Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp ở việt nam - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ THANH THỦY

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
TRONG KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ THANH THỦY

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
TRONG KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. DOÃN HỒNG NHUNG

Hà Nội – 2016


Tổng quan về chất thải nguy hại

6
6

1.1.1 Khái niệm chất thải nguy hại

6

1.1.2 Sự cần thiết quản lý chất thải nguy hại

9

1.2

Khái niệm pháp luật quản lý chất thải nguy hại trong khu
công nghiệp

11

1.2.1 Khái niệm khu công nghiệp và quản lý chất thải nguy hại
trong khu công nghiệp

11

1.2.2 Khái niệm pháp luật quản lý chất thải nguy hại trong khu
công nghiệp

15

thải nguy hại trong khu công nghiệp ở Việt Nam

26

2.1.1 Khái quát quá trình hình thành pháp luật về quản lý chất thải
nguy hại trong KCN

26

2.1.2 Kết quả thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại

27

2.1.3 Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân

32

2.2. Thực trạng các qui định của pháp luật về quản lý chất thải
nguy hại trong khu công nghiệp
2.3

40

Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý CTNH trong
KCN ở Việt Nam.

2.3.1 Thực trạng quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam

46
46


3.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

73

KẾT LUẬN

84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

86


DANH MỤC VIẾT TẮT

TT

Kí hiệu viết tắt

Nguyên nghĩa

1

CTR

Chất thải rắn

2


QCVN

Quy chuẩn Việt Nam

8

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

9

TCXDVN

Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam

Ghi chú


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Thống kê công nghệ xử lý chất thải nguy hại ở Việt Nam ............ 28


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề toàn cầu mà không phải của
riêng quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nào. Thực tiễn đã chứng minh, không một
quốc gia nào có thể phát triển hùng mạnh và bền vững nếu quốc gia đó không
lấy vấn đề bảo vệ môi trường làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế. Có rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường, trong đó ô nhiễm môi trường do chất

Linh, Lê Thị Hồng Trân, Trịnh Ngọc Đào - Trường Đại học Bách Khoa,
ĐHQG HCM năm 2009;
- Báo cáo khoa học “Quy hoạch hệ thống thu gom vận chuyển chất thải
rắn công nghiệp và chất thải công nghiệp nguy hại cho các khu công nghiệp
tại Thành phố HCM”, năm 2012;
- Luận án “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt dộng
làng nghề gây ra tại Việt Nam hiện nay” của TS Lê Kim Nguyệt năm 2014;
- Sách chuyên khảo của PGS.TS Doãn Hồng Nhung và Ths. Nguyễn
Thị Bình “Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường tại khu công nghiệp ở Việt Nam” năm 2016.
Trong bối cảnh Luật bảo vệ môi trường năm 2014 mới có hiệu lực thi
hành, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
trong khu công nghiệp ở Việt Nam”, đề tài này có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với cuộc sống con người khi mà vấn đề ô nhiễm môi trường ngày
càng trở nên nghiêm trọng. Lựa chọn đề tài này là tiếp tục nghiên cứu các
công trình nghiên cứu trước đây của các học viên, bên cạnh đó cũng làm sáng
tỏ một số vấn đề đó là:
- Nghiên cứu thực trạng hệ thống pháp luật về quản lý chất thải nguy
hại trong khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

2


- Kiến nghị hướng sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải
nguy hại trong khu công nghiệp ở Việt Nam cho phù hợp với thực tế và phù
hợp với xu hướng hội nhập quốc tế.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận và thực tiễn về thực trạng Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong
khu công nghiệp ở Việt Nam.

5.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào pháp luật về quản
lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp của Việt Nam hiện nay. Phân tích
thực trạng của pháp luật đối với lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại ở Việt
Nam, từ đó rút ra kết luận làm cơ sở cho việc đề ra những phương hướng và
giải pháp trong thời gian tới.
Cụ thể, nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật hướng tới việc giải quyết
việc phân định rõ thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước trong công
tác quản lý CTNH và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý
CTNH tại KCN; bổ sung các chế tài theo hướng tăng sức răn đe đối với hành
vi vi phạm về CTNH. Giải pháp được đưa ra dựa trên đánh giá thực tiễn môi
trường KCN hiện nay cũng như hiệu quả áp dụng các quy định hiện hành về
quản lý CTNH tại KCN.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Luận văn bổ sung về mặt lý luận các khái niệm, đặc điểm, nội dung
và một số yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong
khu công nghiệp ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng vai trò của pháp luật trong lĩnh vực quản lý chất
thải nguy hại trong khu công nghiệp, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những
hạn chế của pháp luật trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại trong khu
công nghiệp trong thời gian qua.

4


- Đề xuất phương án và giải pháp cơ bản nâng cao vai trò của pháp luật
đối với việc quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Tổng quan về chất thải nguy hại và pháp luật về quản lý chất

Hoa Kỳ định nghĩa: chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn – semisolid, và các bình
khí) có thể được coi là chất thải nguy hại khi đáp ứng các tiêu chí:
- Thuộc danh mục chất thải nguy hại do EPA đưa ra (gồm 4 danh sách);
- Có một trong bốn đặc tính (khi phân tích) do EPA đưa ra gồm: cháy –
nổ; ăn mòn; phản ứng và độc tính;

6


- Được chủ nguồn thải (hay nhà sản xuất) công bố là chất thải nguy hại.
Pháp luật môi trường Philipin đưa ra khái niệm: chất thải nguy hại là
những chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, hoạt tính, có thể cháy, nổ mà
gây nguy hiểm cho con người và động vật.
Tại Việt Nam, khái niệm chất thải nguy hại lần đầu được đề cập trong
Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành theo Quyết định 155/1999/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ, trong đó định nghĩa tại Khoản 2 Điều 3 như sau:
“Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một
trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn
mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác), hoặc tương tác với các
chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người. Danh mục các
CTNH được ghi trong Phụ lục 1 kèm theo Quy chế này. Danh mục này do cơ
quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp trung ương quy định”.
Tới Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, khái niệm chất thải nguy hại
được rút gọn tại Khoản 13 Điều 3 như sau:
“13. Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây
nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác.”
Qua các định nghĩa trên, cho thấy sự đa dạng trong quan điểm xây
dựng khái niệm về chất thải nguy hại tại mỗi quốc gia, tuy nhiên tựu chung lại
gặp nhau ở các đặc tính của chất thải nguy hại (như cháy nổ; ăn mòn; độc
tính) và trạng thái của chất thải (rắn; lỏng; bán rắn; khí) cũng như tác hại nguy

công trình.
- Có độc tính: Đầu tiên là độc tính cấp, các chất thải có thể gây tử
vong, tổn thương nghiêm trọng hoặc có hại cho sức khỏe qua đường ăn uống,
hô hấp hoặc qua da. Độc tính từ từ hoặc mạn tính, các chất thải có thể gây ra
các ảnh hưởng từ từ hoặc mạn tính, kể cả gây ung thư, do ăn phải, hít thở phải
hoặc ngấm qua da. Sinh khí độc, các chất thải chứa các thành phần mà khi

8


tiếp xúc với không khí hoặc với nước sẽ giải phóng ra khí độc, gây nguy hiểm
đến con người và sinh vật. Đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.
- Có độc tính sinh thái: Các chất thải có thể gây ra các tác hại nhanh
chóng hoặc từ từ đối với môi trường thông qua tích lũy sinh học và/hoặc gây
tác hại đến các hệ sinh vật.
- Dễ lây nhiễm: Chất thải nếu không được quản lý chặt chẽ, không đảm
bảo an toàn trong thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý thì các rủi ro, sự cố sẽ
gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khỏe
cộng đồng. Tùy thuộc vào đặc tính và bản chất của chất thải mà khi thải vào
môi trường sẽ gây nên các tác động khác nhau, lan truyền bệnh [26].
Theo Công ước Basel năm 1989 [48], chất thải nguy hại được phân làm
7 nhóm, với 236 danh mục hoá chất độc hại.
1.1.2 Sự cần thiết quản lý chất thải nguy hại
Sản xuất công nghiệp là nguồn phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu và
chiếm hơn 80% khối lượng CTNH như các dung môi, hóa chất, sơn thải, bao
bì chứa hóa chất, dầu nhớt thải... Rác thải công nghiệp bao gồm nhiều chất
thải độc hại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Nếu không được xử lý,
chất thải độc hại sẽ ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe con người. Ðộ độc
hại của các chất thải nguy hại rất khác nhau. Có chất gây nguy hiểm cho con
người như các chất cháy có điểm cháy thấp, các chất diệt côn trùng, các vật

Thanh Hóa. Trong khi đó, chất thải nguy hại từ nông nghiệp chủ yếu phát
sinh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long [24].
Thực trạng môi trường của chất thải nguy hại đối với đời sống người
dân tại các khu vực nhiều khu công nghiệp cũng như những tác hại của môi
trường sinh thái; môi trường phát triển nông nghiệp đặt ra yêu cầu cần thiết
xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về quản lý chất thải nguy hại tại các
khu công nghiệp ở Việt Nam.

10


1.2 Khái niệm pháp luật quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp
1.2.1 Khái niệm khu công nghiệp và quản lý chất thải nguy hại trong khu
công nghiệp
Khu công nghiệp, khu chế xuất được hình thành và phát triển gắn liền
với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế đất nước, xuất phát từ chủ trương
đúng đắn của Đảng, Chính phủ trong việc xây dựng một mô hình mang tính đột
phá trong thu hút đầu tư, tăng trưởng công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Qua quá trình xây dựng và phát
triển, khu công nghiệp, khu chế xuất đã huy động được lượng vốn đầu tư lớn
của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước phục vụ sự nghiệp Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Hàng năm, vốn đầ u tư trực tiế p nước ngoài (FDI)
vào khu công nghiệp, khu chế xuất chiếm từ 35-40% tổng vốn đăng ký tăng
thêm của cả nước; riêng lĩnh vực công nghiệp chiếm gần 80%. Khu công
nghiệp, khu chế xuất cũng đã tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối
đồng bộ, có giá trị lâu dài, góp phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trên
cả nước. Ngoài ra, mô hình này còn đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng
ngành sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của
nền kinh tế; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương và cả
nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tạo ra giá trị sản xuất công

quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Đóng góp của khu công
nghiệp đã thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên
cạnh đó, một trong những vấn đề xã hội phát sinh khi các khu công nghiệp
phát triển đó là áp lực ô nhiễm môi trường. Trong đó ô nhiễm môi trường khu
công nghiệp biểu hiện dưới nhiều khía cạnh khác nhau nhưng vấn đề nổi bật
nhất vẫn là ô nhiễm do nước thải, khí thải và chất rắn, chất thải lỏng và đặc
biệt là chất thải nguy hại.
Trên thế giới, việc quản lý chất thải nguy hại nói chung và chất thải
nguy hại trong KCN nói riêng đã hình thành và có những thay đổi mạnh mẽ

12


trong thập niên 60, trở thành một vấn đề môi trường được quan tâm hàng đầu
trong thập niên 80 của thế kỷ XX. Điều này là hệ quả của các cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật và sự phát triển của kinh tế xã hội của các quốc gia trên
toàn cầu. Sự phát triển của các loại hình công nghiệp đã dẫn đến một lượng
lớn các chất thải nguy hại được thải ra môi trường, làm gia tăng những hậu
quả môi trường to lớn cho người dân.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 ghi nhận “Quản lý chất thải là quá
trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái
sử dụng, tái chế và xử lý chất thải”. Theo đó, nội dung quản lý chất thải nguy
hại phải là một phần trong tổng thể quy hoạch bảo vệ môi trường, cụ thể nhấn
mạnh các nội dung như: (1) Đánh giá, dự báo nguồn phát thải nguy hại và
lượng phát thải; (2) Khả năng thu gom, phân loại tại nguồn; (3) Khả năng tái
sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng; (4) Vị trí, quy mô điểm thu gom, tái
chế và xử lý; (5) Công nghệ xử lý chất thải nguy hại…
Trong đó, hoạt động quản lý chất thải, trong đó có chất thải nguy hại
bao gồm nhiều khâu như:
- Lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép xử lý chất thải nguy hại: Chủ nguồn thải

Bộ luật hình sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật xử lý vi
phạm hành chính năm 2013…
Thứ ba, Phương tiện: để quản lý hiệu quả cần có các phương tiện phù
hợp để kiểm soát mức độ nguy hại của chất thải đối với con người, môi
trường. Phương tiện được hiểu là những cơ sở vật chất, nguồn lực khoa học
công nghệ, nguồn nhân lực… để thực hiện có hiệu quả hoạt động xử lý chất
thải nguy hại. Phương tiện phụ thuộc vào sự đầu tư của chủ nguồn thải; chủ
xử lý chất thải và sự hỗ trợ của nhà nước.
Thứ tư, Dịch vụ trợ giúp: muốn kiểm soát hiệu quả chất thải nguy hại
cần phải chuẩn bị một cơ sở hạ tầng và kỹ thuật đảm bảo, bao gồm các phòng
thí nghiệm; hệ thống thông tin kỹ thuật; tư vấn; đào tạo…

14


1.2.2 Khái niệm pháp luật quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp
Về lý luận, pháp luật là hệ thống các quy tắc hành vi, quy tắc xử sự do
Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Khái
niệm pháp luật được thể hiện rõ nét hơn bởi các khái niệm liên quan mà cốt
lõi nhất là các quy phạm pháp luật. Theo đó, Quy phạm pháp luật là những
quy tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các
quan hệ pháp luật phát sinh trong đời sống xã hội.
Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại đó là một hệ thống các quy
phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến chất
thải nguy hại đối với cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường và với nhau
trong quy trình quản lý chất thải nguy hại nhằm bảo vệ môi trường và sức
khỏe cộng đồng.
Như vậy, pháp luật quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp là
tổng thể những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, thừa nhận nhằm

Thứ hai, quản lý CTNH là những hoạt động được thực hiện với quy
trình nghiêm ngặt và những đòi hỏi rất khắt khe;
Thứ ba, hoạt động quản lý CTNH là hoạt động đòi hỏi cao về chuyên
môn và là hoạt động đòi hỏi sự can thiệp mạnh tay và thường xuyên của Nhà
nước.
Từ những đặc điểm trên của pháp luật quản lý CTNH kể trên có thể
thấy được pháp luật quản lý CTNH trong KCN đóng vai trò đặc biệt quan
trọng:
Trước hết, với tư cách là phương tiện hàng đầu của quản lý Nhà nước
đối với CTNH, pháp luật xác định địa vị pháp lý của các cá nhân, các tổ chức
kinh doanh có liên quan đến lĩnh vực CTNNH, tạo hành lang pháp lý để các
chủ thể này tham gia vào các quan hệ khai thác, sử dụng các thành phần môi
trường. Cũng thông qua pháp luật, Nhà nước với vai trò là chủ thể quản lý tạo

16


ra môi trường thuận lợi, tin cậy và chính thức cho các hoạt động quản lý
CTNH trong phạm vi cả nước, cần kiểm soát tốt CTNH ngay từ nguồn thải.
Bên cạnh đó, pháp luật quản lý CTNH trong KCN với mục đích là bảo
vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng, thông qua vấn đề đặt ra các khung
pháp lý quy định trách nhiệm của cơ quan Nhà nước về môi trường. Pháp luật
quản lý CTNH đã phân định rõ quyền hạn cho các cơ quan Nhà nước giúp
cho hoạt động quản lý Nhà nước đối với vấn đề này đạt hiệu quả cao, pháp
luật còn định hướng cho hành vi, xử xự của các chủ thể khi tham gia các hoạt
động liên quan đến CTNH trong KCN. Qua đó ngăn ngừa, hạn chế việc gia
tăng số lượng chất thải nguy hại vào môi trường, giảm thiểu những ảnh hưởng
bất lợi của nó đối với sức khỏe con người và môi trường sống. Nhất là trong
xu thế hiện nay, với việc thành lập nhiều nhà máy, xí nghiệp, pháp luật về
quản lý CTNH đã góp phần đáng kể hạn chế các vi phạm về môi trường thông

lý chất thải do cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh trở lên phê duyệt.
Cụ thể: Chủ nguồn thải CTNH phải tổ chức phân loại, thu gom, lưu giữ
và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; trường hợp chủ nguồn thải
CTNH không có khả năng xử lý CTNH đạt quy định kỹ thuật môi trường phải
chuyển giao cho cơ sở có cấp giấy phép xử lý CTNH (Điều 91, Luật Bảo vệ
Môi trường 2014)
Ngoài ra, để đi vào hoạt động, hệ thống, thiết bị xử lý, lưu chứa phải
đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, đội ngũ nhân sự đáp ứng yêu cầu: ít nhất 02 người
quản lý phải có chuyên môn; ít nhất 01 người quản lý có chuyên môn/01 trạm
trung chuyển. Quá trình hoạt động phải đảm bảo có phương án bảo vệ môi
trường, kế hoạch kiểm soát ô nhiễm và phục hồi môi trường.
Về quản lý với chủ xử lý CTNH: Chủ xử lý CTNH trước hết phải có
Giấy phép xử lý CTNH đồng thời ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý
CTNH với các chủ nguồn thải CTNH. Hiện nay, quy định tại Nghị định số

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status