BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGÔ MẠNH HÙNG
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT DO VI PHẠM
HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƢƠNG MẠI
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 62 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VIẾT TÝ
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu khoa học trong luận văn được trích dẫn theo đúng nguồn đã công
bố. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào trước đây.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ngô Mạnh Hùng
7
VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƢƠNG MẠI
1.1. Khái quát về bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động
7
thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động
7
thương mại
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
12
trong hoạt động thương mại
1.1.3. Chức năng của chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
18
trong hoạt động thương mại
1.2. Khái quát pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong
19
hoạt động thƣơng mại
phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại
2.1.1. Có hành vi vi phạm hợp đồng
31
2.1.2. Có thiệt hại vật chất thực tế phát sinh
34
2.1.3. Hành vi vi phạm hợp đồng phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra
43
thiệt hại
2.2. Các quy định về giới hạn trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm
44
hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại
2.3. Các trƣờng hợp miễn trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp
46
đồng trong hoạt động thƣơng mại
2.3.1. Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên
47
đã thỏa thuận
56
Tuyên Quang
3.1.1. Kết quả đạt được đối với việc giải quyết các tranh chấp do vi
58
phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại
3.1.2. Một số tồn tại, hạn chế trong giải quyết các tranh chấp đòi bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại
59
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại do
60
vi phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại
3.2.1. Yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại
61
do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại
3.2.2. Nội dung kiến nghị hoàn thiện các quy định về bồi thường thiệt
62
hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại
các văn bản điều chỉnh hoạt động kinh doanh, thƣơng mại, trong đó có Luật
Thƣơng mại. Trong pháp luật thƣơng mại, chế tài trong thƣơng mại là một chế
định có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
các chủ thể trong quan hệ thƣơng mại cũng nhƣ sự nghiêm minh của pháp luật
và đảm bảo trật tự vận hành của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ
nghĩa ở nƣớc ta.
2
Trong hệ thống pháp luật về chế tài thƣơng mại, bồi thƣờng thiệt hại là
một hình thức chế tài đã có từ lâu và đƣợc áp dụng một cách phổ biến và
thƣờng xuyên nhất. Qua những lần sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật
điều chỉnh hoạt động thƣơng mại cho đến nay, chế tài bồi thƣờng thiệt hại
cũng đƣợc bổ sung và hoàn thiện hơn, đã góp phần quan trọng đảm bảo cho
các hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại đƣợc thực hiện một cách nghiêm
minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trƣớc hành vi vi phạm.
Tuy nhiên, trong bối cảnh nƣớc ta hiện nay đã và đang hội nhập kinh tế quốc
tế sâu rộng (hiện nay Việt Nam quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và
vùng lãnh thổ), các quan hệ thƣơng mại quốc tế ngày càng đa dạng và phức
tạp, thì các quy định hiện hành về chế tài bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thƣơng mại vẫn còn nhiều bất cập, chƣa đáp ứng đƣợc
yêu cầu của thực tiễn của hoạt động kinh doanh. Có những vấn đề mà pháp
luật thƣơng mại không quy định cụ thể, rõ ràng nhƣ: việc xác định thế nào là
tổn thất thực tế và trực tiếp chƣa đƣợc quy định gây nhiều khó khăn trong
việc xác định các khoản thiệt hại đƣợc bồi thƣờng; các quy định về miễn trách
nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại
chƣa rõ ràng đối với trƣờng hợp ngƣời thứ ba có quan hệ với một bên trong
hợp đồng gặp bất khả kháng dẫn đến bên đó vi phạm hợp đồng thì có đƣợc
miễn trách nhiệm bồi thƣờng hay không.... Trên cơ sở các quy định pháp luật
thƣơng mại hiện hành và thực tiễn áp dụng, thực hiện trên địa bàn tỉnh Tuyên
luật thực định Việt Nam” do TS. Đỗ Văn Đại làm chủ biên....
Các công trình nói trên đã đề cập đến vấn đề bồi thƣờng thiệt hại do vi
phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại ở các góc độ và phạm vi khác
nhau, trong những khoảng thời gian nhất định. Nhìn chung, các công trình
nghiên cứu này chủ yếu đề cập một cách khái quát về tất cả các hình thức
trách nhiệm hợp đồng nói chung dƣới góc độ lý luận hoặc nghiên cứu chuyên
4
sâu về hình thức bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp đồng thƣơng mại. Tuy
nhiên, hiện nay một số quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Thƣơng
mại năm 2005 đang đƣợc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực
tiễn; đặc biệt từ ngày 11 tháng 7 năm 2007 Việt Nam chính thức trở thành
thành viên của tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) thì việc nghiên cứu vấn đề
pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng
mại và đề xuất giải pháp hoàn thiện các chế định về bồi thƣờng thiệt hại do vi
phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại là yêu cầu khách quan.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi một Luận văn thạc sĩ luật học, tác giả tập trung nghiên
cứu các quy định pháp luật hiện hành về bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thƣơng mại, đánh giá thực trạng việc áp dụng pháp luật
trên địa bàn tỉnh Tuyên quang để làm rõ vị trí, vai trò của chế định bồi thƣờng
thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại trong thực tiễn.
Luận văn chỉ nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về chế tài bồi thƣờng thiệt hại
do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại theo Luật Thƣơng mại năm
2005, ngoài ra có sự đối chiếu với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005,
Luật thƣơng mại năm 1997 và các quy định trong hệ thống pháp luật thƣơng
mại quốc tế nhƣ Công ƣớc viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế và Bộ
nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thƣơng mại quốc tế nhằm đƣa ra sự so
sánh với pháp luật Việt Nam, đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật về thƣơng
Luận văn đƣợc nghiên cứu và trình bày trên cơ sở vận dụng lý luận của
chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nƣớc và pháp luật, về chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Cùng với việc sử dụng phƣơng pháp luận chung nhất của phép biện
chứng duy vật, đề tài đƣợc thực hiện bằng việc sử dụng kết hợp các phƣơng
pháp nghiên cứu chuyên ngành luật nhƣ phƣơng pháp mô tả, phân tích, so
6
sánh, tổng hợp, chứng minh, thống kê, lịch sử… Phƣơng pháp phân tích, so
sánh sẽ đƣợc sử dụng chủ yếu để đánh giá, nhận xét các quy định pháp luật
hiện hành về chế tài bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt
động thƣơng mại với các quy định trƣớc đây cũng nhƣ pháp luật quốc tế.
Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp lịch sử để
đánh giá, làm sáng tỏ yêu cầu nghiên cứu của đề tài.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Luận văn có
kết cấu gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung về bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thƣơng mại;
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thƣơng mại;
Chƣơng 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại do vi
phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
và một số kiến nghị.
7
CHƢƠNG 1
8
cho các chủ thể bị áp dụng. Tuy nhiên, do một số đặc thù của quan hệ pháp
luật hợp đồng nói chung và hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại nói riêng,
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại có một số đặc
trƣng riêng cho phép chúng ta phân biệt nó với các loại trách nhiệm pháp lý
khác, đó là:
● Về thẩm quyền áp dụng: Các chế tài do vi phạm hợp đồng trong hoạt
động thƣơng mại do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền áp dụng đối với bên vi
phạm hợp đồng dựa trên yêu cầu của bên có quyền lợi bị vi phạm. Tuy nhiên,
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại còn có thể do
trọng tài thƣơng mại áp dụng cho các hành vi vi phạm.
● Về tính chất của trách nhiệm: Tính tài sản là đặc trƣng của các hình
thức trách nhiệm áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng. Bên vi phạm hợp
đồng phải dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bồi hoàn tổn thất vật
chất cho phía bên kia dƣới hình thức tiền phạt vi phạm hoặc bồi thƣờng thiệt
hại; hoặc bên vi phạm phải gánh chịu những tổn thất về vật chất để có thể
đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hợp đồng nhƣ chi phí để thực hiện đúng hợp
đồng. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại khi
đƣợc áp dụng sẽ buộc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về
mặt tài sản.
Sở dĩ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại
mang tính chất tài sản vì hợp đồng hoạt động thƣơng mại là những hợp đồng
mang tính chất đền bù ngang giá, phản ánh mối quan hệ mang tính chất hàng
hóa tiền tệ, nên việc áp dụng các chế tài mang tính chất tài sản là tất yếu.
● Về lĩnh vực phát sinh: Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt
động thƣơng mại chỉ phát sinh trong lĩnh vực hoạt động thƣơng mại khi hợp
đồng đã đƣợc ký kết và có hiệu lực pháp luật. Hợp đồng khi đã đƣợc ký kết
và có hiệu lực chính là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong
tài, từ đó góp phần làm rõ bản chất pháp lý của chế tài bồi thƣờng thiệt hại.
♦ Buộc thực hiện đúng hợp đồng: Buộc thực hiện đúng hợp đồng là
hình thức chế tài, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện nghĩa
vụ theo yêu cầu của bên bị vi phạm. Chế tài này đƣợc quy định trong các
10
Điều 297, 298, 299 Luật Thƣơng mại năm 2005. Khoản 1 Điều 297 Luật
Thƣơng Mại năm 2005 quy định: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên
bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện
pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát
sinh”. Mục đích của chế tài này là đảm bảo thực hiện trên thực tế hợp đồng
đã ký kết, đảm bảo cho các bên đạt đƣợc lợi ích mà họ mong muốn từ việc
thực hiện hợp đồng.
♦ Phạt vi phạm: Phạt vi phạm là hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng,
theo đó bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm một khoản tiền nhất
định theo sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở quy định của pháp luật. Chế tài
này đƣợc quy định tại Điều 300 và 301 Luật Thƣơng mại năm 2005. Căn cứ để
bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt là: Thứ nhất, có hành vi vi
phạm hợp đồng (tức là hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc
không đầy đủ các cam kết trong hợp đồng); thứ hai, các bên có thỏa thuận
trong hợp đồng về việc phạt vi phạm, lỗi trong phạt vi phạm đƣợc coi là lỗi suy
đoán, nhƣ vậy mọi hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đều bị suy đoán là
có lỗi (trừ trường hợp bên vi phạm chứng minh được rằng mình không có lỗi).
Mục đích của chế tài này không chỉ trừng phạt bên có hành vi vi phạm, phòng
ngừa hành vi vi phạm và giáo dục ý thức tuân thủ các cam kết trong hợp đồng
mà còn góp phần bù đắp các tổn thất vật chất mà bên có quyền lợi vi phạm đã
phải gánh chịu.
♦ Bồi thƣờng thiệt hại: Cũng có mục đích trừng phạt bên có hành vi vi
phạm và phòng ngừa vi phạm, giáo dục ý thức pháp luật, nhƣng khác với chế
chỗ: Hợp đồng vô hiệu không có hiệu lực pháp luật ngay từ thời điểm ký kết
do vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng quy định tại Điều 122 Bộ
luật Dân sự năm 2005 còn hủy bỏ hợp đồng là hợp đồng thƣơng mại sau khi
kí kết, đã có hiệu lực pháp luật tuy nhiên do hành vi vi phạm hợp đồng của
một bên làm cho hợp đồng bị hủy bỏ.
Nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên thỏa thuận tạm ngừng,
đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng thì không đƣợc coi là áp
dụng các hình thức chế tài. Chỉ đƣợc coi là chế tài do vi phạm hợp đồng trong
thƣơng mại khi một bên vi phạm hợp đồng và một bên tuyên bố đơn phƣơng
tạm ngừng, đình chỉ, hoặc hủy bỏ hợp đồng.
12
Các hình thức chế tài: Tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng đƣợc
áp dụng không giống nhau, song chúng cũng có những nét tƣơng đồng cơ bản
đó là căn cứ áp dụng. Nếu không có thỏa thuận trong hợp đồng thì các hình
thức chế tài tạm ngừng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng chỉ
áp dụng đối với hành vi vi phạm cơ bản. Đây là điểm mới khá quan trọng của
Luật Thƣơng mại năm 2005. Việc đƣa ra khái niệm về hai loại vi phạm cơ
bản và không cơ bản là cơ sở quan trọng để quyết định việc áp dụng các hình
thức chế tài này. Việc bổ sung này là phù hợp với quy định của pháp luật
quốc tế và thực tiễn thực hiện thƣơng mại của Việt Nam.
♦ Các hình thức chế tài khác do các bên thảo thuận: Bên cạnh việc bổ
sung thêm hai hình thức chế tài là tạm ngừng và đình chỉ thực hiện hợp đồng
thì Luật Thƣơng mại năm 2005 cho phép các bên thỏa thuận các hình thức
chế tài khác, miễn là không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt
nam, điều ƣớc quốc tế mà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên và tập quán thƣơng mại quốc tế. Đây là điểm mới quan trọng của Luật
Thƣơng mại năm 2005 nhằm đảm bảo quyền tự do thỏa thuận, tự do giao kết
của các bên và đáp ứng xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Các bên có thể thỏa
dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thƣờng một
khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho ngƣời bị thiệt hại.
Khoản 1, Điều 302 Luật Thƣơng mại năm 2005 quy định: “Bồi thường
thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm
hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”. Trong hoạt động thƣơng mại, với tính
chất đền bù ngang giá, ngƣời ta chỉ chấp nhận bồi thƣờng các thiệt hại vật
chất, còn các thiệt hại về tinh thần nhƣ tổn hại về uy tín, danh dự của thƣơng
hiệu về nguyên tắc không đƣợc chấp nhận bồi thƣờng. Quy định của Luật
Thƣơng mại (2005) đã thể hiện rõ bản chất của chế tài bồi thƣờng thiệt hại.
Từ cách tiếp cận đó, có thể đƣa ra khái niệm bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm
hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại nhƣ sau:
Bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại
là việc một bên trong hợp đồng phải bù đắp các tổn thất thực tế, trực tiếp do
14
hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các điều
khoản hợp đồng mà mình gây ra cho phía bên kia.
● Đặc trưng pháp lý của chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thương mại
♦ Bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng
mại phát sinh khi hợp đồng đã đƣợc ký kết và có hiệu lực pháp luật.
Là một hình thức trách nhiệm hợp đồng, bồi thƣờng thiệt hại cũng có
đặc trƣng giống nhƣ các hình thức trách nhiệm hợp đồng nói chung, đó là chỉ
phát sinh khi hợp đồng đã đƣợc ký kết và có hiệu lực pháp luật. Nếu hợp
đồng chƣa đƣợc ký hoặc đã đƣợc ký kết nhƣng chƣa có hiệu lực pháp luật
hoặc hợp đồng vô hiệu thì các bên trong quan hệ hợp đồng chƣa bị ràng buộc
với nhau về mặt pháp lý nên vấn đề bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp đồng
cũng không đƣợc đặt ra. Đặc điểm này cho phép phân biệt bồi thƣờng thiệt hại
do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại với một số hình thức trách
thƣơng mại chỉ chấp nhận bồi thƣờng các thiệt hại về vật chất. Trong khi bồi
thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng chấp nhận bồi thƣờng cả các tổn hại về vật
chất và các tổn hại về tinh thần (Khoản 1Điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2005).
Hai là, về cách thức áp dụng chế tài và mức độ bù đắp lợi ích vật chất:
Mặc dù cùng là chế tài áp dụng cho vi phạm hợp đồng trong hoạt động
thƣơng mại nhƣng cách thức thực thi chế tài bồi thƣờng thiệt hại và chế tài
buộc thực hiện đúng hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng lại hoàn toàn khác nhau.
Cách thức thực thi chế tài bồi thƣờng thiệt hại là bên vi phạm hợp đồng phải
dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bù đắp các tổn thất vật chất do
hành vi vi phạm gây ra cho bên bị vi phạm. Trong khi đó, chế tài buộc thực
hiện đúng hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng, mặc dù cũng đem lại những hậu quả
vật chất bất lợi nhất định cho ngƣời bị áp dụng, nhƣng không có việc ngƣời vi
phạm dùng tiền và tài sản của mình để trả cho ngƣời bị vi phạm. Hai chế tài
này đƣợc thực hiện thông qua các quyền yêu cầu của bên có quyền lợi bị vi
phạm, buộc bên vi phạm phải tiếp tục thực hiện hợp đồng; hoặc tuyên bố hủy
bỏ một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ hợp đồng.
16
Việc quy định mức phạt của chế tài bồi thƣờng thiệt hại và chế tài phạt
vi phạm hợp đồng là khác nhau. Phạt vi phạm hay còn gọi là bồi thƣờng thiệt
hại đƣợc xác định trƣớc, với các mức phạt đƣợc xác định trƣớc theo giá trị
hợp đồng do các bên trong quan hệ hợp đồng đã thỏa thuận khi ký kết hợp
đồng. Điều 301 Luật Thƣơng mại quy định: Mức phạt đối với vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận
trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi
phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này. Nếu các bên thỏa
thuận mức phạt thấp hơn mức này thì sẽ áp dụng mức phạt do các bên thỏa
thuận. Trƣờng hợp các bên chỉ quy định trong hợp đồng về việc phạt vi phạm
mà không nêu mức phạt cụ thể hoặc mức phạt vƣợt quá mức 8%, khi có tranh
vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nƣớc
có thẩm quyền mà các bên không thể biết đƣợc vào thời điểm giao kết hợp
đồng. Nếu trong một hợp đồng thƣơng mại có quy định điều khoản phạt vi
phạm thì khi vi phạm và thiệt hại xảy ra, bên bị vi phạm có thể áp dụng cùng
lúc cả hai chế tài: Phạt vi phạm và bồi thƣờng thiệt hại. Do đó, để đảm bảo
quyền lợi của mình, hiện nay các doanh nghiệp khi ký kết hợp đồng đặc biệt
lƣu ý xây dựng điều khoản phạt vi phạm trong hợp đồng.
Nguyên tắc bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động
thƣơng mại có sự khác biệt cơ bản so với nguyên tắc bồi thƣờng thiệt hại theo
quy định của pháp luật về lao động. Cụ thể là: Quan hệ hợp đồng trong hoạt
động thƣơng mại, bên vi phạm hợp đồng phải bồi thƣờng toàn bộ thiệt hại do
hành vi vi phạm của mình gây ra, trong khi đó, Bộ luật Lao động tùy từng
trƣờng hợp cụ thể, có thể chỉ buộc ngƣời gây thiệt hại bồi thƣờng một phần
thiệt hại.
Ví dụ: Khoản 1 Điều 130 Bộ luật Lao động năm 2013 quy định: “…
Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá
trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng
tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất
là 3 tháng tiền lương và được khấu trừ hàng tháng vào lương…”.
♦ Mục đích áp dụng chế tài bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp đồng
trong hoạt động thƣơng mại là đảm bảo lợi ích tối đa cho các bên liên quan
trong quan hệ hợp đồng
18
Mục đích quan trọng nhất của chế tài bồi thƣờng thiệt hại là đảm bảo
lợi ích tối đa cho các bên liên quan trong quan hệ hợp đồng. Đối với bên bị vi
phạm hợp đồng, chế tài bồi thƣờng thiệt hại là một biện pháp hữu hiệu nhất
nhằm khôi phục lợi ích vật chất, bù đắp những tổn thất mà họ phải gánh chịu
do hành vi vi phạm của bên kia. Đó là toàn bộ những tổn thất thực tế, trực tiếp
phạm hợp đồng nói chung, chế tài bồi thƣờng thiệt hại nói riêng có tác động
mạnh vào ý thức của các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ đã cam kết theo
hợp đồng, ngăn ngừa và hạn chế việc vi phạm hợp đồng.
Thứ ba, chức năng giáo dục. Việc bị áp dụng chế tài bồi thƣờng thiệt
hại luôn mang lại hậu quả pháp lí bất lợi đối với ngƣời có hành vi vi phạm.
Họ không những có thể mất đi những lợi ích nhất định về kinh tế mà còn có
thể bị giảm sút về uy tín. Việc áp dụng chế tài bồi thƣờng thiệt hại không
những buộc chủ thể có hành vi gây tổn thất cho cá nhân, tổ chức khác phải
chịu trách nhiệm về hành vi của mình mà còn giúp họ rút ra bài học kinh
nghiệm, từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm cũng nhƣ ý thức của những chủ
thể này khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ hợp
đồng nói riêng.
1.2. Khái quát pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thƣơng mại
1.2.1. Nguồn pháp luật điều chỉnh
Hiện nay, Việt Nam là quốc gia đang phát triển với nền kinh tế thị
trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ
theo các quy luật của kinh tế thị trƣờng, đồng thời bảo đảm định hƣớng xã hội
chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nƣớc. Đó là nền kinh
tế thị trƣờng hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nƣớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục
tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan
hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất; có
nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nƣớc
giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tƣ nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế;