Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại và thực tiễn áp dụng trên địa bàn Hà Nội - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ PHƢƠNG LINH
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ QUANG HÀ NỘI – 2012 MỤC LỤC

Trang
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài…………………… ….1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài 5
6. Những kết quả mới của luận văn 5
7. Kết cấu của luận văn 5

BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BVMT : Bảo vệ môi trường
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CTR: Chất thải rắn
NN&PTNN: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
KCN: Khu công nghiệp
KHCN&MT: Khoa học công nghệ và môi trường
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TN& MT: Tài nguyên và môi trường
TW: Trung ương
UBND: Ủy ban nhân dân
CTNH: Chất thải nguy hại DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang
Bảng 1.1.Thành phần chất thải sinh hoạt nguy hại từ các hộ gia đình ở
một số nước phát triển 13
Bảng1.2. Một số loại chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động công
nghiệp 14
Bảng 1.3. Các loại chất thải đặc thù từ các hoạt động y tế 16
Bảng 1.4. Mức độ và số lượng chất thải nguy hại phát sinh từ lĩnh vực
khác 16
Bảng 1.5 Mức độ của các đặc tính độc 20

trên thế giới và ở nước ta đã được tạo lập trên các cơ sở công nghiệp.
Công nghiệp phát triển đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều công
ăn việc làm, đóng góp tích cực cho bộ mặt kiến trúc đô thị, ảnh hưởng
đến hệ sinh thái và môi trường đô thị, làm ô nhiễm không khí, đất, nước
Đất nước ta đang trên đà phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa ngày
càng mạnh mẽ. Sự tăng trưởng về công nghiệp bình quân mỗi năm tăng
15% (theo tài liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội tháng 8-1997). Sự
phát triển sản xuất sẽ đưa lại đời sống của nhân dân được nâng cao cả về
vật chất lẫn tinh thần, tạo được nhiều công ăn việc làm cho người lao
động, giảm bớt các tệ nạn xấu trong xã hội. Đồng thời với sự phát triển
sản xuất nhu cầu sử dụng nhiên liệu để cung cấp năng lượng cho các cơ
sở sản xuất tăng lên, lượng thải các chất thải độc hại, bụi bẩn cũng tăng
lên làm ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất ngày càng trầm trọng
đe dọa đến sự phát triển bền vững. Mặt khác các cơ sở công nghiệp ở
nước ta được xây dựng đã lâu, do nhiều nước viện trợ không đồng bộ,
công nghệ lạc hậu. Máy móc thiết bị đã cũ kỹ, lỗi thời. Lại bị chiến tranh
tàn phá nên nhà xưởng, cơ sở hạ tầng xuống cấp nặng nề. Khi quy hoạch,
xây dựng và phát triển công nghiệp chúng ta cũng chưa có sự quan tâm
thỏa đáng tới yêu cầu bảo vệ môi trường đô thị. Vì thế ở nhiều đô thị và
khu công nghiệp (KCN) nước ta đã bị ô nhiễm nặng nề, đặc biệt ở các đô
thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Việt Trì
Sự ảnh hưởng của ô nhiễm công nghiệp không những gây tác hại về kinh

2

tế mà còn gây ra ảnh hưởng sức khỏe cho cộng đồng, phá hoại cảnh quan
thiên nhiên, cảnh quan đô thị.
Ở Việt Nam, quản lý chất thải, đặc biệt là các chất thải nguy hại sao cho
hợp lí và an toàn theo phương diện bảo vệ môi trường là một trong những
vấn đề rất bức xúc của các đô thị và khu công nghiệp ở nước ta hiện nay.

bố. Dưới góc độ quản lý chất thải nguy hại nói chung, có cuốn: “Quản lý
chất thảI nguy hại” của tác giả Nguyễn Đức Khiển- Nhà xuất bản Xây
dung Hà Nội 2003; Giáo trình quản lý chất thảI nguy hại của Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh- Nhà xuất bản Xây dung năm 2006;
hay luận văn thạc sỹ của Nguyễn Hòa Bình (năm 2004) với đề tài: “Điều
tra, đánh giá tình hình quản lý chất thải rắn nguy hại của Việt Nam và đề
xuất một số giảI pháp quản lý có hiệu quả”…Các công trình nghiên cứu
về chất thảI nguy hại từ góc độ pháp lý thì không nhiều. Bên cạnh một số
khóa luận tốt nghiệp của các sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội, chỉ
có một vài bài viết về vấn đề này như: bài viết của Nguyễn Hòa Bình trên
tạp chí Bảo vệ môI trường năm 2000 và 2002 của Cục môi trường: “Một
số công việc cần triển thực hiện quy chế quản lý chất thải nguy hại ở Việt
Nam”; “Thực hiện công ước Basel về kiểm soát, vận chuyển xuyên biên
giới chất thải nguy hại”…; và mới đây là đề tài nghiên cứu khoa học cấp
trường mã số LH-08-16/ĐHL của Trường Đại học Luật Hà Nội “Hoàn
thiện pháp luật về quản lý chất thảI” năm 2008. Luận án Tiến sỹ của Vũ
Duyên Thủy “ Xây dung và hoàn thiện pháp luật quản lý chất thải nguy
hại ở Việt Nam”…
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quản
lý chất thảI nguy hại và pháp luật quản lý chất thải nguy hại, đánh giá
thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn thành phố Hà
Nội hiện nay. Trên cơ sở đó luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả pháp luật quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn thành phố
Hà Nội.

4

Để đạt được những mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau
đây:

phân tích, so sánh, thống kê, chứng minh, quy nạp, diễn dịch…
6. Những kết quả mới của luận văn
- Góp phần xây dựng hệ thống lý luận về pháp luật quản lý chất
thải nguy hại;
- Phân tích, đánh giá một cách hệ thống và khoa học những ưu
điểm, tồn tại hạn chế của pháp luật hiện hành về quản lý chất thải nguy
hại;
- Xác định cụ thể yêu cầu cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện
pháp luật quản lý chất thải tại thành phố Hà Nội nói riêng và trên cả nước
nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn bao gồm những nội
dung cơ bản sau:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về quản lý chất thải nguy hại và
pháp luật quản lý chất thải nguy hại
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật quản lý chất thải nguy hại trên địa
bàn thành phố Hà Nội
Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật quản
lý chất thải nguy hại tại Hà Nội

6

CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT
THẢI NGUY HẠI VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY

1.2 Hệ thống quản lý chất thải nguy hại
Do chất thải nguy hại có thể tồn lưu những độc tính trong một thời
gian dài, có khi hàng thế kỷ, nên cần sớm giảm thiểu lượng chất thải nguy
hại được thải bỏ. Việc giảm thiểu lượng chất thải nguy hại có thể được
thực hiện thông qua các biện pháp giảm thiểu lượng chất thải phát sinh tại
nguồn, xử lí, tái chế, hoặc tái sử dụng chất thải nhằm hạn chế tới mức
thấp nhất những ảnh hưởng của chúng tới môi trường.
Theo kinh nghiệm về quản lý chất thải của các nước trên thế giới, một hệ
thống quản lý chất thải nguy hại hữu hiệu khi hệ thống này biết gắn kết
chặt chẽ giữa các yếu tố pháp lý với các chính sách
- Công cụ pháp lý: Đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý
chất thải. Bởi đây là nền tảng cho các hợp phần khác của toàn bộ
hệ thống. Việc áp dụng một khung pháp lý có thể thực hiện ngay từ
ban đầu, ví dụ như các hướng dẫn kĩ thuật được thực hiện dưới các
điều khoản của luật pháp hiện hành, và cũng có thể cuối cùng được
phát triển thành các văn bản pháp lí độc lập riêng về chất thải nguy
hại.
- Cƣỡng chế: Luật pháp thông thường chỉ là một khung, đòi hỏi các
quy chế hướng dẫn và quy định thực hiện cụ thể phải được soạn
thảo trước khi được triển khai. Để tiếp tục việc triển khai, cần có
những giải pháp để cưỡng chế thi hành luật phù hợp trước khi công
bố một biện pháp kiểm soát nào đó.
- Phƣơng tiện: không thể thực hiện và cưỡng chế thi hành luật pháp
nếu như các văn bản pháp lý đó không có tính khả thi, ví dụ các
quy định pháp lý yêu cầu chủ thải phải sử dụng loại phương tiện
đối với loại chất thải nguy hại cụ thể nào đó trong khi các chủ thải
không thể có được loại phương tiện yêu cầu hoặc trên thực tế chưa
có loại phương tiện đó được áp dụng, do vậy, một hệ thống kiểm
soát chất thải nguy hại cấp quốc gia sẽ phải bao gồm cả các biện



9

kiểm soát giá cả để đảm bảo rằng không có sự lạm dụng độc
quyền;
o Chính phủ là người giáo dục cho cả chủ thải và cộng đồng,
đồng thời cơ sở xử lý phải được giao vai trò tích cực trong
việc cải thiện môi trường.
- Các chủ phát thải: thành phần bị kiểm soát bởi luật và được coi
là đối tượng sẽ chịu phần lớn hoặc tất cả các chi phí, ít nhất là dài
hạn, trên cơ sở người gây ô nhiễm phải trả tiền.
Nhiều chủ thải, nhất là đối với những nguồn nhỏ có thể không nhận
biết được rằng họ đang phát thải chất thải nguy hại. Đặc biệt là trường
hợp đổ chất thải không kiểm soát vào nguồn nước mặt. trong những
trường hợp như vậy cần có một chương trình giáo dục kèm theo các
quy trình cưỡng chế.
Một lưu ý khác nữa, theo quan điểm của các nhà công nghiệp, những
người đang sinh ra nguồn chất thải lớn, thì họ chính là những người
tạo ra nguồn chất thải lớn , thì họ chính là những người tạo ra thu nhập
cho quốc gia về ngoại tệ, vì vậy có bất cứ một chi phí thêm nào cũng
đều làm giảm khả năng của họ trên thị trường thế giới. Họ có thể chấp
nhận một cách miễn cưỡng yêu cầu phải trả tiền do gây ô nhiễm môi
trường trong một thời kì lâu dài, nhưng họ không muốn và không thể
chấp nhận một sự tăng chi phí cao vọt trong thời gian trước mắt.
- Các nhóm quan tâm chuyên ngành: đại diện cho các viện, các
trường đại học, cơ quan tư vấn, các cơ sở thí nghiệm thuộc nhà
nước, họ là những người có quan tâm về chuyên môn trong việc
ủng hộ việc xây dựng và tiếp tục vận hành hệ thống kiểm soát ô
nhiễm và quản lý chất thải nguy hại có hiệu quả.
- Các nhóm công chúng: bao gồm các tổ chức phi chính phủ và

những kinh nghiệm của các nước trên thế giới tám yếu tố cốt lõi trong
một hệ thống quản lý chất thải nguy hại như sau:
+ Yếu tố 1 – Định nghĩa rõ ràng: Muốn quản lý tốt các loại chất
thải, một yếu tố cần thiết là phải có những định nghĩa rõ ràng về “ chất

11

thải ” và “ chất thải nguy hại ” nhằm đưa ra được những quyết định đúng
đắn trong việc cần kiểm soát chất thải đó hay không.
+ Yếu tố 2 – Đăng ký nguồn thải: Bằng cách yêu cầu các chủ phát
thải tự đăng ký với các cơ quan có thẩm quyền, ngay lập tức người ta có
thể thiết lập được một cơ chế cả cho việc nhận thông tin chính xác cho
mục đích quy hoạch và cả cho cưỡng chế và kểm soát.
+ Yếu tố thứ 3 – Trách nhiệm quan tâm: Một nghĩa vụ được đặt
trên vai các chủ thải là buộc họ phải chịu trách nhiệm về các chất thải của
họ và đối với bất cứ sự tổn hại nào với môi trường bắt nguồn từ việc thực
thi không nghiêm chỉnh “ trách nhiệm” thậm chí kể cả sau khi chất thải đã
rời khỏi nơi mà nó sinh ra. Điều này nhằm mục tiêu thúc đẩy việc bảo
đảm an toàn hơn cho những người ký hợp đồng quản lý chất thải và tọa
điiều kiện thanh tra, kiểm soát chính quyền. Trách nhiệm trước nhất thuộc
về các chủ thải, trách nhiệm thứ hai thuộc về các chủ vận chuyển và các
chủ cơ sở quản lý chất thải. Trách nhiệm này đòi hỏi họ phải quản lý chất
thải theo một phương thức thích hợp.
+ Yếu tố thứ 4 – Đăng ký vận chuyển chất thải: Đây là một yêu
cầu đơn giản nhằm đăng ký với các cơ quan có thẩm quyền nếu họ
chuyên chở các chất thải nguy hại. Một điểm quan trọng từ quan điểm
kiểm soát là nó sẽ tạo ra một phương thức đơn giản để chứng tỏ mắc sai
phạm vì bất cứ một xe chở chất thải không có hồ sơ đăng ký thì đã là vi
phạm.
+ Yếu tố thứ 5 – Kiểm soát vận hành việc vận chuyển chất

+ Luật bảo vệ môi trường 2005, trong đó Mục 2 của Luật tập trung
các vấn đề về Quản lý chất thải nguy hại.
+ Các văn bản dưới Luật là Nghị định số 80/2006/NĐ – CP của Chính
phủ hướng đẫn thi hành luật Bảo vệ môt trường.
+ Quyết định số 23/2006/QĐ – BNMT ngày 26/12/2006 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường ban hành Danh mục chất thải nguy
hại

13

+ Thông tư 12/2006/TT – BTNMT Hướng dẫn về điều kiện năng lực,
thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải
nguy hại (thay cho Quy chế quản lý Chất thải gây hại, ban hành kèm theo
Quyết định số 155/1999/QĐ – TTg ngày 16 tháng 7 năm 1999 của Thủ
tướng Chính phủ).
+ Nghị định 59/2007/NĐ – CP về Quản lý chất thải rắn ban hành ngày
9 tháng 4 năm 2007 của Thủ tướng chính phủ.
+ Quyết định của bộ trưởng bộ KH CN& MT số 60/2002/QĐ –
BKHCNMT ngày 7 tháng 8 năm 2002 về việc ban hành hướng dẫn kỹ
thuật chôn lấp chất thải nguy hại.
+ Thông tư số 12/2006/TT- BCH ban hành ngày 22 tháng 2 năm 2006 về
việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 68/2005/NĐ- CP ngày 20 tháng 5
năm 2005 của Chính phủ về An toàn hóa chất.
+ Quy chuẩn Việt Nam 07/2009/BTNMT về Ngưỡng chất thải nguy hại.
+ Hoạt động liên quan đến quản lý chất thải nguy hại đã được quy định
trong Thông tư số 12/2006/TT – BTNMT: “Thông tư hướng dẫn điều
kiện năng lực, thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số
quản lý chất thải nguy hại” do Bộ TNMT ban hành ngày 26-12-2006.
Thông tư số 12-2006/TT – BTNMT quy định trách nhiệm cho chủ nguồn
thải chất thải nguy hại phải:

còn lại sẽ được thu gom và xử lý an toàn với môi trường.
- Giảm sử dụng 65% túi nilon tại siêu thị và các trung tâm thương
mại so với năm 2010.
- 80% các thành phố có điểm riêng để tái chế chất thải rắn được phân
loại từ từng hộ gia đình.
- 90% tổng lượng chất rắn công nghiệp không nguy hại sẽ được thu
gom và xử lý để bảo vệ môi trường, trong đó 75% được thu gom để
tái sử dụng và tái chế.
- 70% tổng lượng chất rắn nguy hại từ khu công nghiệp được xử lý
để bảo vệ môi trường.

15

- 100% chất thải rắn không nguy hại và chất thải rắn nguy hại từ
ngành y tế được thu gom và xử lý để bảo vệ môi trường.
- 70% tổng lượng chất rắn từ nông thôn và 80% từ làng nghề được
thu gom và xử lý để bảo vệ môi trường.
1.4. Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại
Cũng như các loại chất thải thông thường khác, chất thải nguy hại có thể
được phát sinh ra từ các hoạt động sống, hoạt động thương mại, tiêu
dùng, hoạt động y tế hoặc từ các hoạt động công nghiệp, bùn cặn từ các
công trình xử lý nước thải công nghiệp, cặn dung môi, cặn sơn… Chất
thải nguy hại được phát sinh ở bất kì nơi nào và tại bất kì thời điểm nào
có thể.
1.4.1. Quá trình sinh ra chất thải nguy hại từ hoạt dộng sinh hoạt
Các loại chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động sinh hoạt động sinh
hoạt của con người thường là những đồ vật đã qua sử dụng mà thường
ngày chúng ta không để ý. Theo thống kê trên thế giới, đặc biệt là ở
những nước phát triển, khi nhu cầu của cuộc sống càng cao thì số lượng
và chủng loại của các thành phần nguy hại càng nhiều

Thuốc rửa ( xi đánh bong, thuốc rửa lò)
11,5
3,0
Sản phẩm từ xe hơi( đa số là dầu động cơ)
10,5
27,0
Vật dụng làm vườn( thuốc trừ sâu, phân bón)
4,1
0,7
Sở thích riêng ( hóa chất dùng cho bể bơi, màu hội
họa…)
3,4
0,8
Dược phẩm quá hạn sử dụng
3,2
_
Đèn huỳnh quang…
_
5,5
* Ở Na Uy ắc – quy được thu gom riêng với số lượng khoảng 3kg/hộ/năm

1.4.2. Quá trình gây ra chất thải nguy hại từ hoạt động công nghiệp
Hầu hết các ngành công nghiệp đều phát sinh chất thải nguy hại. Số
lượng chất thải nguy hại chiếm tỉ trọng lớn thuộc về các ngành công
nghiệp chính như sau:
- Sản xuất hóa chất và dược phẩm
- Tinh chế kim loại
- Các sản phẩm xăng và than đá
- Sản xuất và chế biến kim loại
- Sản xuất cao su và chất dẻo.

Loại chất thải nguy hại điển hình
Sản xuất hóa chất
- Axit và kiềm: HCL, H
2
SO
4
, HNO
3
, NaOH…
- Dung môi thải và cặn chưng cất: benzene,

18

toluene, axetol, metylen…
- Chất thải phản ứng, chất oxi hóa: pemanganat
kali; hypoclorit; sulphit kali; sulphit natri…
- Sản phẩm hóa chất thương mại thải bỏ
- Bùn cặn từ xử lý chất thải lỏng
Công nghiệp xây dựng
- Sơn thải dung môi đã sử dụng
- Axit mạnh và kiềm
Cửa hàng bảo trì xe cộ
- Sơn thải; dầu thải; dung môi đã sử dụng
- Axit và kiềm
Sản xuất đồ đạc gỗ và sửa chữa
- Sơn thải; dầu thải;
- Dung môi (halogen và non – halogen) đã sử
dụng
Gia công kim loại
- Dung môi thải và cặn chưng cất: benzene,

1.4.3. Quá trình sinh ra chất thải nguy hại từ hoạt động y tế
Theo số liệu từ cơ quan bảo vệ môi trường (US EPA) 1990, thu thập tại
Mỹ, các chất thải y tế phát sinh chủ yếu từ các bệnh viện, nhà điều dưỡng,
phòng bác sĩ, lâm sàng, phòng xét nghiệm, phòng khám nha khoa, thú y,

19

nhà tang lễ, ngân hàng máu, Các thành phần nguy hại điển hình chủ yếu
phát sinh từ các hoạt động phẫu thuật người, động vật xét nghiệm bao
gồm các bộ phận cơ thể và các tổ chức nội tạng; các vật nhọn sắc và dễ
gẫy có tiếp xúc với máu, mủ trong quá trình mổ xẻ; các chất lỏng sinh
học hoặc giấy thấm đã sử dụng trong y tế, nha khoa; các gạc, bong băng
có máu, mủ của bệnh nhân; các loại ống nghiệm nuôi cấy vi trùng trong
các phòng xét nghiệm hoặc các loại thuốc hết hạn sử dụng…
Bảng 1.3. Các loại chất thải đặc thù từ các hoạt động y tế

Loại chất thải nguy hại
Nguồn tạo thành
Chất thải chứa các vi trùng
gây bệnh
Các chất thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng
của người sau khi mổ sẻ và của các động vật sau
khi xét nghiệm, các gạc, bông lẫn máu, mủ của
bệnh nhân…
Chất thải bị nhiễm bẩn
Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh
nhân, các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà…

Chất thải đặc biệt
Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status