Bài tập học kỳ môn Luật môi trường
LỜI MỞ ĐẦU
Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững hiện nay đã trở thành vấn đề sống còn
của toàn nhân loại. Cùng với phát triển kinh tế, mức sinh hoạt của người dân ngày càng
nâng cao thì lượng chất thải càng tăng nhanh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất
lượng môi trường và sức khoẻ con người. Ngày nay, khi con người càng phát triển thì
cũng là lúc mà chúng ta càng tác động nhiều đến môi trường, trong đó phần lớn là
những tác động xấu. Chính vì thế, môi trường hiện nay đang trở thành vấn đề nóng
bỏng ở nhiều quốc gia. Nguy cơ về môi trường cực kỳ nghiêm trọng ở các quốc gia
đang phát triển, nơi mà nhu cầu hàng ngày của con người và nhu cầu phát triển của xã
hội xung đột mạnh mẽ với sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cũng như môi
trường sống. Những tổn thất này đang là mối đe doạ cho toàn nhân loại. Chính vì vậy,
một trong những vấn đề mang tính toàn cầu hiện nay là những biện pháp bảo vệ hiệu
quả nhất cho môi trường của trái đất. Việt Nam cũng không tránh khỏi những vân đề
nan giải về môi trường. Trong đó, vấn đề quản lý chất thải nguy hại là một vấn đề bức
thiết, đòi hỏi chúng ta phải có những biện pháp giải quyết.
Ngày nay, bảo vệ môi trường đã trở thành một trong những chính sách quan
trọng của Đảng và nhà nước ta. Bằng những chính sách và biện pháp khác nhau, Nhà
nước ta đang can thiệp vào các hoạt động của các cá nhân, tổ chức trong xã hội để bảo
vệ các yếu tố của môi trường, ngăn chặn các hành vi gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố
môi trường. Xuất phát từ tầm quan trọng của chất thải nguy hại, Nhà nước đã ban hành
những văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này. Tuy nhiên, đây là một vấn đề khá mới
mẻ nên bên cạnh những ưu điểm của những quy định về quản lý chất thải nguy hại
không tránh khỏi những bất cập, những thiếu sót. Việc hoàn thiện những quy định về
quản lý chất thải nguy hại sẽ góp phần không nhỏ cho công tác bảo vệ môi trường của
nước ta đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong thời kỳ hiện nay. Sau đây em xin
trình bày vấn đề: “Ưu điểm và hạn chế của các quy định của pháp luật về quản lý
chất thải nguy hại.
Kim Oanh - 341917
quy trình quản lý chất thải nguy hại nhằm bảo vệ môi trường và sức khoẻ cộng đồng.
Với tư cách là phương tiện hàng đầu của quản lý nhà nước đối với chất thải nguy hại,
pháp luật xác định địa vị pháp lý của các cá nhân, các tổ chức sản xuất kinh doanh có
liên quan đến lĩnh vực chất thải nguy hại, tạo hành lang pháp lý để các chủ thể này tham
gia vào các quan hệ khai thác, sử dụng các thành phần môi trường. Cũng thông qua
pháp luật, Nhà nước với vai trò là chủ thể quản lý tạo ra môi trường thuận lợi, tin cậy và
chính thức cho các hoạt động quản lý chất thải nguy hại trong phạm vi cả nước, cần
Kim Oanh - 341917
2
Bài tập học kỳ môn Luật môi truờng
kiểm soát tốt chất thải nguy hại ngay từ nguồn thải đồng thời thực hiện tốt các bước
trong quy trình quản lý chất thải nguy hại như thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu trữ,
xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại.
b. Nội dung pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại đã quy định về quy trình để triển khai và
thực hiện một cách lần lượt từ việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển đến việc xử lý và tiêu
hủy chất thải nguy hại. Đồng thời cũng quy định trách nhiệm của các chủ thể liên quan
đến chất thải nguy hại, từ các cơ quan quản lý nhà nước đến các tổ chức, cá nhân. Các
nội dung quy định như sau:
* Việc quản lý chất thải nguy hại phải được lập hồ sơ và đăng ký với cơ quan quản lý
nhà nước về bảo vệ môi trường để cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép và mã số hoạt
động quản lý chất thải nguy hại (Điều 70 Luật bảo vệ môi trường 2005). Việc làm này
là để tránh xảy ra sự cố môi trường trong quá trình quản lý chất thải nguy hại.
* Việc phân loại, thu gom, lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại phải được tiến hành theo
cách: Tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải huy hại phải tổ chức phân
loại, thu gom hoặc hợp đồng chuyển giao cho bên tiếp nhận quản lý chất thải thu gom
chất thải nguy hại (Điều 71 Luật bảo vệ môi trường 2005). Theo số lượng thống kê,
đến môi trường nên luật quy định cụ thể yêu cầu bảo vệ môi trường đối với cơ sở xử lý
chất thải nguy hại và khu chôn lấp chất thải nguy hại. Việc thải bỏ, chôn lấp chất thải
nguy hại còn lại sau khi xử lý phải được thực hiện theo quy định của pháp luật và
hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ môi trường. (Điều
74, 75 Luật bảo vệ môi trường 2005).
Do chất thải nguy hại thường có nguồn gốc phát sinh từ các hoạt đồng sản xuất
kinh doanh thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nên pháp luật môi trường cũng quy định
trách nhiệm của nhiều loại cơ quan trong việc quản lý loại chất thải này. Luật quy định
rõ Bộ xây dựng chủ trì phối hợp với Bộ tài nguyên và môi trường, Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh lập quy hoạch tổng thể quốc gia về thu gom, xử lý chôn lấp chất thải nguy hại.
Tổng cục môi trường: Quản lý hoạt động và các hồ sơ, hợp đồng, báo cáo, chứng từ liên
quan đến các tổ chức, cá nhân có giấy phép quản lý chất thải nguy hại do mình cấp. Bộ
tài nguyên và môi trường thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về chất thải nguy
hại trong phạm vi toàn quốc; chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo các hoạt động quản lý
chất thải nguy hại (Điều 21 Quy chế quản lý chất thải nguy hại năm 1999).
Bộ xây dựng có trách nhiệm Hướng dẫn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương trong việc quy hoạch xây dựng các khu xử lý chất thải nguy hại hợp vệ sinh, các
bãi chôn lấp chất thải nguy hại phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương. (Điều 22 Quy chế quản lý chất thải nguy hại 99).
Bộ công nghiệp có trách nhiệm Giám sát, kiểm tra và triển khai các biện pháp hữu hiệu
buộc các chủ nguồn thải phải tuân thủ các quy định của Quy chế (Điều 23 Quy chế
quản lý chất thải nguy hại năm 1999).
Bộ y tế có trách nhiệm Giám sát, kiểm tra và có các biện pháp hữu hiệu buộc các
bệnh viện, trạm y tế, cơ sở dịch vụ y tế tuân thủ các quy định của Quy chế. (Điều 24
Quy chế quản lý chất thải nguy hại năm 1999).
Bộ quốc phòng, Bộ công an có trách nhiệm Giám sát, kiểm tra và triển khai thực hiện
các biện pháp hữu hiệu buộc các chủ nguồn thải thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an
tuân thủ các quy định về quản lý chất thải nguy hại. (Điều 25 Quy chế quản lý chất thải
nguy hại năm 1999).
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Chỉ đạo Sở Xây dựng lập
hạn chế các vi phạm về môi trường thông qua các biện pháp cụ thể.
* Biện pháp pháp lý: với tư cách là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi
xử sự của con người, pháp luật quản lý chất thải nguy hại đã tác động trực tiếp đến hành
vi xử sự của các chủ thể. Đây là biện pháp đem lại hiệu quả cao nhất, thông qua đó hoạt
động quản lý chất thải nguy hại được thể chế hóa bằng pháp luật. Đó là việc ban hành
một số văn bản pháp luật: Luật bảo vệ môi trường năm 2005, ngoài ra còn có Thông tư
số 12/2006/TT-BTNMT: Hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký,
cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại và một số văn bản khác. Từ đó
Nhà nước quản lý, tác động vào những hành vi vi phạm trong quản lý chất thải nguy hại
bằng giúp giáo dục công dân tôn trọng pháp luật bảo vệ môi trường.
* Biện pháp kinh tế: Các biện pháp kinh tế được sử dụng khá hiệu quả trong hoạt động
quản lý vi mô và vĩ mô đối với nền kinh tế. Sử dụng biện pháp kinh tế là sử dụng đến
những đòn bẩy lợi ích kinh tế. Đó là việc sử dụng lợi ích vật chất để kích thích hoặc bắt
buộc các chủ thể thực hiện những hoạt động có lợi cho hoạt động quản lý chất thải.
Biện pháp này thực hiện thông qua hình thức thu phí chất thải đối với các cơ sở sản
xuất kinh doanh nhằm hạn chế lượng chất thải có thể phát sinh ngay tại nguồn. Áp dụng
Kim Oanh - 341917
5
Bài tập học kỳ môn Luật môi truờng
thuế cao đối với những sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường hoặc sức khỏe
con người ở mức độ cao. Đó còn là những biện pháp hỗ trợ vốn, miễn giảm thuế cho
doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị công nghệ thân thiện môi trường... Biện pháp kinh tế
rất cần thiết và có hiệu quả phòng ngừa cao vì nó tác động trực tiếp tới nguồn thu nhập,
lợi nhuận của doanh nghiệp.
Ngoài ra hiện nay Nhà nước ta còn có các biện pháp kí quỹ đặt cọc được quy
định trong Điều 114 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 đã nâng cao trách nhiệm của các
cá nhân, tổ chức trong hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên.
6
Bài tập học kỳ môn Luật môi truờng
văn bản hiện hành phần lớn đề cập tới việc quản lí chất thải rắn, chất thải y tế… các
chất thải khác như chất thải sinh hoạt, chất thải lỏng, chất thải trong công nghiệp, chất
thải phóng xạ… chưa được quan tâm thích đáng; quy định về lưu giữ chất thải chờ thiết
bị công nghệ không mang tính khả thi, chưa có quy định của pháp luật về phân loại các
chất thải nguy hại trong sinh hoạt… Mặc dù quy chế quản lí chất thải nguy hại và sau
đó là quy chế quản lí chất thải y tế đã được ban hành khá lâu nhưng điều bất cập là chưa
có đầy đủ các thông tư hướng dẫn cụ thể. Việc thực hiện quy chế cho các đối tượng là
các cơ quan quản lí nhà nước về chất thải ở địa phương các nguồn chất thải chủ thu
gom vận chuyển, chủ xử lí tiêu hủy chất thải. Việc ban hành các văn bản quy định về
các tiêu chuẩn bãi chôn lấp hợp vệ sinh tiêu chuẩn xe chuyển tải, tiêu chuẩn thiết bị vận
hành xử lí cũng còn chậm trễ và chưa đồng bộ. Thêm vào đó các văn bản kém ổn định
làm mất hiệu quả quản lý của các cơ quan nhà nước và ảnh hưởng đến hoạt động của
người bị quản lý. Có những văn bản mới ban hành xong, lại sửa đổi, bổ sung. Ví dụ như
thông tư số 15/2009/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành
ngày 17/03/2009 thì ngày 04/06/2009 Bộ đã phải ban hành thông tư 29/2009/TT-BNN
sửa đổi bổ sung thông tư trên. Việc điều chỉnh những hành vi quản lý chất thải trong
những lĩnh vực trên thường được dẫn chiếu từ những văn bản khác nhau, do đó các cơ
quan có thẩm quyền thường không có cơ sở để áp dụng.
Thứ hai, các chế tài xử phạt được quy định trong các văn bản pháp luật của nước ta về
quản lý chất thải nguy hại còn nhẹ đối với các hành vi vi phạm: Mức trần xử phạt hành
chính trong lĩnh vực môi trường còn thấp, ý thức chấp hành của một số doanh nghiệp
còn yếu kém nên chế tài xử lý chưa phù hợp sẽ không đủ sức răn đe . Thiếu các quy
định liên quan đến mua bán chất thải, kinh doanh chất thải và chúng ta chưa thể thể chế
hóa được các chế tài xử lí cụ thể việc vi phạm các quy định về quản lí chất thải. Người
bán chất thải nguy hại chỉ bị xử lí kỉ luật, không bị xử lí về phương diện môi trường.
quả nặng nề cho môi trường nên cần quy định rõ các biện pháp cụ thể. Chất thải rất đa
dạng phong phú, mỗi loại có những biện pháp xử lí riêng nên công việc này khá phức
tạp đòi hỏi pháp luật cần điều chỉnh và can thiệp cụ thể hơn. Phải tổ chức lưu giữ tạm
thời trong thiết bị chuyên dụng, đóng gói chất thải nguy hại theo chủng loại theo các
bao bì thích hợp đáp ứng các yêu cầu an toàn kĩ thuật. Nhưng bên cạnh đó còn một vấn
đề nảy sinh là việc lưu giữ tạm thời với các đối tượng sản sinh là rất tốn kém. Vì việc
lưu giữ chất thải là một vấn đề khá phức tạp phải có những dụng cụ, theo một quy trình
kĩ thuật xử lí công phu nên phải có chi phí kinh tế lớn mà với cơ sở sản sinh thì rất khó
để những đối tượng này chi ra một khoản tiền lớn như vậy. Trên thực tế thì các cơ sở
này cũng khó có thể đáp ứng được đúng các tiêu chuẩn kĩ thuật. Khu vực lưu giữ chất
thải của nơi sản sinh có một vai trò quan trọng, cần có thêm quy định về vấn đề này.
Thứ sáu, đối với những quy định của pháp luật về nghĩa vụ của người vận chuyển chất
thải. Pháp luật quy định chỉ được vận chuyển khi có giấy phép vận chuyển chất thải
nguy hại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Quy định này nhằm giúp các cơ quan
quản lí tốt nhất quá trình vận chuyển chất thải nguy hại. Song trên thực tế vấn đề xin
cấp giấy phép còn gặp nhiều khó khăn, phải qua nhiều khâu xem xét, thẩm định...Vậy
nếu lượng chất thải ứ đọng quá lớn mà giấy phép vận chuyển đi tiêu hủy chưa xin được
thì cần phải có biện pháp cụ thể xử lí. Do tính chất của việc vận chuyển chất thải nguy
hại có tính chất đặc thù nên pháp luật phải quy định cụ thể hơn nữa về người vận
chuyển chất thải nguy hại vì người này gắn liền với quá trình vận chuyển và là người
chủ yếu đảm bảo an toàn cho quá trình vận chuyển.
Thiếu quy định về việc quyết định các biện pháp xử lý khi có sự cố xảy ra trong
quá trình vận chuyển chất thải nguy hại. Pháp luật chỉ quy định là tự chịu trách nhiệm
còn chịu trách nhiệm cụ thể như thế nào thì chưa quy định rõ. Việc quy định về phương
tiện vận chuyển còn lỏng lẻo. Pháp luật chỉ quy định bằng phương tiện chuyên dụng
Kim Oanh - 341917
8
chính các thông số tối ưu trong xử lí nên hệ thống vận hành không đúng theo hướng dẫn
kĩ thuật, làm giảm tuổi thọ hệ thống.
Ngoài ra, công tác quy hoạch, phân vùng xử lý, chôn lấp CTNH tại một số địa
phương còn lúng túng, thiếu tính lâu dài. Nhiều địa phương tập trung nhiều các KCN,
cụm công nghiệp, KCX, khu kinh tế trọng điểm cũng như các bệnh viện phát sinh một
lượng lớn CTNH. Nhưng tại những địa bàn này hầu hết lại không có các cơ sở vận
chuyển, xử lý CTNH. Nguyên nhân một phần do địa phương không có cơ chế chính
sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư để hoạt động.
Kim Oanh - 341917
9
Bài tập học kỳ môn Luật môi truờng
Nhận thức của cộng đồng về công tác bảo vệ môi trường và xử lý chất thải còn
yếu kém. Người dân gần như không nhận thức được tác hại của rác thải và sự ảnh
hưởng của rác thải với sức khoẻ, môi trường sống, ý thức bảo vệ môi trường chưa cao.
III. Một số biện pháp nhằm hoàn pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
Việc xây dựng cơ chế quản lý chất thải nguy hại ở nước ta phải quán triệt quan
điểm: kết hợp chặt chẽ giữa việc xây dựng một hệ thống pháp luật “cứng” với các chính
sách quản lý “mềm” phù hợp với đặc thù của Việt Nam nhằm cân bằng hai lợi ích - vừa
thúc đẩy phát triển kinh tế và vừa ngăn ngừa giảm thiểu tác hại đến môi trường.
Một hệ thống pháp luật “cứng” là việc xây dựng một hệ thống các văn bản pháp lý
quy định chi tiết và đầy đủ trách nhiệm của các đối tượng liên quan đến lĩnh vực quản
lý chất thải nguy hại như: các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ nguồn thải, chủ thu
gom, vận chuyển, chủ lưu giữ, xử lý tiêu huỷ chất thải nguy hại cũng như các chế tài xử
phạt nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải
biết “mềm” hoá việc thực thi pháp luật bằng các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm tạo
điều kiện kích thích cho việc đầu tư phát triển nền kinh tế nhưng vẫn kiểm soát và ngăn
ngừa được ô nhiễm do việc phát sinh các chất thải nguy hại gây ra.
gian tới là: chúng ta cần sửa đổi, bổ sung các mức xử phạt đúng đắn, sát với tình hình
thực tế của công tác quản lý chất thải nguy hại nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý trong
vấn đề này.
3. Ban hành một số chính sách quản lý Nhà nước phù hợp:
Các chính sách về tài chính (Thu lệ phí đối với các hoạt động gây ô nhiễm: Mục
tiêu chính của những thuế này là kích thích các nhà sản xuất sử dụng các phương pháp
hạn chế và giảm thiểu chất thải. Đánh thuế trực tiếp vào một số sản phẩm có khả năng
gây ảnh hưởng lớn đến môi trường như xăng, dầu có chì, nhà máy nhiệt điện, thuốc trừ
sâu, một số hoá chất, năng lượng...); Các chính sách về quản lý hành chính và đầu tư
khoa học công nghệ (tăng cường hệ thống thanh tra môi trường; xây dựng những khu
công nghiệp tập trung bao gồm nhiều nhà sản xuất để có phương án tập trung xử lý chất
thải, cách này giảm được chi phí riêng biệt cho các nhà sản xuất và tránh được ô nhiễm
môi trường ở nhiều khu vực khác nhau; khuyến khích việc nghiên cứu áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật, công nghệ trong lĩnh vực xử lý chất thải nguy hại); Công tác tuyên
truyền, giáo dục (chúng ta cần tăng cường hơn nữa việc tuyên truyền, giáo dục, phổ
biến kiến thức về chất thải nguy hại và pháp luật về chất thải nguy hại, phân tích làm
cho nhân dân hiểu được rằng đây là một vấn đề đang được cả thế giới quan tâm và “tai
hoạ sẽ đến với tất cả chúng ta, không kể người giàu hay nghèo” nếu không ý thức được
điều này); Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế (Tích thực nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm
của các nước trong khu vực và các quốc gia trên thế giới trong vấn đề quản lý chất thải
nguy hại để tìm ra các giải pháp, các chính sách phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội
của đất nước, thiết lập và phát triển mối quan hệ hợp tác quốc tế sẽ giúp cho các hoạt
động quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại đạt kết quả cao hơn.
Thông qua các hoạt động như trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ
quản lý, hỗ trợ về tài chính, chúng ta sẽ có điều kiện triển khai giải quyết nhiều vấn đề
vướng mắc trong công tác quản lý chất thải nguy hại, nhất là vấn đề vốn và công nghệ.
Tham gia xây dựng và thực hiện các công ước quốc tế về lĩnh vực quản lý chất thải
nguy hại cũng cần coi là một ưu tiên hàng đầu trong chính sách bảo vệ môi trường bởi
nói không chỉ thể hiện ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ sự phát triển bền vững của
riêng đất nước chúng ta mà còn là trách nhiệm chung đối với sự tồn tại và phát triển của
12
Bài tập học kỳ môn Luật môi truờng
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật môi trường, Nxb. Công an nhân dân,
Hà Nội, 2011.
2. Luật bảo vệ môi trường năm 2005.
3. Quy chế quản lý chất thải nguy hại số 155/1999/QĐ9-TTg.
4. Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26-12-2006 quy định về việc ban hành danh
mục chất thải nguy hại;
5.Thông tư 12/2006/TT-BTNMT hướng dẫn về điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ
sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại;
Kim Oanh - 341917
13
Bài tập học kỳ môn Luật môi truờng
6. Quy chuẩn Việt Nam 07/2009/BTNMT quy định về quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về
ngưỡng chất thải nguy hại
7. Website: