài
ra, tác giả cũng sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử để đánh giá
sự phát triển và những hạn chế cần khắc phục của pháp luật hiện hành.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Phân tích các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dịch vụ viễn thông. Trong quá trình phân tích,
luận văn so sánh các quy định của pháp luật hiện hành với các quy định trong
văn bản pháp luật trước đây để thấy rõ được những điểm tiến bộ cũng như những
hạn chế, bất cập của pháp luật viễn thông hiện hành gây khó khăn cho việc áp
dụng trên thực tế.
4
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ việc nghiên cứu trên đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng viễn thông ở việt nam
hiện nay để đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng Viễn Thông ở Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng Viễn Thông ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và hoàn thiện pháp luật về trách
ứng dịch vụ có nghĩa vụ chủ yếu là thực hiện dịch vụ cho bên kia, còn bên sử dụng
dịch vụ có nghĩa vụ chủ yếu là thanh toán phí sử dụng dịch vụ (phí dịch vụ).
- Hình thức của hợp đồng bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ
6
thể. Đối với các loại hợp đồng mà pháp luật quy định phải được thiết lập bằng
văn bản thì phải tuân theo các quy định đó (Điều 74 Luật Thương mại 2005).
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, một số loại hợp đồng cung ứng dịch vụ
sau đây phải được lập dưới hình thức văn bản hay một hình thức pháp lý tương
đương: hợp đồng dịch vụ khuyến mại, hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại,
hợp đồng dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa, hợp đồng đại diện cho thương
nhân, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng đại lý thương mại, hợp
đồng gia công, hợp đồng xây dựng, hợp đồng vận chuyển theo chuyến bằng
đường biển, hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo hiểm… Có thể thấy, với đa số hợp
đồng cung ứng dịch vụ, pháp luật Việt Nam đều yêu cầu hợp đồng được lập dưới
hình thức văn bản (trong khi các hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung thì
không có yêu cầu này). Điều này cho thấy tính chất phức tạp của hợp đồng cung
ứng dịch vụ với hợp đồng mua bán hàng hóa.
Khi hợp đồng bị vi phạm dưới hình thức không thực hiện nghĩa vụ hoặc
thực hiện nghĩa vụ không đúng cam kết, bên vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm
hợp đồng (hay còn gọi là trách nhiệm dân sự theo hợp đồng) với bên có quyền.
Theo quy định của phần lớn các hệ thống pháp luật trên thế giới, các hình thức
trách nhiệm theo hợp đồng bao gồm: Bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hợp
đồng. Tuy nhiên hiện nay chiếu theo pháp luật Việt Nam có sự khác biệt giữa
quy định về trách nhiệm hợp đồng trong Bộ luật dân sự (BLDS) và Luật thương
mại. Theo đó, Bộ luật dân sự quy định hai hình thức trách nhiệm theo hợp đồng
là: Bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm; còn Luật thương mại thì quy định sáu
hình thức chế tài thương mại (về bản chất cũng là trách nhiệm hợp đồng) gồm:
Buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại, tạm
định người có quyền có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu người có nghĩa
vụ không thực hiện nghĩa vụ phù hợp với tinh thần và mục đích của nó. Trong
Công ước Viên 1980 và Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế
năm 2004 tương ứng tại Điều 74 và Điều 7.4.1. quy định quyền bồi thường thiệt
hại phát sinh ngay cả khi xảy ra vi phạm bất kỳ một nghĩa vụ nào của hợp đồng.
Và cuối cùng, trong hệ thống pháp luật hợp đồng Common law, mọi vi phạm
8
nghĩa vụ hợp đồng đều là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Trong quan hệ giữa các thương nhân, pháp luật thương mại ra đời là cần thiết để
duy trì và bảo đảm sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng. Khi
một hợp đồng thương mại đã được giao kết hợp pháp và phát sinh hiệu lực pháp
luật thì các bên phải thực hiện các nghĩa vụ mà mình đã thỏa thuận trong hợp
đồng. Việc vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng dẫn đến hậu quả bên vi phạm
phải chịu các hình thức trách nhiệm - chế tài. Đây là khái niệm chế tài hiểu theo
nghĩa hẹp, chế tài chỉ bao gồm các chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương
mại mà bên bị vi phạm có quyền được lựa chọn áp dụng hoặc yêu cầu áp dụng
chế tài. Đó là các biện pháp tác động bất lợi về tài sản của bên có quyền lợi bị vi
phạm đối với chủ thể có hành vi vi phạm cam kết hợp đồng trong thương mại.
Nếu một bên có hành vi vi phạm hợp đồng thì phải gánh chịu những hậu quả
pháp lí (bất lợi) nhất định do hành vi vi phạm đó gây ra. Luật thương mại 2005
quy định các loại chế tài tại Điều 292 theo đó có các chế tài sau: “(a) Buộc thực
hiện đúng hợp đồng; (b) Phạt vi phạm; (c) Bồi thường thiệt hại; (d) Tạm ngừng
thực hiện hợp đồng; (e) Đình chỉ hợp đồng; (f) Hủy bỏ hợp đồng; (g) Các biện
pháp khác do các bên thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật” [28].
Về bản chất chế tài trong thương mại chính là các chế tài hợp đồng, được
quy định trong các quy phạm pháp luật thương mại bao gồm những hình thức xử
lí và hậu quả pháp lí áp dụng đối với bên có hành vi vi phạm trong quá trình kí
kết, thực hiện hợp đồng trong thương mại. Theo quy định của Bộ luật dân sự bồi
được các bên kí kết chủ yếu là những hợp đồng mang tính chất đền bù ngang giá,
phản ánh mối quan hệ mang tính chất hàng hóa tiền tệ, nên việc áp dụng các chế
tài mang tính tài sản là tất yếu, trừ khi chính bản thân người bị vi phạm trong
cùng quan hệ hợp đồng không muốn áp dụng chế tài hợp đồng đối với bên vi
phạm. Hậu quả bất lợi mang tính chất tài sản thể hiện ở việc bên có hành vi vi
phạm phải nộp một khoản tiền phạt hợp đồng, nộp tiền bồi thường hợp đồng hay
những chi phí cần thiết để thực hiện đúng hợp đồng… Chính vì vậy, theo quy
định của Điều 229, khoản 1 Luật thương mại: “Bồi thường thiệt hại là việc bên
10
có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng gây ra” [28]. Như vậy, Điều 229 đã xác định rõ tính chất của
việc bồi thường thiệt hại đó là việc bên vi phạm phải trả tiền bồi thường thiệt hại,
đây chính là việc bù đắp một lợi ích vật chất do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng.
- Chủ thể lựa chọn và quyết định hình thức chế tài buộc bồi thường thiệt
hại chính là bên bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng
Những điều khoản các bên đã cam kết trong hợp đồng là điều khoản bắt
buộc phải được tuân thủ thực hiện, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng theo các cam kết được thỏa thuận trong hợp đồng thì chủ thể đó bị coi là có
hành vi vi phạm hợp đồng. Lúc này bên bị vi phạm có thể áp dụng một hoặc một
số chế tài theo cam kết trong hợp đồng hay theo quy định của pháp luật. Khi bên
bị vi phạm áp dụng các chế tài trong thương mại trong đó có chế tài buộc bồi
thường thiệt hại, nhưng bên vi phạm không thừa nhận hành vi vi phạm hay
không tuân thủ các biện pháp chế tài đưa ra thì bên bị vi phạm có thể làm đơn
khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình. Trong khuôn khổ quy định pháp luật, bên bị vi phạm được toàn quyền
quyết định việc yêu cầu bên vi phạm thực hiện một phần hay toàn bộ trách
nhiệm tài sản đối với mình. Ví dụ, trong hợp đồng thỏa thuận sẽ áp dụng đồng
thời hai chế tài là phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, nhưng bên bị vi phạm có
Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội
định nghĩa: “Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ
thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước với các
chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh,
trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện
pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật” [59]. Với
trách nhiệm pháp lý, tức trách nhiệm đã được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp
luật do Nhà nước ban hành, các “hậu quả” này sẽ là “hậu quả bất lợi” được áp
đặt lên những người phải chịu trách nhiệm pháp lý.
Do vậy, trách nhiệm pháp lý luôn là một chế định rất quan trọng đối với
12
mọi hệ thống pháp luật, vì nó chính là sự bảo đảm cho việc tuân thủ pháp luật
của các thành viên trong xã hội. Trách nhiệm pháp lý xuất hiện khi có sự vi
phạm pháp luật, là hậu quả của hành vi vi phạm và sự thể hiện thái độ trừng phạt
của quyền lực nhà nước đối với những hành vi vi phạm.
Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý cơ sở thực tế của trách nhiệm pháp lý và vi
phạm pháp luật. Chỉ khi có vi phạm pháp luật mới áp dụng trách nhiệm pháp lý.
- Cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quyết định do cơ
quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành trên cơ sở xem xét, giải
quyết vụ việc vi phạm đã có hiệu lực pháp luật.
- Các biện pháp trách nhiệm pháp lý là một loại biện pháp cưỡng chế nhà
nước đặc thù: mang tính chất trừng phạt hoặc khôi phục lại những quyền và lợi
ích bị xâm hại và đồng thời được áp dụng chỉ trên cơ sở những quyết định của cơ
quan hoặc người có thẩm quyền.
BLDS Việt Nam 2005 không có một điều khoản nào định nghĩa về TNDS
mà chỉ quy định cụ thể các loại TNDS được áp dụng trong những trường hợp cụ
thể. Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội
thì: “TNDS là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người
thì để bù đắp cho những tổn thất tinh thần đó, cũng chỉ có thể được thực hiện
bằng việc bù đắp về mặt tài sản. Việc áp dụng TNDS nhằm bù đắp những tổn
thất về vật chất mà người bị vi phạm phải gánh chịu do hành vi vi phạm pháp
luật của người có hành vi vi phạm gây ra.
Một điểm đáng lưu ý đó là, cần phân biệt khái niệm TNDS với khái niệm
NVDS. “NVDS là việc mà theo đó một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là
bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ
có giá, thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một
hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền) ” [7, Điều 280].
Như vậy NVDS là quan hệ pháp luật, có một bên chủ thể phải thực hiện hoặc
không được thực hiện một công việc nhất định vì lợi ích của bên kia. Trong khi
đó, TNDS được hiểu là sự quy định của pháp luật dân sự về hậu quả pháp lý
14
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng buộc người có hành vi vi phạm
phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp cho bên có quyền dân sự bị xâm phạm. Như vậy, về mặt nội dung, TNDS
cũng giống như một quan hệ NVDS. Tuy nhiên, nếu NVDS có thể phát sinh từ
sự thỏa thuận giữa các bên thì TNDS chỉ phát sinh khi xảy ra một sự kiện mà
luật dân sự đã dự liệu về việc phát sinh một TNDS do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền áp dụng pháp luật để giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một quy
định nào ghi nhận về khái niệm này. Theo từ điển Tiếng Việt, “trách nhiệm” có
thể được hiểu theo hai nghĩa, một là “phần việc giao cho hoặc coi như được giao
cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu
quả”, hai là “sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn,
nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả”. Như vậy, theo những cách hiểu
này, trách nhiệm có nhiều điểm tương đồng với nghĩa vụ. Song, cần thấy rằng,
khái niệm trách nhiệm luôn hàm chứa một yếu tố quan trọng đó là “hậu quả”. Vì
thế, nó phải là cái phát sinh sau “nghĩa vụ”. Với trách nhiệm pháp lý, tức trách
vi phạm, bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện
hợp đồng và các hình thức chế tài khác do các bên thỏa thuận không trái với
nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước CHXHCN
Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế.
- Khái niệm hợp đồng viễn thông là một hình thức hợp đồng cụ thể ghi
nhận nội dung những cam kết, thỏa thuận; ghi nhận quyền và nghĩa vụ cụ thể của
mỗi bên. Là một hợp đồng, nên hợp đồng trong lĩnh vực viễn thông cũng phải
tuân theo nguyên tắc về tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được quy định tại
Điều 4 của Bộ luật Dân sự năm 2005: “Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong
việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả
thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt,
cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào. Cam kết, thoả thuận hợp pháp có
hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân,
chủ thể khác tôn trọng”. Các điều khoản căn bản của hợp đồng được ghi nhận
17
bằng văn bản trong quá trình cam kết thỏa thuận tạo nên nội dung của hợp đồng.
Các điều khoản này sẽ trở thành căn cứ pháp lý để xác định quyền, nghĩa vụ và
trách nhiệm của mỗi bên trong hợp đồng. Đây cũng là bằng chứng quan trọng để
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (Tòa án hoặc các Trung tâm trọng tài thương
mại) xác định trách nhiệm pháp lý khi có tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, quyền tự
do cam kết phải chịu sự giới hạn của pháp luật quy định riêng đối với ngành viễn
thông theo quy định tại Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 182/2006/QĐTTg ngày 09/08/2006 về danh mục bí mật nhà nước trong ngành bưu chính viễn
thông và công nghệ thông tin.
- Đặc điểm đầu tiên là chủ thể trong hợp đồng hợp dịch vụ viễn thông bao
giờ cũng có một chủ thể (phía bên kia) là các khách hàng trong nước và nước
ngoài. Ngoài những yêu cầu chung về chủ thể, đặc biệt là mô tả thực trạng pháp
lý của các bên sử dụng dịch vụ, thì những yêu cầu riêng của Luật Thương mại và
bị thiệt hại. Vậy bồi thường có thể hiểu là việc đền bù những tổn thất, mất mát
về vật chất và tinh thần nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi gây thiệt hại
gây ra.
Tóm lại, mọi người trong xã hội đều phải tôn trọng pháp luật, tôn trọng
những quy tắc chung của xã hội, không thể xâm hại đến quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý, gây tổn hại cho
người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự
gánh chịu hậu quả bất lợi chính là việc bồi thường thiệt hại. Như vậy, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự mà theo đó thì một người phải
đền bù những tổn thất, mất mát về vật chất và tinh thần nhằm khắc phục những
hậu quả do hành vi gây thiệt hại gây ra.
1.1.2.3. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
viễn thông
Theo Bộ Luật dân sự của Cộng Hòa Pháp “bất cứ hành vi nào của một
người gây thiệt hại cho người khác thì người đã gây thiệt hại do lỗi của mình
phải hồi thường thiệt hại” [7, Điều 1382]. “Mỗi người phải chịu trách nhiệm về
19