Ưu điểm và hạn chế của các quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại - Pdf 40

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU
Vấn đề quản lý chất thải nói chung và quản lý chất thải nguy hại nói riêng hiện
tại ở Việt Nam là vấn đề rất nhạy cảm bởi vì chất thải sinh ra ngày càng nhiều,
trong đó lượng chất thải nguy hại là đáng kể. Các hóa chất độc hại tồn lưu trong
chiến tranh, các loại thuốc bảo vệ thực vật không còn giá trị sử dụng hiện còn tồn
đọng khá nhiều bắt buộc chúng ta phải xử lý, trong khi đó năng lực quản lý chất
thải nguy hại nói chung và xử lý chất thải nguy hại nói riêng của chúng ta bên cạnh
những ưu điểm vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Trong nội dung bài viết
của mình, em xin trình bày vấn đề sau Đề 36: “Ưu điểm và hạn chế của các quy
định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại.”

1


NỘI DUNG
I.
1.

Cơ sở lý luận
Khái niệm chất thải nguy hại
Theo quy định tại Khoản 12 Điều 3 Luật BVMT2014 thì “chất thải” được hiểu
là “vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt
động khác” và thế nào là “chất thải nguy hại” được quy định tại Khoản 13 Điều 3
Luật này, theo đó:
“Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ
cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác.”

2.


tiến hành theo cách: Chủ nguồn chất thải nguy hại phải tổ chức phân loại, thu gom,
lưu giữ và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; trường hợp chủ nguồn chất
thải nguy hại không có khả năng xử lý chất thải nguy hại đạt quy chuẩn kỹ thuật
môi trường phải chuyển giao cho cơ sở có giấy phép xử lý chất thải nguy hại. Chất
thải nguy hại phải được lưu giữ trong phương tiện, thiết bị chuyên dụng bảo đảm
không tác động xấu đến con người và môi trường( Điều 91 Luật BVMT)
Xuất phát từ đặc tính nguy hại của chất thải nguy hại mà việc vận chuyển chất
thải nguy hại phải tuân thủ những quy định riêng. Chất thải nguy hại phải được vận
chuyển bằng phương tiện, thiết bị chuyên dụng phù hợp và được ghi trong giấy
phép xử lý chất thải nguy hại( Điều 92 Luật BVMT).
Kế thừa các nội dung cơ bản về quản lý chất thải nguy hại của Luật BVMT
năm 2005, Luật BVMT năm 2014 đã quy định rõ hơn về điều kiện của cơ sở xử lý
chất thải nguy hại (Điều 93 Luật BVMT). Điểm mới của quy định về quản lý chất
thải nguy hại là Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định danh mục chất thải nguy
hại và cấp phép xử lý chất thải nguy hại; xác định rõ nội dung quản lý chất thải
nguy hại trong quy hoạch BVMT do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì xây
dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Với các quy định này, quản lý chất
thải có tính thống nhất với trách nhiệm đầu mối là Bộ Tài nguyên và Môi trường;
cấp tỉnh không còn được cấp phép xử lý chất thải nguy hại.

3


Từ đây chúng ta có thể thấy việc quản lý chất thải nguy hại có những đặc trưng
khác biệt so với hoạt động quản lý chất thải thông thường.Thứ nhất, quản lý chất
thải nguy hại là những hoạt động đòi hỏi sự tập trung nguồn lực kĩ thuật và tài
chính lớn;Thứ hai, quản lý chất thải nguy hại là những hoạt động được thực hiện
với quy trình nghiêm ngặt và những đòi hỏi khắt khe;Thứ ba, hoạt động quản lý
chất thải nguy hại là hoạt động đòi hỏi cao về chuyên môn;Thứ tư, quản lý chất
thải nguy hại là hoạt động đòi hỏi sự can thiệp mạnh tay và thường xuyên của nhà

độc hại lưu tồn trong chiến tranh, các loại thuốc bảo vệ thực vật không còn giá trị
sử dụng đang tồn đọng với số lượng không nhỏ…đòi hỏi phải xử lý, trong khi đó
năng lực quản lý chất thải nguy hại của nước ta còn quá yếu.Hiện nay việc quản lý
chất thải nguy hại đã có những nét mới tiến bộ hơn là đã đưa ra các cách thức quản
lý khác nhau và đặc biệt chú trọng tới việc phối hợp các chiến lược giảm nguồn
thải,tái sử dụng,tái chế chất thải nguy hại với thu gom chôn lấp và tiêu hủy. Tuy
nhiên hiện nay việc phân loại rác tại nguồn đối với chất thải nguy hại công nghiệp
và y tế mới đang được thực hiện một cách hạn chế,chất thải nguy hại sinh hoạt mới
đang trong giai đoạn thực hiện phân loại thử nghiệm ở một số địa phương.Hoạt
động tái chế chất thải nguy hại cũng đạt được kết quả rất thấp do các chất thải
nguy hại ít được phân loại tại nguồn.Mặt khác hoạt động này phần lớn do tư nhân
đảm nhiệm,với trình độ kĩ thuật thấp,cơ sở vật chất nghèo nàn,quy mô hoạt động
nhỏ và sự kiểm soát lỏng lẻo từ phía các cơ quan chức năng nên chất lượng tái chế
các chất thải nguy hại thấp,nhiều trường hợp chưa loại bỏ được hoàn toàn các đặc
tính gây nguy hại của chất thải,gây ảnh hưởng xấu cho môi trường và sức khỏe
người tiêu dung khi sử dụng các sản tái chê từ chất thải nguy hại.Bên cạnh đó việc
xử lý chất thải nguy hại không tái chế được ở nước ta cũng là một vấn đề đáng
bàn.Ở nước ta chủ yếu xử lý chất thải theo phương pháp đốt,song các là đốt rác ở
Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng đủ lượng rác thải nguy hại cần phải xử lý.Vì vậy
mà các chất thải nguy hại từ nông nhiệp và sinh hoạt hiện vẫn được chôn lấp chung
5


với chất thải thông thường.Tất cả những thực trạng trên đang đặt ra vấn đề cần
hoàn thiện hơn nữa về vấn đề quản lý chất thải nguy hại mà đầu tiên đó chính là hệ
thống pháp luật về quản lý chất thải nguy hại.
Chúng ta còn thiếu những văn bản cần thiết về mặt pháp luật và chính sách.
Chúng ta cần có thêm nhiều những văn bản cụ thể hơn nữa cho từng khâu trong
quản lý chất thải nguy hại, từ việc phân loại tại nguồn, thu gom, lưu trữ, vận
chuyển, tái sử dụng, tái chế cho đến khâu xử lý cuối cùng. Về mặt cơ chế, chính

Thứ ba , pháp luật quản lý chất thải nguy thông qua việc định hướng xử sự cho
các cơ quan Nhà nước , các tổ chức, cá nhân trong quá trình phát sinh, thu gom,
vận chuyển và sử lý chất thải nguy hại đồng thời ràng buộc các chủ thể này vào
những chế tài cụ thể.Vì vậy Pháp luât quản lý chất thải nguy hại không chỉ góp
phần giảm thiểu được lượng chất thải nguy hại vào môi trường mà còn phòng
ngừa, hạn chế những tác động bất lợi khác. Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
có các quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại.Tùy
theo mức độ vi phạm thì các chủ thể vi phạm có thể bị xử lý theo trách nhiệm hành
chính,trách nhiệm dân sự hay là trách nhiệm hình sự…Qua đó góp phần ngăn
ngừa giáo dục cá nhân tổ chức giúp mọi người có ý thức hơn trong việc quản lý
chất thải nguy hại cũng như trong việc bảo vệ môi trường.
Thứ tư pháp luật về quản lý chất thải nguy hại đã có sự kết hợp giữa biện pháp
pháp lý và biện pháp kinh tế trong quản lý chất thải nguy hại.Thực tế cho thấy rằng
công cụ kinh tế có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường nói chung và
trong hoạt động quản lý chất thải nói riêng.Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
đã có những quy định về sử dụng công cụ kinh tế trong hoạt động quản lý chất thải
nguy hại.Như việc áp dụng phí môi trường,các chính sách miễn giảm thuế,hỗ trợ
ưu đãi cho các chủ thể thực hiện tốt việc quản lý chất thải nguy hại; áp dụng thuế
cao đối với những sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường hoặc sức khỏe
con người ở mức độ cao; hỗ trợ vốn, miễn giảm thuế cho doanh nghiệp đầu tư
7


trang thiết bị công nghệ thân thiện môi trường…Chính các quy định này của pháp
luật đã góp phần thúc đẩy các chủ thể nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về quản
lý chất thải nguy hại nói riêng và pháp luật bảo vệ môi trường nói chung.
Thứ năm, pháp luật về quản lý chất thải nguy hại đã có các quy định về việc
ứng dụng khoa học công nghệ,kĩ thuật tiên tiến trong quản lý chất thải nguy hại nói
riêng và bảo vệ môi trường nói chung.Điều này đã góp phần thúc đẩy khoa học kĩ
thuật phát triển cũng như quản lý tốt hơn nữa chất thải nguy hại và sức khỏe con

chê đó là việc quy đỉnh rất chung chung.
Quy định phải thực hiện các biện pháp giảm thiểu chất thải ngay từ nguồn
nhưng lại không quy định những biện pháp cụ thể. Đối với việc giảm thiểu chất
thải nguy hại ngay từ nguồn là rất phù hợp, là một biện pháp giải quyết tiến bộ nên
quy định những biện pháp rõ ràng cụ thể vì nếu các chủ thể tiến hành xử lí chất
thải từ nguồn mà áp dụng không đúng các biện pháp thì có thể gây ra những hậu
quả nặng nề cho môi trường nên cần quy định rõ các biện pháp cụ thể. Chất thải rất
đa dạng phong phú, mỗi loại lại có những biện pháp xử lí riêng nên công việc này
khá phức tạp đòi hỏi pháp luật cần điều chỉnh và can thiệp cụ thể hơn nữa. Phải tổ
chức lưu giữ tạm thời trong thiết bị chuyên dụng, đóng gói chất thải nguy hại theo
chủng loại theo các bao bì thích hợp đáp ứng các yêu cầu an toàn kĩ thuật” Nhưng
bên cạnh đó còn một vấn đề nảy sinh một vấn đề là việc lưu giữ tạm thời với các
đối tượng sản sinh là rất tốn kém. Vì việc lưu giữ chất thải nguy hại là một vấn đề
khá phức tạp phải có những dụng cụ, theo một quy trình kĩ thuật xử lí công phu đòi
hỏi phải có chi phí kinh tế lớn mà với cơ sở sản sinh thì rất khó để những đối tượng
này chi ra một khoản tiền lớn như vậy.
Thiếu quy định về việc quyết định các biện pháp xử lý khi có sự cố xảy ra
trong quá trình vận chuyển chất thải nguy hại. Pháp luật chỉ quy định là tự chịu
9


trách nhiệm còn chịu trách nhiệm cụ thể như thế nào thì chưa quy định rõ.
Việc quy định về phương tiện vận chuyển còn lỏng lẻo. Pháp luật chỉ quy định
bằng phương tiện chuyên dụng phù hợp để xác định một phương tiện đủ tiêu chuẩn
để vận chuyển chất thải nguy hại thì chưa có những tiêu chuẩn cụ thể.
Vấn đề vốn công nghệ và trình độ công nghệ còn gặp nhiều khó khăn. Về cơ
bản nguồn vốn đầu tư cho quản lí chất thải đặc biệt là xử lí chât thải còn hạn hẹp,
trong khi đó nhu cầu quản lí đòi hỏi phải có đầu tư lớn và tập trung. Hơn thế nữa
công nghệ xử lí chất thải còn lạc hậu là nguyên nhân khiến chất thải không được
xử lí triệt để.

phạm trong luật hình sự.Mức phạt đối với các tội danh về quản lý chất thải nguy
hại trong bộ luật hình sự còn quá thấp cần phải sửa đổi theo hướng hình phạt nặng
hơn để đủ sức răn đe đối với cá nhân, tổ chức vi phạm.
KẾT LUẬN
Chất thải nguy hại luôn là một trong những vấn đề môi trường trầm trọng nhất
mà con người dù ở bất cứ đâu cũng phải tìm cách để đối phó. Nhất là Việt Nam
chúng ta là một quốc gia đang phát triển, vấn đề quản lý chất thải nguy hại là hết
sức cần thiết, đòi hỏi phải có sự quan tâm đặc biệt để đối phó ngay một cách
nghiêm túc, kịp thời trước khi vấn đề trở nên trầm trọng. Do vậy, pháp luật về quản
lý chất thải nguy hại ở Việt Nam cần được hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng được
nhu cầu bảo vệ môi trường nói chung, quản lý chất thải nói riêng.

1.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình “Luật Môi trường” – trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an

2.

Nhân dân.
Giáo trình“Quản lý chất thải nguy hại”- Công ty môi trường tầm nhìn xanh.

11


3.

“Pháp Luật Về Quản Lý Chât Thải Nguy Hại Tại Việt Nam”- Nguyễn Thị

4.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status