Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM
HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHAN CHÍ HIẾU

HÀ NỘI - 2013





1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra đường
lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đưa ra những quan niệm mới về con đường và

thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại vẫn còn nhiều bất
cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn kinh doanh. Có những vấn đề mà
pháp luật thương mại không quy định cụ thể, rõ ràng như: việc xác định thế nào
là tổn thất thực tế và trực tiếp chưa được quy định gây nhiều khó khăn trong việc
xác định các khoản thiệt hại được bồi thường; các quy định về miễn trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại chưa rõ
ràng đối với trường hợp người thứ ba có quan hệ với một bên trong hợp đồng
gặp bất khả kháng dẫn đến bên đó vi phạm hợp đồng thì có được miễn trách
nhiệm bồi thường hay không?. Những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành
về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại đã gây
nhiều khó khăn cho việc áp dụng và thực thi pháp luật. Việc khắc phục những
bất cập nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
trong hoạt động thương mại hướng tới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
các bên trong quan hệ thương mại cũng như duy trì trật tự kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Chính vì những lý do trên, tác giả lựa chọn việc nghiên cứu “Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại”
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế tài do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại trong đó có bồi
thường thiệt hại là một chế định đã có từ lâu trong hệ thống pháp luật nước ta.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau về chế tài bồi thường
thiệt hại. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
- “Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại – Những vấn đề lí luận và
thực tiễn”, Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Hoàng Thị Hà Phương, Trường
Đại học Luật Hà Nội, năm 2011.


3

- “Pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong kinh

đánh giá thực trạng của các quy định pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt


4

hại, nêu ra những tồn tại, bất cập của những quy định này, trên cơ sở đó kiến
nghị, sửa đổi một số quy định của Luật thương mại về bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng thương mại. Từ mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
Thứ nhất, tìm hiểu một số vấn đề lí luận về bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng trong hoạt động thương mại nhằm làm rõ bản chất pháp lý, chức năng
của chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương
mại, cấu trúc pháp luật về chế tài bồi thường thiệt hại và quá trình hình thành và
phát triển của các quy định về chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
trong hoạt động thương mại ở Việt Nam.
Thứ hai, phân tích các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động kinh doanh, thương mại.
Trong quá trình phân tích, luận văn so sánh các quy định của pháp luật hiện
hành với các quy định trong văn bản pháp luật trước đây và các quy định pháp
luật thương mại quốc tế về hình thức chế tài này để thấy rõ được những điểm
tiến bộ cũng như những hạn chế, bất cập của pháp luật thương mại hiện hành
gây khó khăn cho việc áp dụng trên thực tế.
Thứ ba, Từ việc nghiên cứu trên đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương
mại để đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, đánh giá
thực trạng pháp luật để thấy được vị trí, vai trò và mối quan hệ của hình thức chế
tài này với các hình thức chế tài thương mại khác. Luận văn chỉ nghiên cứu, tìm

đồng trong hoạt động thương mại
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thương mại


6

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt
động thương mại
1.1.1. Hợp đồng trong hoạt động thương mại và trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng trong hoạt động thương mại
1.1.1.1. Hợp đồng trong hoạt động thương mại
Để tồn tại và phát triển, cá nhân hay tổ chức đều phải tham gia vào nhiều
mối quan hệ xã hội khác nhau, trong đó có việc các bên thiết lập với nhau những
quan hệ để chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhất định nhằm đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng. Song việc chuyển giao các lợi ích vật chất này không phải tự
nhiên thiết lập mà chỉ được hình thành khi có hành vi có ý chí của chủ thể, nói
như C.Mác thì: “Tự thân chúng, hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao
đối với nhau được. Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những người
giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật
đó”[16, tr.577]. Theo đó, khi quan hệ trao đổi lợi ích vật chất được hình thành
trên cơ sở thống nhất ý chí giữa các bên thì được gọi là hợp đồng. Hợp đồng
theo nghĩa chung nhất được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ cụ thể.
Pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng trong hoạt động thương mại
nói riêng luôn là nội dung quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia
và hợp đồng thương mại là công cụ pháp lý chủ yếu để các thương nhận thực

niệm pháp lý để chỉ hợp đồng trong hoạt động thương mại như: hợp đồng kinh
doanh, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại…Pháp luật hiện hành không đưa
ra định nghĩa về hợp đồng trong hoạt động thương mại mà chỉ quy định khái
niệm chung về hợp đồng dân sự. Bộ luật dân sự năm 2005 định nghĩa: “Hợp
đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” (Điều 388). Với phạm vi áp dụng của Bộ luật
dân sự 2005, các quy định về hợp đồng dân sự được áp dụng cho hợp đồng nói


8

chung (trong các lĩnh vực dân sự, lao động, thương mại..). Như vậy, hợp đồng
trong hoạt động thương mại là môt dạng của hợp đồng dân sự. Tuy nhiên, hoạt
động thương mại có những đòi hỏi đặc thù, đó là tính nhanh chóng, linh hoạt,
đơn giản, đảm bảo tối đa quyền tự do kinh doanh của các chủ thể mà hợp đồng
trong hoạt động thương mại cũng phải có những điểm khác biệt so với những
hợp đồng dân sự thông thường theo cách hiểu truyền thống. Có thể xem xét hợp
đồng trong hoạt động thương mại trong mối liên hệ với hợp đồng dân sự theo
nguyên lí của mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Trong đó, hợp đồng dân
sự là cái chung còn hợp đồng trong hoạt động thương mại là cái riêng. Trên
quan điểm như vậy, “pháp luật về hợp đồng dân sự là pháp luật có tính chất cơ
bản, chung nhất, là nền tảng, còn pháp luật về hợp đồng trong hoạt động thương
mại là bộ phận pháp luật có tính chất chuyên ngành, là sự quy định cụ thể các
nguyên tắc của việc kí kết và thực hiện hợp đồng trong một lĩnh vực đặc biệt là
lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các thương nhân”[17, tr.21].
Trước đây, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 đã đưa ra khái niệm hợp
đồng kinh tế: “là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên kí
kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu,
ứng dụng nghiên cứu khoa học – kĩ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích
kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng

được quyền lựa chọn kiện thương nhân tại tòa dân sự thẩm quyền chung hoặc
tòa thương mại, trong khi đó nếu thương nhân kiện bên không phải là thương
nhân thì chỉ có thể kiện tại tòa dân sự thẩm quyền chung. Theo pháp luật thương
mại Việt Nam, có những quan hệ hợp đồng trong thương mại đòi hỏi các bên
đều phải là thương nhân (hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý
thương mại..). Bên cạnh đó có những hợp đồng thương mại đòi hỏi ít nhất một
bên là thương nhân (hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ bán
đấu giá hàng hoá, hợp đồng môi giới thương mại…).
Về hình thức, hình thức hợp đồng trong hoạt động thương mại được quy
định một cách đa dạng, có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ
thể của các bên giao kết. Trong một số trường hợp, pháp luật bắt buộc các bên
phải thiết lập hợp đồng bằng hình thức văn bản (hợp đồng đại lý thương mại,
hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ khuyến mại,…). Luật


10

thương mại 2005 cho phép các bên trong quan hệ hợp đồng có thể thay thế hình
thức văn bản bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương (điện báo, fax,
thông điệp dữ liệu điện tử).
Mục đích của hợp đồng trong hoạt động thương mại là lợi nhuận. Khác với
hợp đồng dân sự thuần túy được kí kết với mục đích tiêu dùng, hợp đồng trong
hoạt động thương mại được kí kết với mục đích sinh lợi. Theo pháp luật Việt
Nam, với những hợp đồng ký giữa một bên là thương nhân với một bên không
phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận, việc áp dụng Luật
thương mại để điều chỉnh quan hệ hợp đồng này hay không do bên không có
mục đích lợi nhuận quyết định (Khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005).
Về tính đền bù của hợp đồng thương mại: Pháp luật của hầu hết các nước
đều quy định hợp đồng thương mại phải mang tính đền bù. Ngay cả khi trong
hợp đồng không có thỏa thuận về giá cả thì một bên trong hợp đồng thương mại

nói chung và hợp đồng trong hoạt động thương mại nói riêng, trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại có một số đặc trưng riêng cho phép
chúng ta phân biệt nó với các loại trách nhiệm pháp lý khác, đó là:
* Về thẩm quyền áp dụng: Các chế tài do vi phạm hợp đồng trong hoạt
động thương mại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với bên vi
phạm hợp đồng dựa trên yêu cầu của bên có quyền lợi bị vi phạm. Tuy nhiên,
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại còn có thể do cơ
quan tài phán phi chính phủ (như trọng tài thương mại) áp dụng cho các hành vi
vi phạm.
*Về tính chất của trách nhiệm: Tính tài sản là đặc trưng của các hình thức
trách nhiệm áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng. Bên vi phạm hợp đồng
phải dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình đề bồi hoàn tổn thất vật chất cho
phía bên kia dưới hình thức tiền phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại; hoặc
bên vi phạm phải gánh chịu những tổn thất về vật chất để có thể đảm bảo thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng như chi phí để thực hiện đúng hợp đồng. Trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại khi được áp dụng sẽ buộc bên
vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về mặt tài sản.
Sở dĩ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại mang
tính chất tài sản vì hợp đồng trong hoạt động thương mại là những hợp đồng


12

mang tính chất đền bù ngang giá, phản ánh mối quan hệ mang tính chất hàng
hóa tiền tệ, nên việc áp dụng các chế tài mang tính chất tài sản là tất yếu.
*Về Lĩnh vực phát sinh: Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động
thương mại chỉ phát sinh trong lĩnh vực hoạt động thương mại khi hợp đồng đã
được kí kết và có hiệu lực pháp luật. Hợp đồng khi đã được kí kết và có hiệu lực
chính là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp
đồng. Nếu hợp đồng chưa được kí kết hoặc hợp đồng đã được kí kết nhưng

góp phần làm rõ bản chất pháp lý của chế tài bồi thường thiệt hại.

 Buộc thực hiện đúng hợp đồng:
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là hình thức chế tài, theo đó bên vi phạm
nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên bị vi phạm. Chế
tài này được quy định trong các Điều 297, 298, 299 Luật thương mại năm 2005.
Khoản 1 Điều 297 LTM 2005 quy định: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc
bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các
biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí
phát sinh”. Mục đích của chế tài này là đảm bảo thực hiện trên thực tế hợp đồng
đã kí kết, đảm bảo cho các bên đạt được lợi ích mà họ mong muốn từ việc thực
hiện hợp đồng.

 Phạt vi phạm:
Phạt vi phạm là hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng, theo đó bên vi
phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm một khoản tiền nhất định theo sự
thỏa thuận của các bên trên cơ sở quy định của pháp luật. Chế tài này được quy
định tại Điều 300 và Điều 301 Luật thương mại năm 2005. Căn cứ để bên bị vi
phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt là: (i) có hành vi vi phạm hợp đồng (tức
là hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ các cam
kết trong hợp đồng); (ii) các bên có thỏa thuận trong hợp đồng về việc phạt vi
phạm. Lỗi trong phạt vi phạm được coi là lỗi suy đoán. Theo đó, mọi hành vi vi
phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đều bị suy đoán là có lỗi (trừ trường hợp bên vi
phạm chứng minh được rằng mình không có lỗi). Mục đích của chế tài này
không chỉ trừng phạt bên có hành vi vi phạm, phòng ngừa hành vi vi phạm và
giáo dục ý thức tuân thủ các cam kết trong hợp đồng mà còn góp phần bù đắp
các tổn thất vật chất mà bên có quyền lợi bị vi phạm đã phải gánh chịu.


14

hiện sự tự vệ và khả năng phản ứng trực tiếp của bên bị vi phạm đối với bên vi
phạm hợp đồng và được quy định cụ thể từ Điều 308 đến Điều 315.


15

- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng: được quy định tại Điều 308 và Điều 309
Luật thương mại năm 2005. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng trong thương mại là
hình thức chế tài, theo đó, một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp
đồng. Khi hợp đồng thương mại bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn có
hiệu lực. Bên vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với những tổn
thất đã xảy ra do hành vi vi phạm của bên kia.
- Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng. Khi hợp đồng trong hoạt động thương mại bị đình chỉ thực hiện thì
hợp đồng chấm dứt hiệu lực từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ.
Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện
nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng.
- Hủy hợp đồng là sự kiện pháp lý mà hậu quả của nó làm cho phần hợp
đồng bị hủy bỏ không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Hủy bỏ hợp đồng có
thể là hủy bỏ một phần hoặc hủy bỏ toàn bộ hợp đồng.
+ Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ
hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn có hiệu lực pháp luật.
+ Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả
các nghĩa vụ của hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng. Khi một hợp đồng thương
mại bị hủy bỏ toàn bộ, hợp đồng được coi là không có hiệu lực kể từ thời điểm
giao kết. Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong
hợp đồng, trừ thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ hợp đồng và về
giải quyết tranh chấp.
Hủy bỏ hợp đồng và hợp đồng thương mại vô hiệu khác nhau cơ bản ở chỗ: hợp
đồng vô hiệu không có hiệu lực pháp luật ngay từ thời điểm kí kết do vi phạm

Bên cạnh việc bổ sung thêm hai hình thức chế tài là tạm ngừng và đình chỉ
thực hiện hợp đồng thì Luật thương mại năm 2005 đã cho phép các bên thỏa
thuận các hình thức chế tài khác, miễn là không trái với nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế. Đây là điểm mới khá quan
trọng của Luật thương mại năm 2005 nhằm đảm bảo quyền tự do thỏa thuận, tự
do giao kết của các bên và đáp ứng xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Các bên có
thể thỏa thuận thêm các hình thức chế tài mà Luật thương mại năm 2005 không


17

quy định cụ thể như cầm giữ tài sản, yêu cầu phong tỏa tài khoản…để đảm bảo
cho việc thực hiện hợp đồng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc
áp dụng các hình thức chế tài này sẽ theo điều kiện các bên đã thỏa thuận và áp
dụng quy định chung của Bộ luật Dân sự năm 2005.
1.1.2. Bồi thường thiệt hại – một hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thương mại
1.1.2.1. Khái niệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt
động thương mại
Bồi thường thiệt hại là một chế tài pháp luật phổ biến đã có từ lâu trong hệ
thống pháp luật của nước ta cũng như của các nước trên thế giới. Theo Từ điển
Luật học, “bồi thường thiệt hại là việc người có hành vi vi phạm, có lỗi trong
việc gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần phải bồi hoàn cho người bị thiệt hại
nhằm phục hồi tình trạng tài sản, bù đắp tổn thất tinh thần cho người bị thiệt hại”
[18, tr.84]. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường
thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần. Bộ luật dân
sự năm 2005 của Việt Nam cũng quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
tại Điều 307 như sau:
“1.

hại dưới góc độ là nghĩa vụ của bên có hành vi vi phạm đối với bên bị vi phạm,
phải bù đắp các tổn thất vật chất cho bên bị vi phạm. Còn luật thương mại năm
1997 tiếp cận bồi thường thiệt hại dưới góc độ quyền yêu cầu của bên bị vi
phạm đối với bên có hành vi vi phạm. Có thể thấy cách tiếp cận của Luật thương
mại năm 1997 chưa phản ánh đúng bản chất của bồi thường thiệt hại với tư cách
là một chế tài hợp đồng. Quy định của Luật thương mại 2005 đã thể hiện rõ bản
chất của chế tài này. Từ cách tiếp cận của Luật thương mại năm 2005, luận văn
cụ thể hóa khái niệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động
thương mại như sau: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động
thương mại là việc một bên trong hợp đồng phải bù đắp các tổn thất thực tế,
trực tiếp do hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ
các điều khoản hợp đồng mà mình gây ra cho phía bên kia.
1.1.2.2 Đặc trưng pháp lý của chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thương mại
Các đặc trưng pháp lý của chế tài bồi thường thiệt hại sẽ là các căn cứ cho
phép chúng ta phân biệt nó với các loại chế tài khác theo quy định của pháp luật


19

hiện hành, và phân biệt nó với một số hình thức trách nhiệm bồi thường thiệt hại
khác.
a. Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại
phát sinh khi hợp đồng đã được kí kết và có hiệu lực pháp luật.
Là một hình thức trách nhiệm hợp đồng, bồi thường thiệt hại cũng có đặc
trưng giống như các hình thức trách nhiệm hợp đồng nói chung, đó là chỉ phát
sinh khi hợp đồng đã được kí kết và có hiệu lực pháp luật. Nếu hợp đồng chưa
được kí kết hoặc đã được kí kết nhưng chưa có hiệu lực pháp luật, hoặc hợp
đồng vô hiệu thì các bên trong quan hệ hợp đồng chưa bị ràng buộc với nhau về
mặt pháp lý nên vấn đề bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng cũng không

mại cũng như những đặc trưng pháp lý của nó được trình bày cụ thể trong phần
(1.1.1.1) đã thể hiện sự khác biệt giữa bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
trong hoạt động thương mại với bồi thường thiệt hại do vi phạm một số hợp
đồng khác
b. Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại là
một chế tài mang tính chất tài sản.
Tính chất tài sản của bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt
động thương mại thể hiện ở các khía cạnh sau:
Một là, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương
mại chỉ chấp nhận bồi thường các thiệt hại về vật chất. Trong khi bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng chấp nhận bồi thường cả các tổn hại về vật chất và các
tổn hại về tinh thần (Điều 604 BLDS 2005).
Hai là, về cách thức áp dụng chế tài và mức độ bù đắp lợi ích vật chất: Mặc
dù cùng là chế tài áp dụng cho vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại
nhưng cách thức thực thi chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài buộc thực hiện
đúng hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng lại hoàn toàn khác nhau. Cách thức thực thi
chế tài bồi thường thiệt hại là bên vi phạm hợp đồng phải dùng tài sản thuộc
quyền sở hữu của mình để bù đắp các tổn thất vật chất do hành vi vi phạm gây
ra cho bên bị vi phạm. Trong khi đó, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và
hủy bỏ hợp đồng, mặc dù cũng đem lại những hậu quả vật chất bất lợi nhất định
cho người bị áp dụng, nhưng không có việc người vi phạm dùng tiền và tài sản


21

của mình để trả cho người bị vi phạm. Hai chế tài này được thực hiện thông qua
các quyền yêu cầu của bên có quyền lợi bị vi phạm, buộc bên vi phạm phải tiếp
tục thực hiện hợp đồng; hoặc tuyên bố hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ các nghĩa
vụ hợp đồng.
Việc quy định mức phạt của chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status