BÀI TẬP LỚN HỌC KÌ
MÔN:LUẬT MÔI TRƯỜNG
ĐỀ BÀI SỐ : 14
ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA CÁ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY
HẠI
MỤC LỤC
A.MỞ BÀI…………………………………………………………………………
B.THÂN BÀI……………………………………………………………………….
1.Cơ sở lý luận……………………………………………………………………
1.1.Khái niện về chất thải nguy hại……………………………………………….
1.2.Khái niện quản lý chất thải nguy hại…………………………………………
2.Khái quát về pháp luật quản lý chất thải nguy hại…………………………….
2.1.Nội dung pháp luật về quản lý chất thải nguy hại…………………………
2.2.ý nghĩa các quy định pháp luật về quản lý chất thải nguy hại………………
3.Thực trạng về pháp luật quản lý chất thải nguy hại…………………………
4.Đánh giá ưu nhược điểm các quy định pháp luật về quản lý chất thải nguy hại.
4.1.Ưu điểm……………………………………………………………………….
4.2.Nhược điểm…………………………………………………………………….
4.3.Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải nguy hại……………………………
C.KẾT BÀI…………………………………………………………………………
A.MỞ BÀI.
Con người muốn sống và phát triển bình thường thì điều cần thiết để đảm bảo là
được sống trong một môi trường tốt.Hiện nay với sự phát triển về kinh tế cũng kéo theo
những tác động xấu tới môi trường.Làm cho môi trường bị ô nhiễm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sức khỏe và sự tồn tại của con người.Một trong những nguyên nhân làm ô
nhiễm môi trường đó là việc quản lý không tốt chất thải nguy hại.Điều này do rất nhiều
nguyên nhân và một trong những nguyên nhân khách quan đó là hệ thống pháp luật
chưa hoàn thiện.Chính vì vậy trong bài tập học kì em xin chọn đề tài:”Những ưu điểm
và nhược điểm của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại”.Để từ đó hoàn thiện các
quy định về vấn đề này.
B.THÂN BÀI.
thải nguy hại; Các quy định về việc vận chuyển các chất thải nguy hại; Các quy định về
việc xử lý chất thải nguy hại; Các quy định về xử lý sau khi xử lý chất thải nguy hại.Từ
đây chúng ta có thể thấy việc quản lý chất thải nguy hại có những đặc trưng khác biệt so
với hoạt động quản lý chất thải thông thường.Thứ nhất quản lý chất thải nguy hại là
những hoạt động đòi hỏi sự tập trung nguồn lực kĩ thuật và tài chính lớn;Thứ hai quản lý
chất thải nguy hại là những hoạt động được thực hiện với quy trình nghiêm ngặt và
những đòi hỏi khắt khe;Thứ ba hoạt động quản lý chất thải nguy hại là hoạt động đòi hỏi
cao về chuyên môn;Thứ tư quản lý chất thải nguy hại là hoạt động đòi hỏi sự can thiệp
mạnh tay và thường xuyên của nhà nước.
2.2.ý nghĩa các quy định pháp luật về quản lý chất thải nguy hại.
Quản lý tốt chất thải nguy hại nó đảm bảo sự an toàn sức khỏe cho những người lao
động trực tiếp làm việc trong môi trường có chất thải nguy hại,bảo vệ sức khỏe cho
công đồng bởi vì chất thải nguy hại tác động rất lớn đến sức khỏe của con người nó có
thể gây tổn thương tác động đến hệ thần kinh,hệ bài tiết,hệ tiêu hóa…ở một nồng độ
nhất định có thể ảnh hưởng tới tính mạng con người.Mà chất thải nguy hại là tất yếu của
quá trình phát triển xã hội.Hơn nữa việc quản lý tốt chất thải nguy hại giữ vị trí quan
trọng trong phòng ngừa nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường, hạn chế các sự cố môi
2
Trang 15-khóa luận tốt nghiệp-Nguyễn Thị Phượng-pháp luật về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam-2012
trường, giảm nguy cơ làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên đảm bảo chất lượng môi
trường.
Ngoài ra việc quản lý tốt chất thải nguy hại cũng mang lại những ý nghĩa quan trọng
về mặt kinh tế.Với việc thu hồi tái chế có thể đem lại nguồn thu nhập cao cho một bộ
phận lao động phổ thông không đòi hỏi phải có trình độ kĩ năng, phẩm chất lao động
đặc biệt.Mặt khác việc tái sử dụng chất thải nguy hại có thể làm giảm lượng tài nguyên
cần khai thái sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế, từ đó giảm được sự hao mòn của
tài nguyên quốc gia.Hơn nữa quản lý tốt chất thải nguy hại mang lại lợi ích không nhỏ
đối với các cơ sở có chất thải đó là số tiền phải chi cho hoạt động xử lý chất thải,số tiền
phải bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường,nâng cao uy tín của doanh nghiệp
đối với ngươi tiêu dùng…
vấn đề đáng bàn.Ở nước ta chủ yếu xử lý chất thải theo phương pháp đốt,song các là đốt
rác ở Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng đủ lượng rác thải nguy hại cần phải xử lý.Vì vậy
mà các chất thải nguy hại từ nông nhiệp và sinh hoạt hiện vẫn được chôn lấp chung với
chất thải thông thường.Tất cả nhứng thực trạng trên đang đặt ra vấn đề cần hoàn thiện
hơn nữa về vấn đề quản lý chất thải nguy hại mà đầu tiên đó chính là hệ thống pháp luật
về quản lý chất thải nguy hại.
Chất thải nguy hại lần đầu tiện được nhắc đến trong luật BVMT năm 1993 nhưng
chỉ dừng lại ở mức độ quy định chung về quản lý môi trường nói chung,trong đó bao
gồm cả quản lý chất thải nguy hại,mà chưa đưa ra một khái niện cụ thể nào.Luật BVMT
2005 đã quy định cụ thể về vấn đề quản lý chất thải nguy hại.Và kể từ ngày 01/06/2012
các vấn đề về hoạt động quản lý chất thải nguy hại sẽ được thực hiện theo thông tư
12/2011/TT-BTNMT đây là một bước phát triển của pháp luật về quản lý chất thải nguy
hại.
4.Đánh giá ưu nhược điểm các quy định pháp luật về quản lý chất thải nguy hại.
4.1.Ưu điểm.
Hiện nay các văn bản pháp luật về quản lý chất thải nguy hại ở nước ta khá đa dạng
đã tạo ra hành lang pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả quản lý trong hoạt động này.Sự
ra đời của thông tư 12/2011/TT-BTNMT là một bước hoàn thiện các quy định về quản
lý chất thải nguy hại.Thông tư đã đáp ứng phù hơp với điều kiện kinh tế xã hội nước ta
cũng như hiện trạng của vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và trong hoạt động quản lý
chất thải nguy hại nói riêng.
Thứ nhất pháp luật về quản lý chất thải nguy hại đã có những quy định cụ thể về
quyền hạn trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong quản lý chất thải nguy
hại.Đã có quy định về sự phối hợp giữa các cơ quan này trong hoạt động quản lý chất
thải nguy hại,Trong cấp phép,đăng ký chủ nguồn thải…
Đặc biệt tại thông tư 12/2011/TT-BTNMT đã có những điểm mới phù hợp hơn so
với các quy định trước đây.Tại thông tư 12/2011 có sự giản lược hơn thủ tục cấp phép
so với thông tư 12/2006 giúp cho các cơ quan quản lý cũng như các chủ nguồn thải dễ
dàng thực hiện, thông tư 12/2011 đã quy định một thủ tục chung cho tất cả các chủ thể
đăng kí quản lý chất thải nguy hại.về thời hạn cấp phép cũng được kéo dài hơn so với
hại nói riêng và pháp luật bảo vệ môi trường nói chung.
Thứ năm pháp luật về quản lý chất thải nguy hại đã có các quy định về việc ứng
dụng khoa học công nghệ,kĩ thuật tiên tiến trong quản lý chất thải nguy hại nói riêng và
bảo vệ môi trường nói chung.Điều này đã góp phần thúc đẩy khoa học kĩ thuật phát
triển cũng như quản lý tốt hơn nữa chất thải nguy hại và sức khỏe con người cũng như
môi trường trong sạch.
Thứ sáu pháp luật môi trường nước ta đã quan tâm đến vấn đề hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực môi trường.Hiện nay nước ta đã là thành việc của nhiều công ước quốc tế
về bảo vệ môi trường như:Công ước luật biển 1982;Công ước về bảo tồn đa dạng sinh
học…Pháp luật là công cụ hữu hiệu để nhà nước nội luật hóa các quy định của công ước
và thực hiện chúng trên thực tế.Trên cơ sở các điều ước quốc tế nước ta đã ban hành
nhiều văn bản pháp luật như:Luật bảo vệ môi trường 2005,Luật bảo vệ đa dạng sinh học
2008…
4.2.Nhược điểm.
Thứ nhất về các quy định pháp luật về tổ chức, hoạt động của bộ máy quản lý chất
thải nguy hại.Trong các văn bản pháp luật hiện hành về quản lý chất thải nguy hại là
Quy chế quản lý chất thải nguy hại 1999 và thông tư 12/2011/TT-BTNMT có sự khác
nhau trong quy định về cơ quan quản lý chất thải nguy hại.Chỉ trong việc gọi tên các cơ
quan hiện nay đã có sự thay đổi làm cho mọi người gặp khó khăn trong việc tìm
hiểu,đọc văn bản mới còn phải xem tên gọi của cơ quan này là tên gọi của cơ quan nào
trước đây.Mặt khác chưa có quy định cụ thể phân định trách nhiệm quyền hạn giữa các
cơ quan này.Tất cả các cơ quan đều có chức năng chung chung là bảo vệ môi trường và
quản lý tất cả các lĩnh vực trong vấn đề môi trường.Thông tư 12/2011/TT-BTNMT dành
chương V để quy định về trách nhiệm của từng cơ quan trong hoạt động quản lý chất
thải nguy hại nhưng vẫn không có quy định rõ ràng như:Sở tài nguyên và môi trường
được UBND tỉnh phân cấp có giống sở tài nguyên và môi trường không?Nếu giống thì
trách nhiệm nên quy định chung lại:Trách nhiệm của tổng cục môi trường,UBND cấp
tỉnh,sở tài nguyên và môi trường,Chi cục bảo vệ môi trường.Nếu khác nhau thì sao
không có một quy định giải thích rõ điều này?Mặt khác trong thông tư không thấy có
quy định về sự phối hợp của các cơ quan quản lý chất thải nguy hại và các bộ,nghành
các chủ nguồn thải phòng ngừa giảm thiểu lượng chất độc hại có trong nước thải.Pháp
luật không đưa ra một quy định riêng đối với vấn đề thu phí đối với chất thải nguy hại.
Thứ năm là vấn đề xử lý vi phạm trong quản lý chất thải nguy hại.Về trách nhiệm
hành chính quy định tại nghị định 117/2009/NĐ-CP thì việc quy định các mức phạt
hành chính trong hoạt động quản lý chất thải nguy hại là thấp so với mức độ ảnh hưởng
của nó đến môi trường,sức khỏe con người và sự tác động vào các nhân tố,tổ chức vi
phạm là không đủ sức răn đe.Như mức phạt đối với vi phạm quy định về bảo vệ môi
trường đối với cơ sở xử lý,tiêu hủy,chôn lấp chất thải nguy hại là từ 2 triệu đến 150 triệu
tùy vào mức độ nghiêm trọng.Về trách nhiệm hình sự các chế tài đối với các tội phạm
môi trường trong bộ luật hình sự là nhẹ so với hậu quả của các hành vi vi phạm nên
không đủ sức răn đe.
4.3.Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải nguy hại.
Thứ nhất cần phải sửa đổi bổ sung,bãi bỏ một số quy định của pháp luật nhằm đảm
bảo tính đồng bộ của các văn bản pháp luật hiện hành.Đầu tiên đó là việc chuẩn hóa các
khái niện.Như:Cần đưa ra khái niện thống nhất về khái niện chất thải nguy hại trong các
văn bản; Quy định thống nhất, rõ ràng về khái niện quản lý chất thải giữa các văn bản
đang có hiệu lực; Cần phải hoàn thiện khái niện chất thải nguy hại có tính nguy hại
cao.Hai là cần phải thống nhất trong việc gọi tên các cơ quan quản lý nhà nước trong
hoạt động quản lý chất thải nguy hại.Đối với quy chế quản lý chất thải nguy hại 1999
nếu không bãi bỏ thì phải có văn bản sửa đổi,bổ sung các điều để phù hợp hơn với tình
hình chính trị-Xã hội hiện nay. Ba là phải thống nhất các quy định về thẩm quyền và thủ
tục trong hoạt động cụ thể về quản lý chất thải nguy hại như:Về thẩm quyền cấp phép
của các cơ quan quản lý nhà nước cần có quy định phân biệt rõ ràng,dễ hiểu giữa các cơ
quan; Trong việc cấp sổ đăng kí nguồn chất thải nguy hại và giấy phép hành nghề quản
lý chất thải nguy hại.Bốn là cân thống nhất các quy định về trách nhiệm của các cơ
quan nhà nước,các tổ chức cá nhân có liên quan trong hoạt động quản lý chất thải nguy
hại như:Cần có quy định về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền trong hoạt động quá cảnh chất thải nguy hại và vận chuyển qua biên giới; nên
quy định riêng về trách nhiệm của chủ vận chuyển chất thải nguy hại và chủ xử lý chất
thải nguy hại,nếu quy định về chủ hành nghề quản lý chất thải nguy hại thì phải đồng
thiện hệ thống pháp luật về môi trường nói chung và hệ thống các quy định về quản lý
chất thải nguy hại nói riêng.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình luật môi trường-Trường đại học luật hà nội-2006
2. Luận án tiến sĩ luật học- Vũ Thị Duyên Thủy-Xây dựng và hoàn thiện pháp luật
quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam-hà nôi,2009.
3. Khóa luận tốt nghiệp-Nguyễn Thị Phượng-Pháp Luật Về Quản Lý Chât Thải
Nguy Hại Tại Việt Nam-Hà nội 2012.
4. Khóa luận tốt nghiệp-Lê Thị Thúy Hằng-Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
tại Việt Nam-hà nội 2011.
5. Luật bảo vệ môi trường 2005.
6. Thông Tư 12/2011/TT-BTNMT Quy định về quản lý chất thải nguy hại.