ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƢƠNG MINH TIẾN
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI
NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƢƠNG MINH TIẾN
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI
NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Đức Phúc
HÀ NỘI - 2015
7. Kết cấu của Luận văn .................................................................................. 11
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH
VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM..................................................................................................... 12
1.1. Một số vấn đề lý luận về quản lý chất thải nguy hại........................... 12
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm về chất thải nguy hại .................................... 12
1.1.2. Khái niệm và quy trình quản lý chất thải nguy hại ........................... 16
1.1.3. Khái niệm tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại ......... 19
1.1.4. Ảnh hưởng của chất thải nguy hại tới môi trường và sức khỏe con
người ............................................................................................................ 21
1.2. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các tội phạm về môi
trƣờng và tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong Luật
Hình sự Việt Nam .......................................................................................... 25
1.3. Quy định về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong
Bộ luật Hình sự của một số quốc gia ........................................................... 27
1.3.1. Trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga .............................................. 28
1.3.2. Trong Bộ luật Hình sự Liên bang Đức .............................................. 31
1.3.3. Quy định trong Bộ luật Hình sự Trung Quốc .................................... 34
1.3.4. Quy định trong Bộ luật Hình sự Thái Lan ......................................... 36
Kết luận Chƣơng 1 ....................................................................................... 38
Chƣơng 2. TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI
NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG ...................................................................................................... 39
2.1. Các dấu hiệu pháp lý đặc trƣng và đƣờng lối xử lý hình sự đối với tội
vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại theo quy định của Luật
Hình sự Việt Nam .......................................................................................... 39
2.1.1. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội vi phạm quy định về quản lý
chất thải nguy hại trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam ................................... 39
lý chất thải nguy hại ...................................................................................... 86
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng đối với tội vi phạm quy định về
quản lý chất thải nguy hại ............................................................................ 92
3.2.1. Kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực áp dụng pháp luật của các cơ
quan quản lý về môi trường và các cơ quan tư pháp ................................... 93
3.2.2. Đẩy mạnh công tác phối hợp xử lý hành vi vi phạm quy định về quản
lý chất thải nguy hại ..................................................................................... 95
3.2.3. Tăng cường công tác truyền thông, phổ biến pháp luật nói chung và
pháp luật về tội phạm môi trường nói riêng ................................................ 96
3.2.4. Tăng cường ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế và hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại .................................................... 99
Kết luận Chƣơng 3 ...................................................................................... 101
KẾT LUẬN .................................................................................................. 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 104
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVMT
Bảo vệ môi trường
BLHS
Bộ luật hình sự
CTTP
Cấu thành tội phạm
vô cùng quan trọng, có tính chất sống còn không chỉ đối với Việt Nam mà còn
đối với các nước trên thế giới.
Nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là một số nước đang phát triển,
điển hình như Trung Quốc đã phải trả giá đắt khi hy sinh lợi ích lâu dài về
môi trường để đổi lấy lợi ích trước mắt về kinh tế. Rút kinh nghiệm từ một
số nước, trong chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước
đều thể hiện rõ tinh thần: "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng
trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi
trường" (Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004) của Bộ
Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước). Tiếp đến Đại hội Đảng XI, trong Chiến lược phát
triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020 nêu rõ: "Phát triển nhanh gắn liền
với phát triển bền vững… phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo
vệ và cải thiện môi trường".
Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Kiên định với mục tiêu đó, cần ý thức rõ phải có sự kết hợp chặt chẽ,
hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi
trường, phải quan tâm và hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về bảo
vệ môi trường. Trong quá trình phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tạo ra những cơ hội lớn
để đất nước phát triển nhanh, toàn diện và vững chắc hơn, bên cạnh mục tiêu
vì sự phát triển kinh tế nhanh luôn kéo theo nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi
1
phải xử lý tốt để phát triển bền vững, trong đó có vấn đề rất quan trọng là bảo
vệ môi trường. Sự phát triển kinh tế - xã hội luôn đi kèm với nó là việc gia
tăng khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hệ quả là số
lượng và tính chất độc hại của các loại chất thải nói chung và chất thải nguy
tư ồ ạt trong những năm cuối thế kỷ XX, một lần nữa, khi xây dựng BLHS
năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, các tội phạm về môi trường được đưa
ra xem xét lại để sửa đổi, bổ sung phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng ngừa
và chống tội phạm. Trong Chương XVII của BLHS đã bổ sung Điều 182a về
“Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại”.
Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, các hành vi xâm hại môi trường là
một trong những loại hành vi xảy ra phổ biến nhất ở nước ta hiện nay và các
thiệt hại do các hành vi đó gây ra có chiều hướng ngày càng trở nên nghiêm
trọng. Đặc biệt là với tính chất nguy hiểm của chất thải nguy hại thì các hành
vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại sẽ vô cùng nguy hại đến
sức khỏe và môi trường cần được ngăn chặn và xử lý nghiêm minh khi có vi
phạm xảy ra.
Tuy nhiên, thực tiễn đã xảy ra nhiều vụ việc vi phạm về quản lý chất thải
nguy hại gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe, hoa màu, gây ô nhiễm nguồn
nước, ô nhiễm đất…đã từng bị phát hiện qua các vụ việc điển hình nêu trên
nhưng thực tiễn xét xử cho thấy đến nay chưa có vụ việc nào được đem ra xử
lý hình sự.
Vậy vai trò và ý nghĩa của các biện pháp PLHS đối với đấu tranh
phòng ngừa và chống các tội phạm về môi trường nói chung và tội vi phạm về
quản lý chất thải nguy hại nói riêng phải chăng chưa được nhận thức một cách
sâu sắc cũng như chưa được đánh giá một cách đúng đắn? Hay việc quy định
cụ thể trong Điều 182a còn chưa phù hợp, khó áp dụng trong quá trình điều
tra, truy tố, xét xử trong thực tiễn? Cần sự đầu tư nghiên cứu khoa học và thực
3
tiễn để có thể sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể của Điều luật này và các
văn bản hướng dẫn có liên quan nhằm áp dụng được Điều luật này trên thực
tiễn để trừng trị và răn đe các hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải
nguy hại.
Hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội; giáo trình Luật Hình sự Việt Nam
(phần các tội phạm) của Đại học Huế do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên. Trong
các giáo trình này, các tội phạm về môi trường mới chỉ được đề cập, nghiên cứu
ở mức độ khái quát các dấu hiệu của nhóm tội phạm về môi trường cũng như
của từng tội cụ thể trong nhóm tội này.
- Trong cuốn sách "Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội
phạm", Tập VIII, của tác giả Đinh Văn Quế cũng có đề cập đến TNHS đối với
các tội phạm về môi trường. Công trình này có phân tích sâu các dấu hiệu cấu
thành tội phạm (CTTP) của các tội phạm về môi trường (mặt khách quan, mặt
chủ quan, chủ thể, khách thể).
- Trong bài viết "Chính sách hình sự đối với các tội phạm về môi
trường" GS.TSKH Đào Trí Úc, GS.TS Võ Khánh Vinh - hai nhà khoa học về
Luật Hình sự hàng đầu của Việt Nam đã đi sâu phân tích khái niệm, nội dung
và các lĩnh vực thể hiện chính sách hình sự đối với các tội phạm về môi
trường, cụ thể là chính sách về tội phạm hoá các hành vi xâm hại môi trường
và kèm theo đó là chính sách về hình sự hoá các biện pháp tác động đối với
các tội phạm về môi trường, chính sách tổ chức đấu tranh phòng chống tội
phạm về môi trường... qua nội dung bài viết người đọc một cái nhìn tổng quát
nhưng sâu sắc đối với tội phạm về môi trường.
- GS.TS Võ Khánh Vinh còn đề cập đến vấn đề TNHS đối với các tội
phạm về môi trường như khái niệm, đặc điểm, các hình thức của TNHS trong
bài viết "Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm về môi trường theo pháp luật
hình sự hiện hành; Ngoài ra, GS.TS Võ Khánh Vinh cũng có nghiên cứu về
5
"Những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tội phạm hóa các hành vi nguy
hiểm cho xã hội xâm phạm môi trường", đề cập đến vấn đề TNHS khi phân
tích cơ sở của việc tội phạm hoá các hành vi xâm hại môi trường và hoàn
thiện các quy định của PLHS về tội phạm về môi trường.
đến biện pháp xử lý, biện pháp đấu tranh.
- Tài liệu tham khảo “Công tác đấu tranh, phòng, chống vi phạm pháp
luật về BVMT” do Cục Bảo vệ môi trường phát hành năm 2007 cũng phân
tích khái quát đến các VPPL về môi trường và các tội phạm về môi trường.
- Gần đây, Luận án Tiến sĩ về "Trách nhiệm hình sự đối với các tội
phạm về môi trường" của tác giả Dương Thanh An - Tổng cục Môi trường đã
đi sâu phân tích và làm rõ vấn đề TNHS đối với các tội phạm về môi trường
rất cần được giải quyết một cách thấu đáo trên cả ba phương diện: lý luận
(nhận thức), quy định trong luật và trong cách thức tổ chức thực hiện trên
thực tế. Các yếu tố nhận diện một cách chính xác TNHS đối với các tội phạm
về môi trường, tính đặc trưng và tính phức tạp của nó trong mối liên hệ với
các dạng trách nhiệm pháp lý khác đối với VPPL môi trường.
- Phân tích các công trình nghiên cứu được liệt kê trên đây có thể thấy
phần lớn các công trình nghiên cứu đều tập trung nghiên cứu các dấu hiệu
CTTP của các tội phạm về môi trường, TNHS đối với tội phạm về môi trường
chứ chưa có đề tài, công trình nào nghiên cứu cụ thể về hành vi vi phạm quy
định về quản lý chất thải nguy hại. Đặc biệt chưa có những nghiên cứu sâu, cụ
thể về cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng “Tội vi phạm quy định về quản lý
chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam”. Điều đó càng cho thấy
tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ở cấp độ luận văn thạc sĩ mà tác giả
đang thực hiện.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tội Vi phạm quy định về quản lý
chất thải nguy hại và thực trạng xử lý các VPPL về quản lý chất thải nguy hại.
7
Qua đó kiến nghị và đề xuất những nội dung cơ bản hoàn thiện quy định của
BLHS Việt Nam hiện hành về tội này cũng như các giải pháp nâng cao hiệu
- Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn mức độ nguy hiểm của hành
vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại.
- Nghiên cứu những khó khăn, tồn tại và các nguyên nhân của khó
khăn, tồn tại trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội vi phạm quy định về
quản lý chất thải nguy hại.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về tội vi phạm
quy định về quản lý chất thải nguy hại.
- Đề các giải pháp nhằm nâng cao khả năng phát hiện, điều tra và xử lý
tội vi phạm quy định về quản lý chất thải
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và Pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà
nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể
hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết của Bộ
Chính trị như: Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15 tháng 11
năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013
về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và
bảo vệ môi trường; Chỉ thị số 48- CT/TW ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Bộ
Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống
tội phạm trong tình hình mới.
Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử
dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như:
9
phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương
pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội
học để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về quản lý
chất thải nguy hại trong Luật Hình sự Việt Nam.
Chương 2: Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trong
Luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy định của Luật Hình sự đối với tội vi phạm quy định về quản
lý chất thải nguy hại.
Phần Kết luận
11
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN
LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Một số vấn đề lý luận về quản lý chất thải nguy hại
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm về chất thải nguy hại
Hoạt động sản xuất và tiêu dùng của con người luôn làm phát sinh ra
các loại chất thải. Hiểu một cách đơn giản, chất thải là những chất không sử
dụng được nữa, do con người thải bỏ ra trong hoạt động của mình. Theo định
nghĩa tại Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2014:
“Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt
hoặc hoạt động khác” [48]; Khoản 13 Điều 3 Luật BVMT năm 2014 quy
định: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây
nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại
khác”[48]. Từ những quy định này, chúng ta có thể hiểu về chất thải như sau:
i) Chất thải trước hết là dạng vật chất chất cụ thể, tồn tại ở các dạng:
rắn, lỏng, khí.
ii) Loại vật chất này được sinh ra từ các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, sinh hoạt, hoặc các hoạt động khác do con người thực hiện.
gây độc, ngộ độc, ăn mòn, dị ứng, nhạy cảm cao, gây cháy nổ.
Nhìn chung, định nghĩa chất thải nguy hại ở các nước tuy có khác nhau
về cách diễn đạt, nhưng bản chất đều nhấn mạnh đến tính chất độc hại của
loại chất thải này đến môi trường và sức khỏe con người.
Ở Việt Nam, khái niệm chất thải nguy hại lần đầu tiên được đề cập đến
chính thức tại Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết
định số 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 16 tháng 7 năm
1999, tại Khoản 2 Điều 3 của Quy chế quy định: “Chất thải nguy hại là chất
thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại
13
trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc
tính gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại đến
môi trường và sức khỏe con người” [51].
Định nghĩa này đã được sửa đổi và diễn đạt ngắn gọn và súc tích hơn
tại Khoản 11 Điều 3 Luật BVMT năm 2005: “Chất thải nguy hại là chất thải
chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây
ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác”. Đến Luật BVMT năm 2014, khái niệm
chất thải nguy hại cơ bản kế thừa và nhấn mạnh đặc tính “lây nhiễm” lên
trước một số đặc tính khác.
Khi đối chiếu khái niệm chất thải nguy hại ở 03 văn bản pháp luật trên,
có thể dễ dàng nhận thấy về mặt hình thức thì khái niệm chất thải nguy hại
trong Luật BVMT năm 2005 và Luật BVMT năm 2014 đã rút gọn đi rất nhiều
về số lượng câu, chữ, cách diễn đạt cũng rõ ràng hơn và súc tích hơn. Tuy
nhiên, điều đó vẫn không làm giảm hay sai lệch phần nội dung mà khái niệm
muốn đề cập đến: “Chất thải nguy hại là một loại chất thải, có các đặc tính
lý, hóa hoặc sinh học có thể gây nguy hại trực tiếp hay gián tiếp khi tương tác
với các chất khác”.
Có nhiều tiêu chí để phân loại chất thải nguy hại như: Phân loại theo
khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người. Như vậy bản thân
tính nguy hại thể hiện ở chỗ chúng gây nguy hại trực tiếp cho môi trường hay
sức khỏe của con người. Ví dụ như sản phẩm bùn đỏ sau quá trình sản xuất
aluminum từ quặng bô xít có khả năng gây nguy hại rất lớn cho môi trường...
Chính vì đặc điểm này mà quy chế về quản lý chất thải nguy hại tương đối
khác biệt so với các loại chất thải thông thường khác. Bất kì quốc gia nào
cũng có những quy định hết sức chặt chẽ nhằm bảo đảm quản lý được nguồn
chất thải này.
15
Ba là, chất thải nguy hại được quản lý theo một quy chế riêng được quy
định rất chặt chẽ trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật BVMT
và BLHS... Đây là đặc điểm tương đối khác biệt so với các loại chất thải
thông thường khác. Bởi lẽ chất thải nguy hại có tính nguy hại cho con người
và môi trường cao hơn so với các loại chất thải khác. Quy chế quản lý chất
thải nguy hại là cơ sở pháp lý, là kim chỉ nam cho hoạt động quản lý đối với
chất thải nguy hại của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm hạn chế
một cách tối đa sự tác động xấu tới sức khỏe con người và môi trường của
chất thải nguy hại.
Bốn là, chất thải nguy hại cũng giống như các loại hình chất thải khác,
đòi hỏi chủ thể phát tán chất thải hoặc chủ thể quản lý phải có những nghĩa vụ
nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn. Tuy nhiên, khác với các loại chất thải
thông thường khác, chất thải nguy hại có tính nguy hiểm cao hơn nên các văn
bản quy phạm pháp luật quy định chặt chẽ hơn nghĩa vụ của các chủ thể trong
quản lý chất thải nguy hại, nếu để xảy ra những hậu quả nhất định thì sẽ phải
chịu trách nhiệm trước Nhà nước. Trong đó có hình thức trách nhiệm cao nhất
là trách nhiệm hình sự. Điều này là khác biệt so với các chất thải thông
thường, bởi lẽ đối với chất thải thông thường không có một quy chế riêng quy
phân loại, tái sử dụng trực tiếp bằng việc áp dụng mọi biện pháp kĩ thuật hiện
đại, công nghệ tiên tiến… nhằm hạn chế lượng chất thải nguy hại phát sinh
trên thực tế.
Theo quy định trên, quản lý chất thải nguy hại có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, trách nhiệm quản lý chất thải thuộc về cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quản lý chất thải nguy hại và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản lý chất thải nguy hại trong phạm
vi chức năng luật định. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm quản lý chất thải
17